Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lý

 HOME TÌM HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   HÌNH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS

 

BẠCH-LIÊN 

VÀI  BIỂU  TƯỢNG THÔNG  THƯỜNG

Đánh máy: Điểm-Dung

 

CHƯƠNG THỨ NHỨT

NHỮNG BIỂU TƯỢNG

      Tánh tình, phong tục và ngôn ngữ của các giống dân trên Địa Cầu đều khác nhau. Tôn Giáo của các nước đều có những lễ bái, nghi thức không giống nhau, và mỗi Tôn Giáo đều có cách trình bày một khía cạnh của Chơn Lý tùy theo trình độ tiến hóa của dân chúng địa phương.

 Xem xét bề ngoài gọi là Hiển thì thấy Phật Giáo, Ấn Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, Bà La Môn Giáo không thể dung hòa với nhau được, vì những tín ngưỡng bất đồng.

BIỂU TƯỢNG LÀ GÌ ?

Tuy nhiên, về phương diện Mật hay là Bí Truyền thì Chơn Lý vẫn một. Có một tiếng nói chung để những người đã đủ điều kiện học được Khoa Mật nầy để hiểu biết những sự bí mật trong Đạo Đức. Tiếng nói Đại Đồng nầy gọi là Biểu tượng hay là tượng trưng. 

SỰ ÍCH LỢI CỦA NHỮNG BIỂU TƯỢNG

 Các vị Đại Sư trình bày ra những biểu tượng để truyền Chơn Lý và những điều hiểu biết về Khoa Pháp Môn cho những đệ tử có căn lành.

 Những biểu tượng giống như những số: 1, 2, 3, 4, … bất cứ là những người nước nào có học khi dòm vô thì biết chỉ định bao nhiêu đơn vị. Biểu tượng giúp cho những người khác nước hiểu được nhau, cũng như người Việt biết chữ nho có thể dùng bút đàm với người Tàu hay Nhựt không biết tiếng Việt vậy.

 Người ta gặp những Biểu tượng in như nhau ở trong những Đạo Viện tại Trung Hoa, Ấn Độ, Ba Tư , Chaldée, Ai Cập, Âu Châu, Mỹ Châu và cho tới nhiều hải đảo của Thái Bình Dương, mặc dầu những Đạo Viện nầy đã sụp đổ, điêu tàn vì những biến cố lớn lao và những thiên tai như chiến tranh, giặc giả, đất động, núi lửa phun, đời nào cũng có và không sao tránh khỏi được tay của thời gian tàn phá, vì thay cũ đổi mới.

NGƯỜI TA THƯỜNG DÙNG CÁI CHI ĐỂ TƯỢNG TRƯNG

Muốn tượng trưng người ta thường dùng những hình tượng sau đây:

1)-  Hoặc những hình Kỷ hà học như: một chấm, một đường, hình tam giác, lục giác, hình vuông vức ……

2)-  Hoặc loại Kim thạch như vàng, kim cương.

3)-  Hoặc những hình thảo mộc như: mai, lau, sen, tòng, bá, trúc.

4)-  Hoặc cầm thú như:  Bạch hạc, Chung hoàng, Đại Bàng điểu Ga-ru da (Garoudha). Tứ bất tướng Sphinx, Rồng, Rắn, Sấu, Lang, Sói, Mãnh sư hoặc Cái Trứng.

5)-  Hoặc hình người như : Người khổng lồ, người lùn, người 8 tay, người cầm sợi dây có vòng tròn, người khảy đờn.

6)-  Hoặc những màu sắc như: màu đen, màu đỏ, màu vàng, màu tím.

Thuở xưa, bên Ai Cập có một quyển sách viết bằng màu sắc. Mỗi màu đều liên quan với hạng Tinh Linh hay Ngũ Hành (Esprits de la nature), không ai chỉ bí quyết thì không bao giờ đọc được.

NHỮNG HÌNH TƯỢNG TRƯNG SỰ SANH HÓA MỘT VŨ TRỤ

Người ta tưởng tượng sự sanh hóa một Vũ trụ bằng những hình sau đây:

     1)-  Hình thứ nhứt: Một vòng tròn trắng, phía ngoài thì vành đen.

     2)-  Hình thứ nhì: Một vòng tròn ở chính giữa có một chấm, một điểm.

     3)-  Hình thứ ba: Một vòng tròn có một đường kính nằm ngang chia vòng tròn ra làm hai phần bằng nhau.

     4)-  Hình thứ tư: Một vòng tròn có hai đường kính: một đường nằm ngang, một đường sổ đứng ngay giữa đường nằm ngang, thành hình thập tự chia vòng tròn ra 4 phần bằng nhau.

     5)-  Hình thứ năm: Vòng tròn biến mất, chỉ còn hình Thập Tự.

Ý NGHĨA NHỮNG HÌNH

     1)-   Hình thứ nhứt:  Vòng tròn tượng trưng một Vũ Trụ có giới hạn.  Lúc nầy Đức Thượng Đế chưa hiện ra.

Vòng tròn cũng tượng trưng Vô cực, vô tận, vô biên, bởi vì trong vòng tròn không có chỗ khởi điểm, không có chỗ dứt điểm.

     2)-   Hình thứ nhì:  Vòng tròn có một điểm ở chính giữa tượng trưng Ngôi thứ Nhứt của Thượng Đế (1er Logos) đã hiện ra nhưng còn ẩn khuất.

     3)-   Hình thứ  ba: Vòng tròn có đường kính nằm ngang chia vòng tròn ra hai phần bằng nhau tượng trưng Ngôi thứ Nhì (2è Logos) phân chia Âm Dương, tức là Vật Chất và Tinh Thần. Vật Chất là Âm, còn Tinh Thần là Dương.

     4)-   Hình thứ tư: Vòng tròn có hình Thập Tự ở trong tượng trưng Ngôi thứ Ba (3è Logos) hiệp nhứt Âm Dương.

     5)-   Hình thứ năm: Tượng trưng Ngôi thứ Ba bắt đầu sanh hóa.

HÌNH THẬP TỰ VỐN ĐẠI ĐỒNG VÀ XƯA NHỨT

 

 Hình Thập Tự vốn Đại Đồng và xưa nhứt, các Đại Tôn Giáo đều công nhận điều nầy.

12 HÌNH THẬP TỰ KHÁC NHAU

 Tôi thấy có 12 hình Thập Tự khác nhau, ngoài 12 hình nầy còn nhiều hình khác nữa, tôi xin nói 6 thứ thông thường được nhiều người biết mà thôi.

HÌNH THẬP TỰ CÓ MỘT ĐƯỜNG NGANG

(Croix à une traverse)

 Hình Thập Tự có một đường ngang là Thập Tự của Phúc Âm.  Có hai thứ:

          1)-   Một thứ gọi là Thập Tự Hi Lạp  (Croix Grecque)

          2)-   Một thứ gọi là Thập Tự La Tinh  (Croix Latine)

1)-  THẬP TỰ HI LẠP  (CROIX GRECQUE)

Thập Tự Hi Lạp có 4 cánh bằng nhau:

     4 cánh của Thập Tự tượng trưng 4 hành:  Địa, Thủy, Hỏa, Phong.

     4 hành nầy bị bản tánh xấu xa của con người ô nhiễm.

     4 cánh cũng tượng trưng:

Một là: Những tánh tốt của con người.

Hai là: Thiên hạ 4 phương Trời đua nhau đến nghe lời của Đức Ky-Tô dạy dỗ.

Chơn của Thập Tự trồng xuống đất chứng minh rằng Đức Tin đặt trên nền tảng vững chắc thâm sâu.

Cánh trên của Thập Tự  ám chỉ ước vọng lên tới cõi Trời.

 Bề ngang của Thâp Tự ấy là lòng nhơn từ ban rải ra cho tới những kẻ thù nghịch và thương họ.

Bề dài của Thập Tự là sự bền chí, nhẫn nại cho đến mức cuối cùng.

2)-   THẬP TỰ LA TINH  (CROIX LATINE)

Thập Tự La Tinh tượng trưng Ngôi thứ Nhì nhập vô Vật Chất. Ngài cho Vật Chất Sự Sống và dùng nó đặng tạo ra những hình thể.

Có sự liên quan giữa tượng trưng nầy với nghi thức của Giáo Hội Cổ Ai-Cập. 

3)- THẬP TỰ CÓ HAI ĐƯỜNG NGANG

Hai đường ngang của Thập Tự có hai nghĩa:

Đường trên ám chỉ câu của Pilate viết đặng nhạo báng Đấng Christ như sau đây:

     “ Jésus de Nazareth, roi des Juifs - Jésus de Nazareth là Vua của những người Do Thái ”. 

Đường dưới tượng trưng hai cánh tay của Đấng Christ giăng ra.

Thập Tự này gọi là Thập Tự Lorraine (Croix dite de Lorraine), nhưng thật sự người ta gặp nó rất nhiều ở tại Hi Lạp.

4)-  THẬP TỰ CÓ 3 ĐƯỜNG NGANG

Thập Tự có 3 đường ngang biểu hiện Hệ Thống Đẳng Cấp của Giáo Đoàn. Nó tượng trưng Ngọc Miện của Giáo Hoàng, cái mũ của Đức Hồng Y và cái mão của Đức Giám Mục.

 Kể từ thế kỷ thứ XV, Đức Giáo Hoàng, Đức Thánh Cha mới được phép mang Thánh Giá có 3 đường ngang.

 Những vị Hồng Y, những vị Tổng Giám Mục mang Thập Tự Giá có hai đường ngang, những vị Giám Mục mang Thập Tự Giá có một đường ngang.

 

5)-  THẬP TỰ AI CẬP  (CROIX ANSÉE)

 Thập Tự có quai ( Croix Ansée ) là tượng hình mà khắp Ai Cập đâu đâu cũng có trưng ra.

 Trong dấu hiệu nầy, Thập Tự dính liền với vòng tròn là hình bóng của sự sống vĩnh viễn, trường tồn bất diệt.

 Thế nên người ta để nó trên ngực của những xác ướp.

 Đường sổ đứng tiêu biểu Lực Dương tích cực hoạt động và sanh hóa

 Đường nằm ngang là hình bóng của Lực Âm thụ động.

 Thập Tự là T (Tau) giống như hai hình Tam Giác đan tréo nhau (Triangles entrelacées).

 Vòng tròn hay là hình thuẫn trên chữ T (Tau) đồng-nghĩa với con Rắn cắn đuôi tượng trưng cho vô tận vô biên.

 Đức Bà A. Besant cắt nghĩa chữ Thập Tự Ai Cập như sau đây:

 Thập Tự và vòng tròn thay đổi phương diện. Thập Tự không còn ở trong vòng tròn thời gian với 4 cánh bằng nhau. Nó bị thay thế bằng chữ T (Tau). Vòng tròn ở ngoài và trên chữ T (Tau).

Vòng tròn không còn tượng trưng cho thời gian nữa mà nó thành ra nguyên lý Âm.

Trên những bức họa trong Kim Tự Tháp (Pyramides) người ta thấy các vị Thiên Đế cầm trong tay hình nầy, nó tượng trưng sự sống.

Người ta nói khi đúng ngày giờ Hồn về nhập Xác thì một vị Thiên Đế cầm hình Thập Tự nầy kề vào môi xác ướp thì Linh Hồn nhập Vô Xác. Người chết sống dậy.

Điều nầy có thật hay không? Không biết sao mà nói. Chỉ biết có những phép tắc là bùa chú bắt buộc Hồn người chết không được đi đầu thai trong vòng cả trăm, cả ngàn năm.

Tôi xin nói: Muốn cho thây ướp sống dậy thì lúc ướp thây không moi bộ đồ lòng ra. Nếu liệng hết tim, phổi, ruột, gan thì thây ướp không bao giờ sống lại được.

Mấy chục năm trước, tôi có đọc Tạp chí Huyền Bí Học thấy có thuật chuyện vài thây ướp Ai Cập chở về Luân Đôn để trong Bào Tàng Viện.  Ban đêm họ đi, làm rầy và phá phách dữ dội. Thét quá người ta chịu không nổi, phải trả xác họ về Ai Cập.

Xác ướp đi và phá thì là một chuyện phi thường, không ai tưởng tượng được.  Đây có nghĩa là họ không phải thật là người chết.

 Trong Tập chí “Đời sống Thông Thiên Học” năm thứ ba, số 4 tháng 4 năm 1950 (La vie Théosophique 3è Année, No 4, Avril 1950) trương 86 có bài nầy “Sự chiến đấu với những thây ướp. Một cuộc thám hiểm trong Đạo Viện bí mật của Những Trinh Nữ cấm cung”.

  (Combat avec les Momies. Une expédition dans les temples mystérieux des aclacunas), tác giả là Ông Anton J. Zischaka) (Scriftenreiche der Blavatsky Lodge Dussefdorf, 11è cahier).

  Aclacumas ou recluses là những Trinh Nữ cấm cung dòng giống người Incas.  Đạo viện của họ ở tại Pérou trên dãy núi Cordillère des Andes.

 Tôi xin tóm tắt vài đoạn chánh thôi.

 Những Trinh Nữ cấm cung ở trong Đạo Viện của những người Incas, làm trung gian giữa những người Incas và các ngôi tinh tú. Trọn đời họ hiến thân cho Thái Dương và Thái Âm (Mặt Trời và Mặt Trăng).

 Chỉ có hai người được phép tới viếng thăm họ là chị hay em vua Incas và Hoàng Hậu mà thôi.

 Họ thác rồi thì người ta ướp thây họ.

ĐẠI Ý NHỮNG LỜI CỦA TÁC GIẢ

 Sau nhiều ngày tìm kiếm tôi gặp hai người hướng đạo Quetschua -  Người dẫn đường nhỏ hơn hết tên là Gualpo có thuật lại rằng Đạo Viện không phải là chỗ hoang tàn, trong đó có đầy những Trinh Nữ ngủ say chớ không phải chết đâu. Khi giông tố nổi lên thì họ sống lại và nói lớn tiếng.

 Ai đụng tới mình họ thì 12 tháng sau bỏ mạng. Trong lúc bão tố người nào vô Đạo Viện thì ngã ra chết liền. 

 Tôi vô Đạo Viện thấy một căn phòng có hai hàng ghế đá trên đó có 14 xác Trinh Nữ ngồi ngay thẳng, mặc áo màu sặc sỡ. Một số hòm không đậy nấp, trong đó có những xác ướp, đầu bịt khăn len. Hai mớ tóc đỏ phủ xuống vai, gương mặt thì phủ những lông mịn màu xanh lông két. Mắt, mũi, và miệng bịt bằng những lông trắng và đen, dường như là một thứ lụa Tàu rất đẹp.

 Bỗng chút giông tố nổi dậy, sấm sét vang trời, những xác ướp bắt đầu sống lại.  Miệng họ nhóp nhép, cặp mắt họ láo liêng, lỗ mũi họ nghiêng xuống, hai má dường như nhíu lại.

 Gualpo la lên một tiếng, tôi và anh kia chết điếng không nhúc nhích được, chỉ còn đứng xem thây ma cử động mà thôi.

 Nhưng sực nhớ lại những lời của Bác Sĩ Sandkuhler đã thuật lại về sự kinh nghiệm của ông, tôi lật đật kéo hai anh hướng đạo chạy ra ngoài.

Vừa tới hành lang thì chúng tôi bị một thứ màu hơi vàng bao phủ.

 Chúng tôi đi ngã xiêu ngã tó thoát ra ngoài được bình an. Tôi nghĩ rằng cái sân trong Đạo Viện có tẩm một chất khi mưa xuống ướt đất thì xông lên một thứ hơi độc, ngửi vào thì chết. Vì thế những người vô Đạo Viện gặp lúc giông tố nổi dậy đều bỏ mạng.

Chất đó là chất chi? Tới ngày nay cũng không ai biết .

Chính là Bác Sĩ Sandkuhler nói rằng khi ông vào Đạo Viện, một người tùy tùng của ông trong lúc kinh hoàng nắm tay một xác Trinh Nữ. Sáu tháng sau thấy một điểm đỏ nổi lên trong lòng bàn tay rồi lở lói. Chở anh vào bệnh viện của Giáo sư Valverde, người ta mới cưa một cánh tay anh, rồi sau phải cắt cánh tay kia nữa.  Đúng 12 tháng sau thì anh chết. 

 Trước khi tắt hơi anh lăn lộn, rên la thảm thiết, vật mình mẩy như điên, không thuốc chi chữa được.

 Giáo sư Valverde, Bác sĩ Sandkuhler và 12 y sĩ trứ-danh ở Nam Mỹ Châu mổ tử thi anh nầy nhưng không thấy cái chi lạ cả.

 Người ta nói những thây ướp có tẩm một thứ thuốc độc, nhưng không biết công thức ra sao và thuộc về loại nào.

 Tôi xin nói:  12.000 năm trước xứ Pérou thuộc về Châu Atlantide. Các vị Đạo Sư gọi là những vị Đạo Sư Mặt Trời. Họ có làm một cánh cửa bằng đá gọi là Cánh Cửa Mặt Trời—(Porte du Soleil) trên có khắc tấm lịch Kim Tinh chỉ rõ năm, tháng, ngày, giờ của Bầu Kim Tinh.

 Điều nầy làm cho các nhà Bác Học đời nay ngạc nhiên, không hiểu tại sao 12.000 năm trước lại có người biết được điều nầy đúng với sự khảo cứu của các nhà Thiên văn hiện kim.

 Ấy tại người ta không biết rằng: chính là 16 triệu rưỡi năm trước những vị Đại Thánh ở Kim Tinh xuống Địa Cầu lập ra Quần Tiên Hội và đào tạo những Đệ Tử. Từ đó đến nay và mai sau, cả chục triệu năm nữa, mổi Đạo cứ tiếp tục truyền bá từ đời nầy qua đời kia không bao giờ dứt.

 Tôi có tấm hình Cánh Cửa Mặt Trời song không được rõ lắm.

6)-  CHỮ VẠN  ( SVASTIKA )

 Trong hình nầy 4 cánh của Thập Tự xây tròn chung quanh trung tâm. Một phần vòng tròn dính mỗi cánh và làm ra một cái hình gọi là Svastika, người mình gọi là chữ Vạn

 Trong hình nầy lửa từ trung tâm phát ra.

 Svastika tượng trưng thần lực xây tròn sanh hóa Vũ Trụ. Lực nầy là lực tiến hóa.

 Hitler dùng chữ Vạn mà cánh trở ngược lại. Chữ Vạn nầy tượng trưng cho lực phá hoại.

Chữ Vạn cũng là biểu hiện của Ngôi thứ Ba.

 

QUYỂN SÁCH XƯA NHỨT HOÀN CẦU

 Quyển sách xưa nhứt Hoàn Cầu là quyển Thiên Thơ (livre de Dzyan). Nó ra sao, không ai biết cả, bởi vì hiện giờ nó ở trong tay Đức Ngọc Đế tại Thiên Cung Shamballa.

 Nhưng trong Tàng Thơ Viện của Tiên Thánh ở dưới đất tại Tây Tạng có một bản sao của quyển Thiên Thơ nầy.

 Bản sao làm bằng những lá buông kết lại và nhúng vào một chất chi không biết mà vô lửa không cháy, vô nước không ướt và không hề hư mục.

 Nơi trang đầu chỉ có một vòng tròn trắng.

 Ở nơi trương thứ nhì thì chính giữa vòng tròn có một cái điểm.

 Qua trương thứ ba thì có một đường kính nằm ngang chia vòng tròn ra hai phần bằng nhau.

 Tới trương thứ tư thì có hai đường kính, một cái nằm ngang, một cái sổ đứng thành hình chữ Thập chia vòng tròn ra 4 phần bằng nhau.  

 Đến trương thứ năm thì vòng tròn biến mất chỉ còn Thập Tự. (Ý nghĩa 5 hình nầy đã nói ở đàng trước rồi).

MỘT VIỆC PHI THƯỜNG

  Thí dụ: Một vị Đệ Tử được phép dở quyển Thiên Thơ ra xem, tức thì anh thấy hiện ra trước mắt, từ một khối Tinh vân đỏ rực cho tới việc một Thái Dương Hệ nầy thành hình. Ấy là một bức tranh linh động cũng như một phim hát bóng, chớ không phải một bức họa treo trên tường. Phải chăng là những Tiên Thiên Ký Ảnh hồi Hồng Mông sơ khởi in vào quyển sách. Mỗi trương đều có sự cắt nghĩa khác nhau về mỗi hình.

 Còn một việc lạ nữa là bên tai khán giả lại nghe những cuộc diễn tiến từng li, từng tí của sự sanh hóa bằng tiếng mẹ đẻ của mình.

 Nếu vị Đệ Tử là người Anh thì nghe bằng tiếng Anh, người Đức thì nghe bằng tiếng Đức, người Ý thì nghe bằng tiếng Ý vân vân.

 Người đời không ai tin được điều nầy song sự thật vẫn thế.

 Chỉ có một điều là tuy nghe và thấy không thể nào thuật lại cho đúng những việc đã chứng kiến.

6 CHƯƠNG ĐẦU CỦA QUYỂN THIÊN THƠ

 Có Vị nói rằng 6 Chương đầu của Quyển Thiên Thơ gốc ở một Dãy Hành Tinh sanh trước Dãy Hành Tinh của chúng ta truyền lại, nhưng không nói rõ là Dãy nào.  Cũng có vị nói phần nầy trạng tả tỉ mỉ cuộc diễn tiến sự sanh hóa một Hệ-thống tiến hóa mà nó còn là một quyển sách Giáo khoa dạy cách tạo lập một Vũ Trụ nữa.

 Chính là Đức Bà Blavatsky lấy những tài liệu trong quyển Thiên Thơ mà viết ra Bộ Giáo Lý Bí Truyền (Doctrine Secrète).

 Đức Bà A. Besant có nói như vầy: ai ai cũng có thể đọc quyển “Giáo Lý Bí Truyền”, nhưng chỉ có những người xử dụng được cả lý trí lẫn trực giác trong lúc đọc mới hiểu được mà thôi.  

 Người mà xử dụng được lý trí và trực giác một lượt là một vị A-Na-Hàm hay là một vị La-Hán, chớ không phải người thường như chúng ta đây.

 Nếu hiểu theo nghĩa từng câu thì sẽ lầm to.

 Một vị Cao Đồ của Chơn Sư có nói với chúng tôi câu nầy: “Bộ Giáo Lý Bí Truyền là một hầm mỏ chứa đựng những bảo vật vô tận, nhưng phải biết cách khai thác nó”. 

 

CHƯƠNG  THỨ  NHÌ

NHỮNG  BIỂU  TƯỢNG  ẤN

ĐẠI  BÀNG  ĐIỂU

Người ta nói :

     a)-   Đại Bàng Điểu sè cánh che khắp Vũ Trụ.

     b)-   Đại Bàng Điểu ngủ trên mặt nước của không gian.

     c)-   Đại Bàng Điểu lướt qua trên không gian.

 Lời nói bóng dáng nầy có ý nghĩa như sau đây:

     1)-   Đại Bàng Điểu tượng trưng Đức Thượng-Đế,

     Sè cánh che phủ không gian tức là Tâm Ngài bao phủ Vũ-Trụ, chỗ nào cũng có Ngài, có nghĩa là Vô Sở Bất Tại.

     2)-   Nước trên không gian tượng trưng Vật Chất tạo ra Vũ-Trụ. Nước là Thủy thuộc về Âm. Nói một cách khác Vật Chất thuộc về Âm.

  Ngủ trên mặt nước không gian là nói bóng dáng lúc Phản Bổn Huờn Nguyên.  Lúc nầy Đức Thượng Đế nghỉ ngơi không sanh hóa nữa, trên không gian tối tăm mù mịt, màu đêm của không gian đã buông xuống.

     3)-   Đại Bàng Điểu lướt trên không gian là nói bóng dáng về sự sanh hóa và sự tiến hóa của Vũ Trụ. Còn núp dưới cánh Đại Bàng tức là Tham thiền cách nào mà Tâm Thức của mình nhập vô Tâm Thức của Thượng Đế. Đạt được mục đích nầy thì Hành Giả ở trong Tâm Thức của Đức Thượng không biết bao nhiêu tỷ năm.

CÁI TRỨNG

Cái nguyên nhân đầu tiên không có nguyên nhân.

Các Thánh Kinh dầu ở Đông Phương hay ở Tây Phương đều công nhận như thế.  Xưa nay Chơn Lý vẫn một, bởi vì các Tôn Giáo và các Triết Học do một gốc mà ra.  Gốc đó là Quần Tiên Hội hay Thiên Đình.

Trong Đạo Đức Kinh có 4 câu đầu :

     “Đạo khả đạo, phi thường Đạo.

     Danh khả danh, phi thường Danh.

     Vô danh thiên địa chi thỉ.

     Hữu danh vạn vật chi mẫu”.

     (Đạo có thể gọi được, không phải là Đạo thường.

     Danh có thể gọi được, không phải Danh thường.

     Không tên là gốc của Trời Đất.

     Có tên là Mẹ của Vạn Vật.)

 Thật vậy, không ai biết Vũ Trụ sanh ra lần đầu tiên hồi nào? Và cội rễ của nó ở đâu? Mà bây giờ nó cứ tiến hóa mãi.

 Thánh Kinh Ấn Độ gọi Vô Cực là Cái đó, tiếng Pháp là Cela. Là sao có tên được bây giờ. Nguyên nhân đầu tiên vẫn tuyệt đối Bí mật. Lão Tử gọi là Đạo.

 Trời Đất sanh ra trước. Vạn Vật sanh ra sau.

 Về sau người ta mới đặt chuyện ngụ ngôn như sau đây:

 Trước hết có một Đại Bàng Điểu vô hình và bí mật.  Đại Bàng Điểu nầy tiếng Ấn Độ là Kalahansa, nghĩa là Con Bạch Hạc của không gian vô tận vô biên, trường tồn bất diệt, ấy là Phạn Vương Brahma.

 Trước khi mỗi Đại Kiếp bắt đầu hoạt động thì Bạch Hạc tức là Phạn Vương đẻ ra một cái Trứng Vàng. Cái Trứng nầy thành ra Vũ Trụ gồm các Thiên Thể.

Đây là nói bóng dáng.

Hi đi ti thượng c, các ging dân Trung Hoa, n Đ, Hi Lp, Syriens, Ba Tư, Ai Cp đu tin rng:  Vũ Tr tượng ra dưới hình thc mt Cái Trng. Tt c đu do Cái Trng sanh ra. Sách Tàu cũng nói:  Tri Tròn, Đt Vuông.

      Tht ra Qu Đt ca ta hình thun, ch không phi tròn quây.

      Theo Do Thái Giáo (Judaisme) Ain Souph ou En Soph - là Vô Cực.  Ain: nghĩa là trống không, không có tên, vô danh. Đức Thượng Đế là con của Ain Soph.

Nói tóm lại, cội rễ của Vũ Trụ ở trong Vô Cực.

ĐỨC THƯỢNG ĐẾ SHIVA CỠI CON BÒ TRẮNG

Trong những cuộc lễ lớn bên Ấn Độ người ta thấy một cái cộ trên đó có hình Đức Mara Déva tức là Đức Shiva ngồi trên lưng con Bò Trắng Nandi.

Tại sao Đức Thượng Đế lại cỡi con Bò Trắng?

 Người ta đều có ý nghĩ  khác nhau về hình nầy, có người thì cho là người Ấn thờ hình tượng và tin tưởng dị đoan.

 Nhưng hình nầy có nhiều nghĩa khác nhau:

     1)-  Tỷ như:  Đức Thượng Đế Shiva là hình bóng của vòm trời cao ngất vô tận ở trên đầu chúng ta.

     Con Bò Trắng là Thế Giới Phàm Tục.

     Về 2 cẳng trước:  Một cẳng tượng trưng cho Hỏa Đức Tinh Quân, chủ tể Hành Hỏa.

     Một cẳng nữa tượng trưng Vayou, chủ tế Hành Phong.

     Về 2 cẳng sau:  Một cẳng là hình bóng Mặt Trời chiếu sáng.

     Một cẳng là hình bóng của những khu vực trên không gian.

 Mặt Trời, Lửa, Gió và những khu vực trên không gian là 4 cẳng của con Bò Trắng chở  Đức Thượng Đế và tượng trưng cho những gì chịu đựng và điều khiển sự sống của Vũ Trụ hữu hình.

     2)-  Một nghĩa nữa, Đức Thượng Đế là trí Khôn.

           Con Bò Trắng là Con Ngưởi.

           Đức Thượng Đế cỡi con Bò Trắng có nghĩa là Trí Khôn ở trong mình Con Người.

     Bốn cẳng của con Bò Trắng tượng trưng:

     Cẳng thứ nhứt là Hơi Thở.

     Cẳng thứ nhì là Lời Nói.

     Cẳng thứ ba là Sự Thấy.

     Cẳng thứ tư là Sự Nghe.

 Theo Đức Sankaracharya, cũng như 4 cẳng của con Bò chở nó đi tới chỗ nào nó muốn, cũng thế đó, Trí Khôn tiếp xúc với mọi vật nhờ hơi thở, lời nói, sự thấy và sự nghe.

Bốn điều nầy đem xác thân và Linh Hồn liên lạc với Vũ Trụ hữu hình.

CÒN MỘT Ý NGHĨA CAO SIÊU NỮA

Con Bò tượng trưng Con Người.

     Bốn cẳng là 4 Trạng thái Tâm Thức.

     1)-  Trạng thái thứ nhứt: Trạng thái Tâm Thức ở tại Cõi Trần lúc còn thức đây.

     2)-  Trạng thái thứ nhì: Trạng thái Tâm Thức ở tại Cõi Trung Giới lúc chiêm bao.

     3)-  Trạng thái thứ ba: Trạng thái Tâm Thức ở tại Cõi Thượng Giới lúc ngủ say, ngủ mê man.

     4)-  Trạng thái thứ tư: Trạng thái Tâm Thức ở tại Cõi Bồ Đề lúc xuất thần.

 Bốn Trạng thái nầy ám chỉ sự tiến hóa của Con người. Con người đi lần lần từ chỗ thấp lên chỗ cao, càng ngày càng đến gần tới Đức Thượng Đế rồi nhập vô Tâm Ngài làm Một với Ngài. (Xin xem quyển “Nói chuyện Yoga” của tôi)

HÌNH ĐẠI THIÊN THẦN MAHA DÉVA BÊN ẤN ĐỘ

 Có khi người ta gặp trong những Đền thờ Ấn hình Đại Thiên Thần Maha Déva, tức là Shiva, giơ tay lên, chính giữa ngón cái và mấy ngón kia có một vòng tròn hình thuẫn như trứng gà chớ không phải tròn quay. Bàn tay làm ra hình Thập Tự, còn vòng tròn hình thuẫn ở trên Thập Tự.

 Kinh sách đời nay gọi hình nầy là biểu tượng sanh hóa, biểu tượng của sự sống.

 Nhưng thật ra không phải thế, hình nầy có một ý nghĩa cao siêu hơn ý nghĩa thấp thỏi mà người ta đã gán cho nó.

Vòng tròn hình thuẫn tượng trưng Con Mắt Thứ Ba gọi là Con Mắt của Shiva (Shi-Hoa). Con mắt nầy nhờ Tham Thiền mà mở ra.

 Đức Shiva giơ lên cao Thập Tự và sợi dây tượng trưng sự phát triển của Con Mắt Thứ Ba. Điều nầy nghĩa là sự sống đã tập trung ở trên đầu của Tu sĩ. Con Mắt Thứ Ba đã mở ra và sự tập trung vào cực điểm cao siêu bảo đảm sự thành công của Tinh Thần. Khuynh hướng trở xuống Vật chất không còn nữa. Tinh Thần đã hoàn toàn thắng trận.

 Xin giải rõ ràng rằng: trong con người có một quyền năng, nó có thể quay về sự sống thấp thỏi để sanh hóa những thân hình mới trong sự giao hiệp, hoặc quay về sự sống cao siêu để giúp con người tiến hóa mau về đường Tinh Thần. Không có thể nào áp dụng quyền năng nầy vào hai mục tiêu: cao cả và thấp thỏi một lượt được. Hễ đặng cái nầy thì mất cái kia.

 Nếu điều khiển sự sống xuống thấp đi vào vật chất rồi thì chẳng còn phương pháp nào đem nó lên Con Đường Tinh-Thần, nghĩa là bắt nó phải làm hai chuyện một lúc. Không thể được.

Lẽ tự nhiên, hễ được phần Tinh-Thần thì phải mất phần Vật Chất.

Vì thế Tu sĩ phải độc thân, trường trai, tuyệt dục. Chỉ có sự Trinh Khiết, sự Trong sạch hoàn toàn của Bản Thân mới mở được Con Mắt Thứ Ba [[1]]

 Nói tóm lại Thập Tự cung cấp cho ta phương tiện để mở cửa nơi đó ánh sáng thiêng liêng mới chiếu ra ngoài.

 Có một câu chuyện thần thoại như sau đây:

 Trong lúc Đức Shiva Tham Thiền thì Thần Ái Tình giương cung lấp tên muốn bắn Ngài. Tức thì trán Ngài mở ra, từ Con Mắt Thứ Ba xẹt ra một lằn sáng đốt tiêu Thần Ái Tình là kẻ muốn cám dỗ Ngài.

 Khi ta vào Đền thờ Ấn thấy hình Ngài cầm một vòng-tròn thì nên nhớ tới câu chuyện thần thoại nầy, chớ đừng nghe theo lời của người đời giải thích đó là biểu tượng của ái ân. Người đời còn lầm lạc lắm.

 

NHỮNG HÓA THÂN CỦA ĐỨC THƯỢNG ĐẾ VISHNOU

Những chuyện Thần Thoại Ấn có nói về những Hóa Thân của Đức Thượng Đế Vishnou.

Bởi vì Đức Vishnou là Ngôi thứ Nhì trong 3 Ngôi.

Chính là Ngài sanh hóa hình dạng các loài, cho chúng nó sự sống và bảo tồn sự sống nầy. Vì vậy luôn luôn người ta chỉ nói tới Hóa Thân của Ngài mà thôi.

Thượng Đế có mấy Hóa Thân?

Tới ngày nay thì người ta biết có 9 Hóa Thân, còn về sau không biết còn bao nhiêu Hóa Thân khác nữa.

9 HÓA THÂN CỦA THƯỢNG ĐẾ VISHNOU

     1)  Hóa Thân thứ nhứt là Con Cá.

     2)  Hóa Thân thứ nhì là Con Rùa.

     3)  Hóa Thân thứ ba là Con Heo Rừng.

     4)  Hóa Thân thứ tư là Người Sư Tử.

     5)  Hóa Thân thứ năm là Người Lùn.

     6)  Hóa Thân thứ sáu là Người Khổng Lồ phá hoại.

     7)  Hóa Thân thứ bảy là Rama.

     8)  Hóa Thân thứ tám là Krishna.

     9)  Hóa Thân thứ chín là Kalki.

Tại sao trong 9 Hóa Thân nầy có Thú Vật, có Con Người mà lại có những vị Siêu Phàm nữa?

Bởi vì 9 Hóa Thân nầy tượng trưng 3 giai đoạn tiến-hóa của Chơn Thần.

Trước hết là giai đoạn làm Thú Vật.

Kế đó là giai đoạn làm Người.

Cuối cùng là tiến lên tới giai đoạn của những vị Siêu Phàm.

GIAI ĐOẠN THỨ NHỨT:  LÀM THÚ VẬT

     1)  Cá là thú ở dưới nước.

     2)  Rùa là thú lưỡng tánh:  ở dưới nước cũng được mà ở trên bờ cũng được, tức là giai đoạn chuyển tiếp.

     3)  Heo rừng là thứ ở trên bờ.

GIAI ĐOẠN THỨ NHÌ:  LÀM NGƯỜI

     4)  Người Sư Tử là Người Thú, tức là Con Người mà còn tánh tình thú vật.

     5)  Người Lùn ở giữa người Thú và Con Người.

     6)  Người Khổng Lồ phá hoại là Người còn dã man.

     7)  Rama, vị Vương Đế là Người Lý Tưởng.

GIAI ĐOẠN THỨ BA :  HẠNG SIÊU PHÀM

     8)  Krishna, Hóa Thân của Thượng Đế.

     9)  Kalki, Hóa Thân của Thượng Đế, sẽ cỡi ngựa trắng đến với Nhân Loại.

Không phải riêng về Ấn Giáo mà Phật Giáo cũng vẫn nói về 3 giai đoạn nầy vậy.

BA GIAI ĐOẠN TIẾN HÓA TRONG TÚC SANH TRUYỆN.

 Túc Sanh Truyện có thuật 550 kiếp của Đức Thích-Ca trong 3 giai đoạn tiến hóa như sau đây:

GIAI ĐOẠN THỨ NHỨT

Trước hết Ngài đầu thai làm Thú ở dưới nước như Con Cá.

GIAI ĐOẠN THỨ NHÌ

Rồi làm Thú trên bờ như:  Con Cò (Xéo), Con Khỉ, Con Nai, Con Voi

GIAI ĐOẠN THỨ BA

Tới giai đoạn thứ ba mới đầu thai làm Người, sau tu hành Đắc Đạo thành Chánh Quả làm một vị Siêu Phàm rồi lần lên tới bực Phật Đà.

Biết như vậy rồi thì thấy: dầu ở Tôn Giáo nào Chơn Lý cũng vẫn một.

MỘT HÓA THÂN CỦA ĐỨC THƯỢNG ĐẾ VISHNOU

Trong quyển “ Sự tiến hóa Huyền Bí Nhân Loại” (Evolution occulte de l’humanité) của Đức Jinarajadasa có hình Con Cá Hoá Thân của Đức Vishnou.

Hình đó như vầy:

     Mặt người, hình cá, có 4 tay.

     Hai tay trên: Tay mặt cầm một con ốc.

     Tay trái cầm hình tam giác tréo lại với nhau.

     Hai tay dưới: Mỗi tay ôm 2 đứa nhỏ.

Dưới hình đề:

     Hóa Thân của Đức Thượng Đế Vishnou.

     Con Cá

     Un avatar de Vishnou

     Le Poisson.

( D’après Ravi Varma ).

Tại sao tới 4 tay?

Bốn tay tượng trưng Thập Tự, tức là Âm Dương hiệp nhứt đặng sanh hóa.

Còn con ốc nghĩa chi?

Thuở xưa người ta dùng con ốc làm tù-và đặng thổi.

Tiếng của tù-và tượng trưng “Âm thanh sanh hóa Vũ-Trụ Càn Khôn”.

Tiếng Pháp gọi Âm Thanh là “Le Verbe”.

Trong Thánh Kinh Cựu Ước có nói: Đức Chúa Trời phán rằng: “Phải có sự sáng thì có sự sáng”. Chính là Tiếng Nói, hay là Ngôi Lời sanh ra sự sáng.

Hình Tam giác mũi nhọn trở xuống cũng tượng trưng Tinh Thần nhập thể.

Hình Tam  giác mũi nhọn trở lên là Tinh Thần Phản Bổn Huờn Nguyên.

Hai hìnhTam giác tréo tượng trưng Vũ trụ, Tinh thần và Vật chất hay là Âm dương hòa hợp với nhau.

Hai hình Tam Giác cũng tượng trưng 3 giai đoạn tiến hóa.

     1) -  Lúc đi xuống.

     2) -  Lúc thăng bằng.

     3) -  Lúc trở lên.

Đây là nói tóm tắt, chớ hình Tam Giác tréo còn nhiều ý nghĩa khác nữa.

Hình nửa người, nửa Cá tượng trưng Thượng Đế Vishnou cứu con Người trong trận Đại Hồng Thủy.

Bốn đứa nhỏ tượng trưng nhơn loại. Chúng nó có 4 màu khác nhau hay là 4 sắc dân:

Màu trắng, màu nâu sẫm, màu vàng và màu đen.

Trong quyển “Các hạng Thiên Thần” tôi có nói thuở xưa dân chúng ở Babylone thờ Oannès tức là Thượng Đế hóa hình Cá.

Đọc bài giải về Thượng Đế Vishnou hóa hình Cá, chắc chắn Huynh thấy dân chúng ở Babylone thờ Oannès không phải là vô lý.

BỐN GIAI CẤP ẤN

Trong một chuyện cổ tích Ấn Độ người ta nói:

Những người Bà-La-Môn do ở miệng Đức Phạn Vương Brahma sanh ra; những người Sái-Đế-Lỵ (Kshattryas) từ hai vai của Ngài; những người Tỷ-Xá (Vaishyas) từ hai ngón tay cái của Ngài; còn những người Thủ-Đà-La (Sudra ou Chandala) từ hai bàn chân của Ngài.

 Câu nầy có ý nghĩa chi? Mới nghe qua thật là kỳ lạ

 Có nhiều người cười vang cho là câu chuyện khôi hài, nhưng khi hiểu được ý nghĩa bóng dáng của nó thì mới biết nó chứa đựng một Chơn Lý sâu xa.

 Những người Bà La Môn dùng lời nói mà giáo hóa tức là từ lỗ miệng của Thượng Đế mà ra.

 Những người Sái Đế Lỵ gánh vác Sơn Hà thì từ hai vai của Ngài xuất hiện rất đúng vậy.

Những người Tỷ Xá tức là hai bàn tay của Ngài làm những việc khéo léo đặng nuôi dưỡng quần chúng.

Còn những vị Thủ Đà La là hai bàn chân của Ngài không sai chút nào. Thân hình không có chân chịu đựng thì phải ngã. Xã hội không có những người Thủ Đà La thì không hoàn thành nhiều việc tốt đẹp được.

Người đặt chuyện cổ tích nầy là người rõ thông chơn lý, là người đã biết Đạo.

BỐN GIAI CẤP TRONG XÃ HỘI HIỆN THỜI

 Nhưng nếu ta suy xét cho kỹ lưỡng thì ta thấy trong xã hội của các nước toàn cầu đều có 4 giai cấp như 4 giai cấp của Ấn Độ.

     a)-  Các nhà thông thái, các nhà Bác học, các vị Giáo sư, các vị Giáo viên lo mở mang trí hóa con người, chia sớt sự hiểu biết của mình cho quần chúng: các vị Mục Sư, các vị Trưởng Lão, các vị Chức Sắc của các Tôn Giáo giảng giải Kinh Kệ, khuyên nhủ con người ăn ở theo đúng Luật Trời, lo lánh dữ, làm lành, rửa lòng cho trong sạch, há chẳng phải là những vị Bà La Môn của Ấn Độ hay sao?

     b)-  Các vị Quốc Trưởng, các vị Thủ Tướng, các Tòa Nội các, các Nghị viên tượng trưng uy quyền tối cao của Thượng Đế để ban rải sự công bình tuyệt đối cho dân lành. Những quan lại đủ cấp bực, giữ gìn guồng máy xã hội chạy cho điều hòa, dân chúng mới được an cư lạc nghiệp. Các quan Tòa, các vị Thẩm Phán cầm cân Luật pháp, đại-diện cho công lý thiêng liêng, các vị Luật sư làm sáng tỏ công lý, các vị lương y săn sóc sức khỏe cho quần chúng, các vị chiến sĩ xông pha nơi chốn rừng tên mũi đạn để bảo vệ biên cương, sẵn sàng hy sinh tánh mạng mình đặng giống nòi hưởng tự do và hạnh phúc. Mấy vị nầy há chẳng phải là những vị Sái Đế Lỵ của Ấn Độ ư?

     c)-  Những vị thương gia, những vị kỹ nghệ gia, những vị nông gia, những thợ thầy góp phần vào việc nuôi dưỡng nhân loại và cung cấp cho mọi người những món ăn và những vật dụng cần thiết cho đời sống hằng ngày. Họ liên kết các quốc gia lại với nhau, họ nắm được bí quyết làm cho mọi người được sung sướng, họ giúp cho nước nhà được cường thịnh và giữ vững địa vị trên trường Quốc Tế. Họ há chẳng phải là những vị Tỷ Xá của Cổ Ấn Độ hay sao?

     d)-  Cuối cùng là những người giúp việc trong nhà, những người khuân vác, chuyên chở, những người làm công việc cực nhọc, họ làm ra nền tảng của xã hội. Nhờ có họ làm những việc nặng nề, những việc dơ dáy như hốt rác, quét đường, nên chúng ta mới được sạch sẽ, sang trọng và có đủ ngày giờ làm những việc hữu ích khác. Họ há chẳng phải là những người Su Tra của cổ Ấn Độ hay sao?

 Vậy thì tại sao ta lại không thương họ, giúp đỡ họ, mà lại khinh rẽ họ, hà hiếp họ, trong khi họ cô đơn và đáng lẽ phải được chúng ta lo lắng tới.

 Ta nên nhớ: Nhân nào, Quả nấy. Đừng để Luật Nhân Quả dạy ta những bài học đau khổ. Trong Trời Đất không bao giờ mất cán cân công bằng đâu. Hễ khi thì mắc.

CAO HƠN BỐN GIAI CẤP ẤN

 

Có ai vượt lên 4 giai cấp đó không?

Có. Ấy là những vị Tu sĩ gọi là Sannyasi. Vị Sannyasi hy sanh đời sống của mình đặng phụng sự nhơn loại.

 Theo tôi Sannyasi là danh từ chung để ám chỉ tất cả những vị Tu sĩ chân chánh, độc thân, ngày đêm trầm tư mặc tưởng trong các Tôn Giáo: Ấn Giáo, Bà La Môn Giáo, Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, vân vân, chớ không phải chỉ để riêng cho những Yogui bên Ấn Độ mà thôi.

BA SỢI DÂY CỦA NGƯỜI BÀ LA MÔN MANG THEO HÌNH

Người Bà La Môn mang theo mình 3 sợi dây, chúng có nhiều ý nghĩa và tượng trưng.

     Một là:    Ba Ngôi của Đức Thượng Đế:

                       Brahma- Vishnou- Shiva

 

     Hai là:     Ba Ngôi của Con Người :

                       Chơn Thần.

                       Chơn Nhơn.

                       Phàm Nhơn.  

      Ba Bản tánh:

                       Bản tánh thấp thỏi.

                       Bản tánh tầm thường.

                       Bản tánh cao siêu.

      Ba Đức tánh:

                      Tư tưởng chơn chánh.

                       Lời nói chơn chánh.

                       Việc làm chơn chánh.

     Ba Tâm Thức:

                       Tâm Thức thấp thỏi.

                       Tâm Thức trung bình.

                       Tâm Thức cao siêu.

     Ba Cõi Trời:

                       Thượng Giới.

                       Trung Giới.

                       Hạ Giới.

 Khi 3 sợi dây nầy thắt lại làm một gút thì nó chứng minh rằng Con Người đã làm chủ được yếu tố quan trọng là:

                      1)-  Xác Thân.

                      2)-  Cái Vía.

                      3)-  Cái Trí (Hạ Trí) 

 

 Con người tự chủ rồi thì dùng tư tưởng, lời nói và việc làm đặng phụng sự nhơn loại và học Đạo rất mau lẹ.

 

CHƯƠNG THỨ BA

 

NHỮNG BIỂU TƯỢNG AI CẬP

I  -

 

CÁI TRỨNG 

Cái trứng cũng như Thập Tự là biểu tượng đại đồng.

 Người ta kính trọng nó như là một biểu hiệu thiêng liêng vì hình dáng của nó và cũng vì nó chứa đựng những sự mầu nhiệm.

Bên Ai Cập trong “Quyển sách của người chết” (Livre des Morts) có nói rằng:  “Sels, Đức Thượng Đế của Thời gian và của Địa Cầu đẻ ra Cái Trứng của Vũ Trụ.

Ra phát triển trong trứng của Vũ Trụ và người chết chiếu sáng trong trứng của Trất Đất nhiệm mầu, bởi vì đó là Cái Trứng của con Gà Mái nó hát.

Mặt Trời là Cái Trứng của Thượng Đế Ra.

Ngài ở trong trứng chiếu ra hào quang rực rỡ. Ngài nói: “Ta là Linh Hồn đã sanh ra Vực Thẳm không gian.-  Không ai thấy cái ổ của Ta, không ai đập bể cái trứng của Ta được. Ta là Thượng Đế”

Cái trứng và cái ngòi của nó thường được tiêu biểu bằng một cái vòng tròn có một điểm ở chính giữa.

-II- 

CON RẮN – CON RẮN UỐN TRÒN

(l’Uroeus- Serpent lové)

 

 Trong các tượng trưng Ai Cập thì con rắn liên kết chặc chẽ với Cái Trứng.

 Đức Bà Blavatsky nói: Vì đẻ ra trứng cho nên con Rắn mới thành ra tượng trưng cho Đức Minh Triết, biểu tượng của các vị Thượng Đế và những vị “Tự Sanh” (Autogénérés).

 Tại Phèbe người ta làm một Cái Trứng bằng đất sét trộn với trầm hương và vài thứ thần dược. Do một phương pháp bí truyền người ta làm cho Cái Trứng nở và một con Rắn bò ra.

 Người ta tượng trưng Kneph là Đức Thượng Đế chưa hiện ra bằng hình con Rắn quấn chung quanh một cái chậu nước, cái đầu con Rắn đưa qua đưa lại và hà hơi vô nước tức thì nước có quyền năng sanh sản.

 Ở một vài chỗ khác thì Kneph nhả ra một Cái Trứng rồi Đấng Hóa Công từ trong Trứng đó chui ra dưới hình thức một con Rắn có cánh.

 Con Rắn tượng trưng cho sự toàn thiện của Thượng-Đế và sự Minh Triết Tuyệt Đối.

Nó tiêu biểu cho sự Cải Thiện, Sự Hồi Sanh và Sự Trường Tồn Bất Diệt.

Đức Hermès Trismégiste nói: Con Rắn là sanh vật thiêng liêng hơn hết. 

CON RẮN UỐN TRÒN (L’Uroeus, Serpent love)

Con Rắn uốn tròn là hình bóng của sự Điểm Đạo và quyền năng cao siêu trong cõi Vô Hình.

Nó tượng trưng sự sống và sự thác nối tiếp nhau và cũng có nghĩa là sự hoạt động và sự nghỉ ngơi.

Con Rắn phun lửa là dấu hiệu của cõi Vô Hình trừng phạt kẻ đã được Điểm Đạo mà quên lời thề nên tiết-lộ những điều bí mật đã học hỏi.

Những người được Điểm Đạo Ai Cập đều có mang hình con Rắn trên trán. Hình nầy chứng tỏ quyền năng của người đã được Điểm Đạo, đồng thời cũng là hăm dọa phun lửa đốt cháy kẻ phản bội lời thề.

NHỮNG LỜI GIẢI NGHĨA KHÁC VỀ CON RẮN

Con Rắn lột da là hình bóng của sự hồi xuân tái diển trong mỗi chu kỳ.

Thuở xưa tượng hình con Rắn luôn luôn có 7 đầu. Mỗi đầu có nghĩa là một giống dân Chánh (Race Mère). Mỗi đầu chỉ có 7 sợi tóc. Mỗi sợi tóc ám chỉ một giống dân phụ (sous race). Mỗi đầu có 7 sợi tóc tức là mỗi giống dân Chành có 7 giống dân Phụ.

Philostrate có thuật một việc tin tưởng hão huyền như sau đây:

Dân chúng Ấn Độ và Á Rạp nói rằng:  Họ ăn tim và gan con Rắn thì nghe được tiếng của các loài thú vật, bởi vì con Rắn có tánh linh hiểu được những tiếng của các loài thú. Không nên hiểu câu nầy theo nghĩa từ chữ, nên biết câu nầy chứng minh rằng con Rắn tượng trưng sự khôn ngoan: thật sự không bao giờ có việc ăn tim và gan con Rắn mà nghe được tiếng của các loài vật.

Cũng ở Ai Cập con Rắn lại tượng trưng những lực lượng hắc ám vô hình, những quỉ quái, tùy theo đoạn văn và trường hợp.

 Bên Ấn Độ và Tây Tạng người ta gọi những vị được Điểm Đạo là Nagas tức là Rắn. Rắn đây là những người thiệt, nghĩa bóng dáng chớ không phải là con Rắn thuờng.

NHỮNG NGƯỜI THỜ RẮN

Thuở xưa có những người thờ Rắn gọi là Ophites. Ấy là những tín đồ của một Giáo Phái thuộc về Phái Duy Trí gọi là Ophite Gnostique.

-III-  

SẤU

 Người Ai Cập gọi Sấu là con Rồng của họ. Nó tượng trưng cho Trời và Đất, Mặt Trời và Mặt Trăng một lượt. Người ta hiến dâng nó cho Isis và Osiris, bởi vì nó thuộc về loài thú lưỡng tánh, ở dưới nước cũng được mà ở trên bờ cũng được.

 Theo Eusèbe thì người Ai Cập mô tả Mặt Trời là một vị hoa tiêu điều khiển một chiếc thuyền do một con Sấu kéo đi để ám chỉ sự vận chuyển của Mặt Trời trong không gian.

Con Sấu cũng tượng trưng miền Hạ Lưu Ai Cập đầy những bùn lầy.

-IV-

IBIS ( CÒ QUẤM)

Ibis, Con Cò Quấm được coi như là người bày ra Khoa Học những số, bởi vì những bước đều đặn của nó làm ra bản vị thước tấc.

Ibis là con chim được dân bổn xứ kính trọng hơn hết tại Ai Cập. Người ta hiến dâng nó cho Isis và Thot.

Ngày nay khi nói đến Con Cò Quấm Ibis thì người ta nhớ tới xứ Ai Cập hồi cổ thời với những Kim Tự Tháp, con Tứ Bất Tướng (Sphinx) và những ngôi mộ Pharaon hùng vĩ.

Trong quyển Bestiaire ou Cortège d’Orphée ông Guillaume Apolinaire có viết câu nầy:

Ibis là con chim ở trên bờ sông Nil.

Theo ông Abenephius thì Đức Hermès hóa hình con Cò Quấm đặng giữ gìn xứ Ai Cập.  Ngài dạy dân chúng nghệ thuật và Khoa Học Huyền Bí. Ngài thật hiện công việc thiêng-liêng dưới bóng trăng thanh.

     Thuở xưa ai giết con Cò Quấm thì bị tội tử hình.

-V-

CON KHỈ ĐẦU CHÓ

 

 Con khỉ đầu chó tượng trưng cho Mặt Trời và Mặt Trăng.

 Người ta vẽ hình nó ngồi gần cây cân hay là ngồi chồm hổm trên đòn cân. Nó cũng tượng trưng cho sự thăng bằng.

-VI-

CON MÈO

 

Ở Ai Cập Con Mèo là biểu tượng của Nữ Thần Isis. Isis cũng có nghĩa là Mặt Trăng nữa, như vậy Mặt Trăng thuộc về Âm. Tại chót Sistrum người ta thấy hình Nữ Thần Isis nắm trong tay một Con Mèo.

Người ta nói mắt Mèo chiếu sáng nhìều hay ít tùy theo các tuần trăng.

Thế nên có một câu chuyện thần thoại như sau đây:

Diane, Nữ Thần đi săn bắn với cung và tên, hóa hình con Mèo chun vô Mặt Trăng trốn khi bị Thần Giông Tố rượt chạy và đuổi theo.

 -VII-

CON CỪU ĐỰC (Bélier)

 

Con Cừu Đực là hình bóng của Ammon Ra (Thượng-Đế), bởi vì sức mạnh của nó tập trung trên đầu và luôn luôn nó đi trước cầm bầy.

Nó cũng tượng trưng quyền năng sanh hóa của Thượng-Đế.

 Tại Thèbes hai bên đường vô Đạo Viện Ammon người ta thấy có những hình Con Cừu rất đẹp.

-VIII- 

BÒ ĐỰC  -  BÒ CÁI

 

Bò Đực Apis được xem như là Hóa Thân của Thượng Đế. Tại Memphis người ta nuôi nó trong một Thánh Điện đặc-biệt gần bên một đồng cỏ xanh tươi, để mặc tình nó thong thả nhảy nhót.

Đến chừng nó chết, người ta làm tang lễ long-trọng và chôn cất nó trong một Đạo Viện rất xinh đẹp gọi là Serepeum

Bò Cái tượng trưng những vị Thánh Mẫu và hình bóng-nước của Trời, nguồn cội của sự phong phú.

-IX-

CON DỀU

 

Con Dều được hiến dâng cho Horius, nó là hỉnh bóng của sự Tái Sanh của các vị Thượng Đế cũng như Mặt Trời mỗi ngày luôn luôn mọc từ hướng Đông.

Theo Elien:  Những người Ai Cập thờ phượng Con Dều, bời vì trong các loài chim, chỉ con Dều thấy ánh sáng  Mặt Trời rõ ràng và không khó khăn. Không nhắm mắt nó bay lên rất cao và không bị ảnh hưởng của sức nóng.

Theo Porphyre thì con Dều rất thương con người, nó rên rỉ khi thấy một người chết nằm ngay đơ và nó lấy đất phủ trên con mắt y.

-X-

CON BÒ HUNG (Scarabée)

 

 Kinh sách Ai Cập thường nói đến con Bò Hung. Nó tiêu biểu sự trường tồn bất diệt, người ta hiến dâng nó cho Thiên Đế Atala.

 Theo Porphyre thì người Ai Cập coi con Bò Hung như là hình bóng của Mặt Trời.

 Trong quyển “Traité d’Isis et d’Osiris thì Plutarque nói rằng: Mỗi chiến sĩ đều có một chiếc cà rá chạm hình con Bò Hung trên mặt. Không có những Bò Hung cái. Tất cả đều là Bò Hung đực. Chúng để tinh trùng trong một chất rồi nắn thành một cục.  Trong những mồ mả người ta thấy những xác ướp của Bò Hung. Người ta cũng đeo nữ trang có hình Bò Hung. 

-XI-

Cây Sen

 Cây Sen là biểu tượng đại đồng. Từ đời tối Thượng Cổ, những người Aryen và những người Phật Giáo đều kính trọng nó. Người Ai Cập thấy trong Cây Sen những sự  bí mặt của Isis và Osiris.

 Bông Sen tiêu biểu Vũ Trụ trừu tượng vô hình và Vũ Trụ cụ thể hữu hình. Nó thuộc về loại lưỡng tánh: bán dương, bán âm, vừa thiêng liêng vừa phàm tục một lượt.

 Hột Sen trước khi mọc lên thì trong mầm đã có sẵn những lá tượng hình đầy đủ một cây sen nhỏ hoàn toàn.  Đây có nghĩa là những kiểu mẫu thiêng liêng của mỗi vật đều có sẵn trong cõi vô hình, trước khi chúng nó thành hình ở tại Trần Thế.

Cây Sen tiêu biểu đời sống của con người và cũng là đời sống của Vũ Trụ nữa.  Những nguyên tố của cả hai đều in như nhau và cả hai đều phát triển theo một chiều hướng.

Rễ của Cây Sen ăn sâu dưới bùn tượng trương đời sống vật chất tại Cõi Trần.

Cọng Sen ở trong nước là hình bóng đời sống tại cõi Trung Giới.

Bông nở trong không khí tượng trưng trạng thái thiêng liêng ở mấy cõi cao.

Theo Kinh Ấn Độ, Thượng Đế Vishnou từ trong trứng sanh ra tay cầm một Bông Sen.

Trong quyển Thi Ca Ramanaya, trạng thái Âm của Vishnou là Lashmi cũng gọi là Padma tức là Bông Sen.

 Người ta cũng tượng hình Lashmi ngồi trên Bông sen nổi bình bồng trên mặt nước [[2]] lúc Vũ Trụ mới sanh ra.

 Ở Ai Cập người ta thường tượng hình Nữ Thần Isis tay nầy cầm một Bông Sen, tay kia cầm một vòng tròn và một Thập Tự có quai (Croix Ansée).

Trong “Quyển sách của những người chết” người ta tượng hình Thượng Đế bằng một cái đầu ló ra khỏi Bông Sen và thốt mấy lời nầy:

“Ta là Bông Sen Tinh Khiết xuất hiện từ những vị hào quang rực rỡ. Ta đem thông điệp của Horus. Ta là Bông Sen tinh khiết từ những cánh đồng của Mặt Trời đến đây.”

 (Je suis le pur Lotus émergeant de ceux qui sont lumineux. J’apporte les messages d’Horus le pur Lotus qui Vient des champs solaires).

Người ta cũng vẽ hình Isis, Osiris, Tứ Đại Thiên Vương và các vị Phật ngồi trên tòa sen.

Những nước theo Phật Giáo đều quí trọng Bông Sen.

 

CHƯƠNG THỨ TƯ

 

CON SPHINX- TỨ BẤT TƯỚNG.

 Nói đến những biểu tượng, những tượng trưng, những lời lẽ bóng dáng thì phải nói đến Con Tứ Bất Tướng ở Ai Cập và Con Tứ Bất Tướng ở Hi Lạp.

SPHINX LÀ THỨ GÌ?

Sphinx là những Sư tử nằm, ngước mặt ngó lên, hoặc đầu người gọi là Androsphinx, hoặc là đầu cừu đực gọi là Criosphinx.

Người ta chạm chúng nó trong những đá hoa cương, đá sa thạch, hoặc đá vôi.

Thường thường hình Sphinx lớn thì để ở trước những Đạo Viện theo hai bên đường đi vô cánh cửa chánh, còn những hình nhỏ thì để ở trong đền thờ.

 

CON SPHINX Ở GIZEH

Khi nói đến Sphinx thì người ta liên tưởng đến Con Sphinx Tứ Bất Tướng ở cao nguyên Gixeh bên Ai Cập.

Sao gọi là Tứ Bất Tướng?

Ấy là hình một con quái vật, đầu người, hình bò cổ, (taureau) có chỗ nói mình sư tử, móng vuốt sư tử, cánh phụng hoàng xếp lại.

Cao 19 thước 97.

Dài 72 thước từ cái đuôi cho tới cẳng trước.

Mặt cao 5 thước, rộng 4 thước 15.

 Lỗ tai cao 1 thước 79.

 Cái miệng rộng 2 thước 32.

 Cái đầu và thân hình chạm trong đá, cẳng và phía trước ngực không chạm trong đá mà làm bằng gạch, cho nên đã hư hoại. Phải nhiều phen sửa chữa.

Phân nữa lỗ mũi bị bể, cái miệng sứt mẻ nhiều. 

Người Ai Cập đổ lỗi cho lính Nã-Phá-Luân (Bonaparte) bắn. Các nhà khảo cổ cho rằng lính Dân vệ Thổ và Ai Cập hồi thế kỷ thứ 18 lấy lổ mũi của Tứ Bất Tướng làm cái bia để tập bắn.

Một sử gia Á Rập lại nói năm 1379 một Tù Trưởng Á Rập cuồng tín vì quá trung thành với Thượng Đế nên đập bể lỗ mũi của con Sphinx.

Nhưng sự thật biết đâu sự hư hoại đã không xảy ra trước khi lính Dân vệ Thổ và lính Pháp đến Ai Cập.

VỊ TRÍ 

Con Sphinx nằm day mặt về hướng Đông, con mắt ngước lên ngay chỗ mặt trời mọc và cách xa Kim Tự Tháp Khéphren lối 500 thước.

 

TƯỢNG TRƯNG

Tới ngày nay cũng chưa ai biết Con Tứ Bất Tượng tượng trưng cái chi? Và có ích lợi gì?

Có nhiều sự giải thích, xin kể ra vài cái chánh như sau đây:

     1)-  Nó tượng trưng cho quyền uy rộng lớn và kinh khủng của những vị vua Pharaons.

     2)-  Người Á Rập gọi nó là Aboul Hol, người gieo rắc sự hãi hùng.

     3)-  Người ta gọi nó là Hou de Horem Kou, nghĩa là người canh chừng mặt trời mới mọc.

     4)-  Hoặc cũng gọi nó là Hình bóng Harmakouti, người Hy Lạp gọi nó là Harmakis, nghĩa là ánh sáng bình minh xua đuổi đêm tăm tối.

     5)-  Nó tượng trưng Tứ Hành: Địa, Thủy, Hỏa, Phong.

     6)-  Và 4 Giống Dân Chánh:  Giống thứ Nhứt, Giống thứ Nhì, Giống thứ Ba, Giống thứ Tư.

     7)-  Nó cũng nhắc nhở 4 đức tánh của người học Đạo: 

           1*  Đầu người với cặp mắt nhìn sắc bén là: Hiểu biết (Savoir).

           2* Thân mình bò cổ siêng năng là: Quyết muốn (Vouloir).

           3*  Móng vuốt Sư tử là:  Gan dạ, Quả cảm (Oser).

           4*  Hai cánh Phụng hoàng xếp lại là: Nín thinh (Se taire).

 Phải chăng Con Tứ Bất Tướng nói rằng:

 Sức mạnh của con Sư Tử liên kết với Trí Khôn trên đầu người và sự trầm lặng của Thiên Thần có nghĩa là Con Người chiến thắng con thú ở trong lòng mình và điều khiển nó.

3.400 năm trước ông Thoumès IV cho khắc trên một cái bia đá 4 thước 3 bề cao dựng trước ngực Con Tứ Bất Tướng Sphinx mấy câu sau nầy:

Một phép mầu huyền bí trấn giữ nơi đây từ lúc khởi nguyên, bởi vì gương mặt của Con Tứ Bất Tướng tượng trưng Khépera, vị thần của sự Trường Sanh Bất Tử, cao cả hơn hết; ấy là Đấng đáng tôn kính an nghỉ nơi đây. Dân chúng Memphis và trong khu vực nầy đều giơ tay lên cầu nguyện trước mặt Ngài.

Có lẻ vì thế Ông Walis Budye, vị bảo thủ trứ danh những đồ cổ Ai Cập tại Bảo Tàng Viện British Museum ở Anh Quốc có nói như vầy:

 “Con Tứ Bất Tướng xua đuổi những ma quái của những ngôi mộ ở chung quanh”.

 Mỗi người đưa ra một lý lẽ, tuy khác nhau, song đều có ý nghĩa.  Cái lý do chánh chưa biết ra sao?.

Người ta chỉ biết chính giữa hai chơn của Con Tứ Bất Tướng Sphinx có đường hầm thông thương với Đại Kim Tự Tháp.

Con Tứ Bất Tướng Sphinx chạm trổ sau hay là một lượt với lúc xây Đại Kim Tự Tháp và Đại Kim Tự Tháp dựng lên hồi nào, tưởng cũng nên tìm hiểu lý do Huyền Bí.

MỘT CÁI DĨA TRÒN BẰNG VÀNG ĐỂ

TRÊN CÁI MŨ CỦA CON TỨ BẤT TƯỚNG

 Thuở xưa trên chót mũ của Con Tứ Bất Tướng có một dĩa tròn bằng vàng y. Lúc mặt trời mọc lên, một tia sáng đầu tiên dọi ngay vô dĩa làm cho cái mặt của Sphinx chiếu sáng rực rỡ, giống như một vị Thiên Thần mang trên đầu một vòng hào quang đỏ rực như lửa.

BỊ CÁT CHE LẤP

Con Tứ Bất Tướng nhiều phen bị những trận bão cát thường xảy ra ở trong sa mạc Sa-ha-ra (Sahara) che lấp. Bảy lần bị chôn vùi dưới cát, bảy lần được moi lên.

Bảy vị ân nhân của Con Bất Tướng là:

     1)-  Vị thứ nhứt là Vua Pharaon Khrafa, 5.000 năm trước.

     2)-  Vị thứ nhì là Vua Thoumès IV.

     3)-  Vị thứ ba là Hoàng Đế Marc Aurèle nổi tiếng là một vị vua rất thông minh.

     4)-  Vị thứ tư là Đại Úy (Capitaine) Caviglia, người Ý.

     5)-  Vị thứ năm là nhà khảo cổ Pháp Auguste Mariette, người sáng lập Bảo Tàng Viện Ai Cập.

     6)-  Vị thứ sáu là Ông Maspéro.

     6)-  Vị thứ bảy là Chánh Phủ Ai Cập mới vài chục năm nay.

Khi cho đào sâu xuống thì người ta thấy con Tứ Bất Tướng nằm trên một cái nền đá, trên nền có lót những tấm đá lớn.

SA MẠC SAHARA XƯA KIA LÀ MỘT CÁI BIỂN

Nếu ta tự hỏi tại sao người ta dựng Kim Tự Tháp và Con Tứ Bất Tướng tại một đồng cát quạnh hiu thì ta lấy làm ngạc nhiên vô cùng. Vấn đề nầy rất dễ giải quyết khi biết rằng mấy ngàn năm trước sa mạc Sa-ha-ra (Sahara) vốn là Đại hải. Algérie và Maroc bây giờ là những cù lao. Lúc đó chưa có tên Địa Trung Hải.

Năm 75.025 trước Chúa Giáng Sinh, Châu  Ắt-Lăn-Tích bị Thiên Đình nhận xuống biển Đại Tây Dương vì tội ác của những người Bàn Môn Tả Đạo gây ra trong thời kỳ 50.000 năm mà không hối cải.

Biển Sa-ha-ra lần lần trở nên cạn khô rồi trở thành sa mạc và dính liền ở Maroc và Algérie.

Theo Luật Tiết điệu cũng có thể gọi là Bù Trừ, chỗ nầy sụp xuống thì chỗ khác lồi lên đặng giữ thăng bằng.

 Trước đây tôi thường nói Đại Kim Tự Tháp đã xây cất lối 80.000 năm trước, sau Khéops mới khắc tên vô đó, chớ không phải vốn của Ngài dựng lên.

 Trong quyển “Ai Cập Huyền Bí” (L’Egypte secrète) Ông Paul Brunton có nhắc lại chuyện nầy:

 Khi ông Platon qua học 13 năm tại trường Héliopolis bên Ai Cập thì các Đạo Sư, Thầy của ông tiết lộ cho biết nhiều việc Bí Truyền. Trong đó có việc Đại Kim Tự Tháp xây ở Trung Tâm châu Atlantide, nền nóc bằng của nó có một đền thờ Mặt Trời.

 Ngày nay người ta lên tới chót Kim Tự Tháp và thấy nóc của nó bằng và quả thật có một đền thờ nhỏ.

Các Nhà Huyền Bí Học đều biết rằng Châu Phi, Châu Mỹ bây giờ khi xưa là một phần đất của Châu Atlantide.

Vậy thì con Tứ Bất Tướng Sphinx cũng có thể đã có từ 80.000 năm rồi, chớ không phải mới có 5.000 năm nay.

 Nói cho đúng Kim Tự Tháp là một Tòa Khoa Học vĩ đại của các vị Đắc Đạo ở Châu Atlantide dựng lên để truyền lại những sự bí mật cho đoàn hậu tấn.

 Thời gian qua, nhơn loại sau khi tiến hóa cao rồi sẽ lần lần tìm lại được những điều đối với chúng ta thật là phi thường.

NHỮNG BIỂU TƯỢNG KHÁC

TRÁI TIM - MẶT TRĂNG -  RỒNG - TRÁI CẤM

TRÁI TIM

Thuở xưa, trên bàn thờ của một Thánh Điện bí mật nhứt tại Kim Môn Thành (Cité aux portes d’or), kinh đô của Châu thứ Tư là Châu Atlantide (Ắt-Lăn-Tích) có một cái hộp bằng vàng khối hình trái tim khóa chặc. 

Duy có một mình vị Đại Sư coi giữ Thánh Điện biết cách mở ra mà thôi.

Hộp nầy gọi là Trái Tim của Thế Giới.

Nó chứa đựng những bí quyết hết sức thiêng liêng và rất nhiều tượng trưng liên quan đến bí quyết nầy.

Người Ắt-Lăn (Atlantide) biết rằng: mỗi nguyên tử đều có những mạch động nhảy như trái tim.

Họ cũng nói Mặt Trời có những mạch động. Người ta thấy những mạch động nầy trong lúc Mặt Trời có những chấm đen hiện ra. Những chấm đen nầy gọi là Nhiệt Ban (Taches solaires).

 Họ cũng nói rằng Trái Đất cũng thở như chúng ta và mỗi ngày mặt đất cũng dời đi đều đều, cũng như nhịp thở của trái tim.

MẶT TRĂNG

Mặt Trời gọi là Thái Dương tượng trưng cho Dương.

Mặt Trăng gọi là Thái Âm tượng trưng cho Âm.

Thuở xưa nhiều nước thờ Mặt Trời và Mặt Trăng.

Hơn nửa thế kỷ nay, tôi có đọc một đoạn kinh nhớ mày mạy là:

     “Nam mô Thái Âm Bồ Tát hướng đông lai ….”

     Mặt Trăng là một Bầu Hành Tinh chết không có sanh vật trên đó. Tại sao lại thờ Mặt Trăng?

Có phải là một chuyện dị đoan không?

Không phải là chuyện dị đoan. Điều đó có một lý do Huyền Bí.

Mặt Trăng là một Bầu Hành Tinh khô khăn. Ban ngày Mặt Trăng cũng hết sức lạnh. Tàu gọi Cung Trăng là Quảng Hàn Cung rất đúng. Chắc chắn danh từ nầy vốn do một nhà Đạo đức đặt ra, chớ người thường không biết được.

Mặt Trời cho sự sống toàn cả Thái Dương Hệ, nhưng Mặt Trăng truyền sự sống cho các loài trên Địa Cầu nầy, xin nhớ riêng Địa Cầu nầy mà thôi

Cắt nghĩa ra rất khó và rất dài. Tôi xin tóm tắt như sau đây:

Thái Dương Hệ của chúng ta gồm 7 Hệ Thống Tiến-Hóa hữu hình (Systèm d’é volution).

Ấy là :

     1)-  Hệ Thống Kim Tinh (Vénus).

     2)-  Hệ Thống Mộc Tinh (Jupiter).

     3)-  Hệ Thống Thủy Vương hay Hải Vương Tinh (Neptune).

     4)-  Hệ Thống Hỏa Vương Tinh (Vulcain).

     5)-  Hệ Thống Thổ Tinh (Saturne).

     6)-  Hệ Thống Thiên Vương Tinh (Uranus).

     7)-  Hệ Thống Địa Cầu của chúng ta (Terre).

 Mỗi Hệ Thống Tiến Hóa gồm 7 Dãy Hành Tinh (Chaine planétaire), mỗi Dãy Hành Tinh gồm 7 Hành Tinh, có cái hữu hình có cái Vô hình.

 Hiện giờ Dãy Địa Cầu của chúng ta là Dãy thứ Tư.  Ba Dãy trước tan rã đã lâu rồi.

 Dãy thứ Ba gọi là Dãy Mặt Trăng (Chaine lunaire), bởi vì nó còn để lại một di tích là Mặt Trăng bây giờ. Mặt Trăng khi xưa là Bầu Trái Đất của Dãy thứ Ba.

 Khi Dãy Mặt Trăng gần tan rã thì tất cả sự sống trên Dãy Mặt Trăng đều truyền qua Dãy Địa Cầu của chúng ta.

Nhơn vật ngày nay ở Địa Cầu khi xưa đều có ở Mặt Trăng lúc còn tiến hóa thấp.

Thí dụ như:

     Loài Kim Thạch ở Địa Cầu bây giờ khi xưa là loài Tinh Chất thứ Ba ở Dãy Mặt Trăng.

     Loài Thảo Mộc ở Địa Cầu bây giờ khi xưa là loài Kim Thạch ở Dãy Mặt Trăng.

     Loài Cầm Thú ở Địa Cầu bây giờ khi xưa là loài Thảo Mộc ở Dãy Mặt Trăng.  

     Loài Người ở Địa Cầu bây giờ khi xưa là Loài thú ở Dãy Mặt Trăng. Cũng có những người ở Mặt Trăng bị bỏ lại trong sự Phán Xét Cuối Cùng. Họ phải qua Trái Đất đầu thai làm người đặng học hòi và tiến hóa thêm cho tới khi được 5 lần Điểm Đạo làm một vị Siêu Phàm. 

 Hơn nữa những vị Đắc Đạo thành Chánh Quả ở Dãy Mặt Trăng qua giúp đỡ nhơn vật ở Dãy Địa Cầu chúng ta. Người ta gọi các Ngài là Barishad Pitris.

 Chính là Các Ngài sanh hóa thân hình của Giống Dân thứ Nhứt tại Địa Cầu chúng ta.

Rồi mỗi khi một Giống Dân sanh ra, các Ngài đều có xuống giúp đỡ Đức Bàn Cổ của Giống Dân đó, xong rồi thì các Ngài  trở về Thượng Giới.

Trong hai quyển:

     1)-  Sự sanh hóa các Giống Dân trên Dãy Địa Cầu và

     2)-  Các Hạng Thiên Thần.

 Tôi có nói về điều nầy. Bởi vì sự liên quan mật thiết giữa Mặt Trăng và Sự Sống tại Trái Đất, cho nên khi người ta mới thờ Mặt Trăng. Thờ đây không phải là tôn thờ Bầu Hành Tinh chết.  Nhưng mà tỏ dấu biết ơn các vị Tiên Thánh khi xưa ở Mặt Trăng đã giúp nhơn loại ở Địa Cầu chúng ta.

 

MẶT TRĂNG VỪA LÀ ÂM VÀ VỪA LÀ DƯƠNG MỘT LƯỢT

Theo nhiều nhà truyền giáo Thiên Chúa thuở xưa như hai ông Origène và Clément d’Alexandrie thì Mặt Trăng là biểu hiệu linh động của Jehovah, Jehovah là Đức Chúa Trời của những người Hy-Bà Lai (Hébreux). Như thế Mặt Trăng thuộc về Dương.

Cũng tại Ai Cập, Mặt Trăng là Con Mắt của Osiris mà cũng là Con Mắt của Isis nữa, tức là vừa Dương, vừa là Âm.

Những người Chaldéens thờ Mặt Trăng dưới nhiều danh từ khác nhau, những danh từ nầy chỉ định Dương cũng có mà Âm cũng có nữa.

Người Ấn tự hào mà gọi mình là dòng dõi Suryavanshas và Chandravanshas của những Triều đại Thái Dương (Mặt Trời) và Thái Âm (Mặt Trăng) (Dynastie solaire et lunaire).

Nói tóm lại, có nhiều nước nói Mặt Trăng thuộc về Dương nên gọi là:

     Vua Soma của Ấn Độ.

     Sin của người Chaldéen.

 Nhiều nước khác nói Mặt Trăng thuộc về Âm nên gọi là: Diana, Luna, Illithyia, Artémise, vân vân.

RỒNG

 Rồng cũng tượng trưng cho sự Minh Triết và những vị được Điểm Đạo cao cấp thuở xưa.

Những vị Đại Sư ở Babylone, Ai Cập, những vị Phéniciens đều xưng mình là con của Rồng hay của Rắn.

Biểu tượng Rồng hay Rắn đã có từ Châu thứ Ba Lémurie rồi truyền qua Châu thứ Tư Atlantide cho tới ngày nay.

Người ta cũng gặp biểu tượng Rồng ở Mễ Tây Cơ và khắp cả Mỹ Châu. Điều nầy không có chi là lạ, bởi vì Mỹ Châu xưa kia là một phần của Châu Atlantide.

LƯỠNG LONG TRANH CHÂU

Thật ra người ta chưa thấy con Rồng ra sao cả.

Người Tàu tưởng tượng vẽ ra con Rồng rồi nói có Rồng đen, Rồng vàng, Rồng bạch, Rồng đỏ và Rồng xanh, tức là Ngũ Long.

Trong Đình thường có những cột chạm hình Lưỡng Long tranh Châu, mà Trái Châu là cái gì quí báu mà hai con Rồng phải tranh giành. Ăn được không?

 Thật sự Lưỡng Long tranh châu là hình bóng của luồng Hỏa Hầu Cung-đa-li-ni (Kundalini) đi lên tới đỉnh đầu (Xin xem hình Caducée de Mercure).

  Luồng Hỏa Hầu đi theo đường gân bên trái xương sống gọi là Y-Da (Ida) từ xương mông lên đỉnh đầu, màu đỏ sậm.

 Luồng Hỏa Hầu đi theo đường gân bên mặt xương sống gọi là Banh-ga-la (Pingala) từ xương mông lên đỉnh đầu màu vàng.

Luồng Hỏa Hầu đi theo đường gân ở chính giữa xương sống từ xương mông lên đỉnh đầu gọi là Sút-hum-na (Sushuna), màu xanh đậm

Luồng Hỏa Hầu đi như con Rắn bò nên gọi là Hỏa Hầu hay Hỏa Xà.

CÂU CHUYỆN ĂN TRÁI CẤM

 Tôi xin tóm tắt câu chuyện mà thôi. Quí huynh muốn rõ nhiều nên xem “Sáng Thế Ký” mấy đoạn  :

-    Cảnh vườn Eden.

-    Thiết lập Lễ Hôn nhơn.

-    Loài người bị cám dỗ và sa vào tội lỗi.

TỘI TỐ CÔNG

Trong Vườn Ê-den (Eden) có hai cây thật là kỳ lạ: Một cây ăn trái thì được trường sanh bất tử, còn cây ăn trái thì biết được điều thiện, điều ác.

 Đức Chúa Trời cấm A-đam không cho ăn trái của hai cây nầy, tức là không muốn cho con người mở trí đặng trở nên khôn ngoan.

 Một ngày kia, Bà Ê-va (Eve) bị con Rắn cám dỗ nên ăn trái cấm và hái luôn một trái đưa cho chồng ăn.

HAI CON MẮT MỞ RA

     “Đoạn mắt hai người đều mở ra”, biết rằng mình lõa lồ, bèn lấy lá cây và đóng khố che thân. 

CON MẮT NÀO MỞ RA

Đoạn nầy làm cho người biết suy nghĩ phải ngạc nhiên.

Ăn trái cấm rồi con mắt mở ra, thấy mình trần truồng, tức là trước khi ăn trái cấm, cặp mắt phải nhắm lại, nghĩa là hai ông bà phải mù quáng.

Nhưng trái lại, cặp mắt của ông bà vẫn mở ra, vẫn sáng tỏ, bởi vì hai ông bà thấy Đức Chúa Trời, thấy cảnh vật, thấy con Rắn, thấy trái cấm, chớ không phải người đui.

Tại sao không thấy mình lõa lồ?

Hai việc nầy trái ngược nhau vô cùng.  Nếu hiểu theo nghĩa đen của câu văn.

CON MẮT THỨ BA

Vậy thì con mắt nào mở ra sau khi ăn trái cấm?

Ấy là Con Mắt thứ Ba, gọi là Hạch Óc hay Tùng Quả Tuyến (Glande pinéale). Nó liên quan mật thiết với Cái Trí. Nó mở ra tức là nó hoạt động, nó giúp con người phân biệt được lẽ tà chánh.

Ở Ấn Độ người ta gọi nó là Con Mắt của Si Hoa (Shiva) như tôi đã nói trước đây.

Con Rắn cám dỗ Bà Ê-Va (Eve) ăn trái cấm có nghĩa bóng dáng là: Người biết Đạo chỉ bảo cho Giống dân đầu tiên phương pháp mở mang trí hóa để trở nên khôn ngoan.

 Con Rắn tượng trưng cho người biết đạo.

 Ông A-đam và Bà E-va ( Eve ) tượng trưng giống dân đầu tiên gọi là Race adamique.

 Ăn trái cấm tượng trưng phương pháp luyện tập mở mang Cái Trí.

 Nếu hiểu theo nghĩa từ chữ thì rất kỳ cục và sẽ lầm ngay.

 Riêng tôi, tôi không tin có Tội gọi là Tội Tổ Tông.

 Quả ai làm nấy trả. Nếu có Cộng Nghiệp là tại khi xưa cả thảy đồng phạm chung một tội với nhau, cho nên ngày nay phải thanh toán một lượt những món nợ nần.

 

CHƯƠNG THỨ NĂM

 

NHỮNG BÍ PHÁP Ở CỖ HI LẠP

 Thuở xưa ở Hi Lạp có những Đạo Viện dạy những Giáo-Lý Huyền Bí Học thuộc về cấp bực sơ đẳng.

Những Giáo Lý nầy chia ra làm hai phần gọi là:

Những Hạ Bí Pháp (Mystères mineurs) và

Những Thượng Bí Pháp (Mystères majeurs).

Trong những lớp Hạ Bí Pháp sanh viên học hỏi một cách tổng quát:

     a)-  Cõi Trung Giới.

     b)- Tình trạng Con Người sau khi bỏ xác do tánh tình con Người hồi còn sanh tiền tạo nên.

 

 Trong những lớp Thượng Bí Pháp người ta dạy sanh viên về cõi Thượng Giới, hầu biết được đời sống của con Người, sự học hỏi và những nguyện vọng của Con Người hồi còn ở thế sanh ra những hậu quả nào trên Thiên Đường.

 Người ta dạy Hạ Bí Pháp trong một chỗ riêng biệt gọi là Agra, còn những sanh viên được Điểm Đạo về Hạ Bí Pháp có tên là Mystes.

Còn những Thượng Bí Pháp cử hành tại một Đạo Viện lớn gọi là Đạo Viện Eleusis.

Eleusis là tên một cái thành tại Attique (Athènes) gần ngọn núi Kerata trên đó có đền thờ Cérès, Nữ-Thần Canh Nông, ấy là chỗ hành hương của Thiện nam Tín nữ.

 Những sanh viên được Điểm Đạo về Thượng Bí Pháp gọi là Epoptai, nghĩa là cặp mắt đã mở ra.

Điều nầy làm cho chúng ta nhớ tới việc Bà Eve và Ông A đam nhờ ăn trái cấm con mắt mới mở ra, nghĩa bóng là Cái Trí mở mang, Con Người biết phân biện lẽ tà chánh, điều thiện ác.

Biểu hiện của những vị Epotai là lông cừu màu vàng (Toison d’or), tượng trưng Cái Trí. Chúng ta nên nhớ rằng trong hào quang Con Người, màu vàng tượng trưng sự hoạt động của Cái Trí.

 Nói cho đúng, Hạ Bí Pháp và Thượng Bí Pháp cũng còn là Khoa Công Truyền để dạy lý thuyết cho những người thích Huyền Bí Học mà thôi.

 Tuy nhiên trong Đạo Viện dạy Hạ Bí Pháp hay là Thượng Bí Pháp vẫn có một Trường Bí Mật gọi là Trường Bí Giáo để đào tạo Đệ Tử Chơn Sư.

 Những Giáo Lý Bí Truyền tuyệt đối không hề bị tiết lộ, Sanh viên thề nặng không bao giờ phản bội lời hứa của mình.

Khi vị Viện Trưởng thấy Sanh viên nào lòng nhơn mở rộng, lo phụng sự không vì tư lợi thì thâu nhận anh vào Trường Bí Giáo đặng dạy dỗ.

Sanh viên học được cách Xuất Vía qua cõi Trung Giới học hỏi và kinh nghiệm rồi sau xử dụng Hạ Trí lên cõi Thượng Giới.

Những điều anh thấy và thực hành, chừng nào nhập xác, tỉnh dậy, anh đều nhớ lại hết, nên tiến rất mau.

Cũng phải nói rằng: Số sanh viên thì đông mà số người được tuyển chọn rất ít, trong 1.000 người chưa ắt có đuợc một người sống đúng với Đạo Lý, xưa cũng vậy, nay cũng vậy [[3]] .

Có sách nói: Có những cuộc lễ người ta thấy lối 30.000 người được Điểm Đạo hội hợp với nhau. Mấy vị nầy là sanh viên của Hạ Bí Pháp và Thượng Bí Pháp, chớ không phải là những vị Tu-đà-hườn hay Tư-đà-hàm đã được Quần Tiên Hội thâu nhân làm Nhân viên sau khi Điểm Đạo.

Có những vị Vua Chúa được thâu nhận vào những Trường Hạ Bí Pháp và Thượng Bí Pháp, không phải tại họ mộ Đạo mà họ có tánh hiếu kỳ.

Các vị Đạo Sư không dám cãi lịnh họ, nếu không tuân lời thì e cho phải bị đem xử tử ngay khi đó, nhứt là đối với những vị Vua La Mã quyền hành tuyệt đối và hung bạo lạ thường.

NHỮNG LỜI NÓI BÓNG DÁNG VÀ TƯỢNG TRƯNG

Về những lời bóng dáng và tượng trưng thì nhiều lắm, tôi xin kể vài chuyện thôi, bởi vì chúng rất khó hiểu cho những người mới tìm Chơn Lý.

-I-

 

BACCHUS

Trước hết tôi xin nói về Bacchus.

Có phải Bacchus là Tửu Thần (Thần Rượu) hay không?

Ở đây không phải là Tửu Thần đâu, ấy là Đức Thái Dương Thượng Đế, xin gọi là Thượng Đế cho dễ hiểu.

Theo chuyện Thần Thoại Hi Lạp thì lúc còn nhỏ Bacchus [4](1) (1) Có chỗ nói là Dyonysos. bị Thần Giông Tố Titans thổi tới xé tan từng mảnh. Rồi về sau những mảnh nầy ráp lại thành một thân mình như cũ.

Làm sao bị xé tan rồi ráp lại thành thân hình được?

Đúng Vậy.  Đây là nói bóng dáng.

Đức Thượng Đế cho Tinh Thần Ngài nhập vô Vật Chất rồi làm ra những hình dạng, từ những Kim thạch, Thảo Mộc, Cầm Thú cho tới loài Người. Sau mỗi Người thành một vị Thái Dương Thượng Đế.

Câu “Bacchus bị xé tan từng mảnh rồi ráp lại thành thân hình như cũ” có nghĩa là:

Đơn nhứt phân ra vô số Lượng, rồi vô số Lượng sẽ trở thành Đơn nhứt gọi là Phản Bổn Huờn Nguyên.

NHỮNG ĐỒ CHƠI CỦA BACCHUS [[5]]

Bacchus chơi những Đê (dés) hay xúc xắc

Những xúc xắc nầy là 5 hình khối của Platon.

     1)-  Thứ nhứt là Hình khối 4 mặt bằng nhau (Tétraèdre).

     2)-  Thứ nhì là Hình khối 6 mặt bằng nhau (Cube).

     3)-  Thứ ba là Hình khối 8 mặt bằng nhau (Octaèdre).

     4)-  Thứ tư là Hình khối 12 mặt bằng nhau (Docécaèdre).

     5)-  Thứ Năm là Hình khối 20 mặt bằng nhau (Icocaèdre).

Chúng phù hạp với 5 cõi của Thái Dương Hệ của chúng ta.

Chúng có phải là 5 thứ nguyên tử căn bản, mỗi thứ làm ra một cõi Trời không?

Không phải. Chúng chỉ chiều hướng do theo đó thần lực bao bọc những nguyên tử hoạt động.

Tôi biết điều nầy rất khó hiểu.

Thật vậy. Phải mở Huệ Nhãn mới thấy, mới hiểu được.

Nếu ta thêm một chấm ở chỗ khởi đầu và một vòng tròn ở sau chót 5 hình nầy thì ta có 7 hình đối chiếu với 7 cõi của Thái Dương Hệ.

 

NHỮNG ĐỒ CHƠI KHÁC CỦA BACCHUS:

 CON VỤ - MẶT KIẾNG - CỤC ĐẠN.

Những đồ chơi khác của Bacchus là:  Con vụ, mặt kiếng, cục đạn

     1)-  Con vụ:  Con vụ tượng trưng nguyên tử quay-cuồng.

     2)-  Mặt kiếng là hình bóng ánh sáng rực rỡ (Lumière astral) của cõi Trung Giới trong đó phản chiếu kiểu mẫu vạn vật trước khi chúng thành hình như ta thấy bây giờ.

     3)-  Cục đạn ám chỉ Quả Địa Cầu.

QUAN NIỆM VÀI TRƯỜNG TRIẾT HỌC THUỞ XƯA

Thuở xưa có vài Trường Triết Học nói như vầy:

     “Ai không thông Toán Học thì không vào Trường của chúng ta được”.

Câu nầy có nghĩa là sao?

 Toán Học đây không phải là những môn như Số Học, Kỷ Hà Học, Đại Số Học của chúng ta đương học bây giờ.

 Toán Học nầy là một Khoa Học bao hàm sự hiểu biết về những cõi cao siêu, sự liên lạc giữa chúng nó với nhau và cách thức Đức Thượng Đế tạo lập thế giới do ý-chí của Ngài.

 Tới đây tôi tưởng phải nói đôi lời về Trường của Đức Pythagore lập tại Crotone và có ảnh hưởng lớn lao tốt đẹp cho toàn thể xứ Hi Lạp thuở đó.

VÀI LỜI VỀ TIỂU SỬ ĐỨC PHYTHOGORE

 Đức Pythagore sanh tại Samos (Hi Lạp) lối 580, có chỗ nói 569 trước Tây Lịch kỷ nguyên. Thân phụ Ngài là Ông MNÉSARCHUS, thân mẫu là Bà Parthénia. Vốn dòng trâm anh thế phiệt nên Ngài được giáo dục hoàn toàn về những môn Triết Học, Toán Học, Thi Thơ, Âm Nhạc và Thể Dục thuở đó.

Sau khi Ngài thành tài, Ngài xin phép đi du lịch đặng mở mang kiến thức. Trước hết Ngài qua Đảo Crête. Rồi kế đó những thành phố lớn của Hi Lạp. Chắc chắn là Ngài học được Bí Pháp trong Đạo Viện Orphée. Sau Ngài qua Ai Cập học hỏi Đạo Lý và tu luyện 22 năm trong Đại Kim Tự Tháp gọi là Kim Tự Tháp Khéops và lên tới cấp bực Thượng Đẳng Đạo Sư.

Khi Cambyse dẫn binh qua tàn phá Ai Cập thì Ngài và các vị Đạo Sư trong Kim Tự Pháp đều bị bắt làm tù binh giải về Babylone. [[6]] 

Tại đây Đức Pythagore nhờ các nhà Đạo Sư Chaldée và những Chiêm Tinh Sư Ba Tư dạy Ngài những Bí Pháp của 3 khoa:

Chiêm Tinh, Thiên Văn và Bốc Phệ.

Ngài ở Chaldée 12 năm rồi được trả tự do. Ngài liền qua Ấn Độ gặp Đức Phật, làm Đệ Tử của Đấng Chí Tôn trước khi trở về quê hương, sau 34 năm xa cách, Ngài gặp lại thân mẫu Ngài và ông Thầy dạy Ngài đầu tiên là ông Hermodamas còn sanh tiền.

Ngài không ở Samos mà qua Crotone mở Trường dạy Đạo.

Vì qui luật của Trường rất gắt gao cho nên nhiều học trò mới chịu không nổi sự thử thách, nên bỏ Trường ra ngoài rồi nguyền rủa ông Thầy đã dạy mình. Họ trờ thành những kẻ thù nghịch dữ tợn của Trường.

 Trong đó có Cyclon là một đứa rất hung bạo và ngỗ nghịch. Chính là anh nầy phản bội Sư Môn, sau xúi giục dân chúng tới đốt phá Trường và giết hại các bạn đồng Đạo của anh.

 Có chỗ nói Đức Pythagore bị chết thiêu, có chỗ nói Ngài thoát khỏi chạy qua Tarente sống tới 99 hay là 100 tuổi mới từ trần.

TRƯỜNG PYTHAGORE [[7]]

Sanh viên của Trường Pythagore chia ra là 3 bực:

     1)-  Bực thứ nhứt gồm những người Akoustikoi ( Auditeurs) tức là Dự Thính.

Trong vòng 2 năm, sanh viên chỉ nghe Thầy giảng dạy chớ không được phép hỏi han chi cả. Điều nầy tùy theo trường hợp, có thể kéo dài tới 5 năm.

Mới nghe qua thì thấy qui luật nầy rất khắt khe, không dễ mà tuân theo. Thật vậy, nhưng ta nên biết đây là Trường dạy Đạo, để đào tạo những vị Thánh Nhơn vị lai chớ không phải Trường dạy các môn học thường thức ngoài đời, thế nên người ta rất chú trọng về đức hạnh.

Làm thinh trong vòng 2 tới 5 năm có những sự lợi ích mà người ngoài không biết.

Trước nhứt là dưỡng Luân Xa ở yết hầu, nó có ảnh hưởng đến việc nghe được những tiếng tăm ở cõi Trung Giới.

Kế đó là tập những tánh: Bền chí, Nhẫn nại, Can Đảm và nhứt là kín miệng.

Sanh viên phải thận trọng, không nên tiết lộ những điều đã học hỏi, bởi vì kẻ ác có thể lợi dụng những quyền năng đã biết đặng thỏa thích tánh ích kỷ nhỏ nhen của họ và gieo rắc tai họa cho đời.

Phải thấy rõ lòng người mới biết tại sao người học Đạo phải hết sức kín miệng và không phản bội lời thề của mình.

     2)-  Bực thứ nhì gồm những người Mathématicoi.

Sanh viên để ngày giờ học hỏi Kỷ Hà Học, những Số và Âm Nhạc. Sanh viên tìm hiểu sự liên quan giữa những màu sắc và tiếng tăm:  Nhưng phải mở Thần Nhãn mới thấy những tiếng đờn sanh ra nhiều màu sắc tốt đẹp.

 Quí Huynh nên đọc quyển “Những Hình Tư Tưởng” (Les Formes Pensées) của hai Đại Đức A. Besant và Leadbeater.

Dầu sao lý luận cũng không bằng kinh nghiệm.

     3)-  Bực thứ ba gồm những người Physicoi.

Sanh viên học Con Người và Thượng Đế cùng là những Khoa Vật Lý, Siêu Hình, nguyên nhân của những hiện tượng, sự thành lập các cõi Trời.

ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY CỦA CÁC VỊ ĐỆ TỬ CỦA ĐỨC PYTHAGORE

Trường bắt buộc Sanh viên phải sống một đời hết sức trong sạch, và vị tha.

Y phục toàn trắng. Trường chay, thức ăn buổi trưa là bánh mì, mật ong và trái ô-liu (Olives). Hằng ngày tắm gội sạch sẽ. Tập Thể Dục, học Âm Nhạc.

 Trinh khiết, hết sức Chơn chánh. Ngay thật, Công-bình, có Tiết độ, Khiêm Tốn, Khoan dung, Nhẫn nại, Dè dặt, vân vân.

 Trường có 5 bực không khác nào 5 giai đoạn của Con Đường Nhập Môn đã kể ra trong mấy Quyển “Chơn Sư và Thánh Đạo- Con Đường của Người Đệ Tử- Những Người Phò Trợ Vô Hình” (Les Maitres et le Sentier- Le Sentier du Disciple- Les aides invisibles).

 Muốn cho quí Huynh có một quan niệm về Giáo Lý của Đức Pythagore, xin quí Huynh đọc tập “Kim Thi” (Les vers d’or) của Lysis vốn Đệ Tử của Đức Pythogore gìn giữ được trong cơn biến cố và truyền lại cho tới đời nay.

Có 3 quyển chữ Pháp giảng lý tập “Les Vers d’or”  :

     1)-  La vie sage par Dr.  Paul Carton.

     2)-  Commentaires sur les Vers d’or par Hérioclès.

     3)-  Commentaires sur les Vers d’or par Fabre d’Olivet.

Cố Phạm Quỳnh Tiên sanh có dịch quyển “La vie sage” để tên “Đời Đạo Lý”. Tôi xin chép bản dịch “Kim Thi” của ông ra đây cho quí Huynh xem.

LES VERS -  KIM THI

PRÉPARATION  -  CHUẨN BỊ

THỜ TRỜI

Trước hết phải thờ phượng Thần Minh theo như luật pháp đã định.

Đã đem lòng thề nguyện tín ngưỡng thì phải giữ cho có thủy có chung.

Rồi thì nên theo những phép thường sùng phụng những người hào kiệt, anh hùng, những bực Thần nhân Thánh Triết.

TINH LUYỆN  -  PURIFICATION

     THỜ PHỤNG GIA ĐÌNH.-   Người ta phải yêu mến cha mẹ, phải biết thờ phụng gia đình, phải làm tròn nghĩa vụ đối với cha, mẹ, với cả cô bác họ hàng.

     THỜ PHỤNG TÌNH HỮU NGHỊ.-  Người ta phải yêu mến kẻ đồng loại với mình.  Bè bạn phải chọn lấy người thuần lương đức hạnh hơn cả. Bạn khuyên nhủ phải nghe lời. Bạn chỉ bảo phải theo gương. Đừng nên vì lỗi nhỏ mà xa mất bạn, nếu biết cố gắng hết sức cũng có thể giữ được. Hãy chủ trương sự đời, vừa thuộc về vận mệnh mà cũng vừa thuộc về  ý chí nữa. [[8]] 

LUYỆN TẬP CÁ NHÂN

     A. -  LUYỆN TẬP TRÍ THỨC -  TỰ CHỦ -  PHẢI BIẾT KHẮC KỶ                                                                          

 Rồi lại phải biết sửa mình cho thắng được tình dục, biết tiết độ, biết cần cù, biết giữ mình trinh khiết [[9]].  Đừng nên giận dữ bao giờ.

PHẢI THẬT THÀ, NGAY THẲNG, CÔNG BÌNH

Đối với kẻ khác cũng như đối với riêng mình phải nên thế nào cho không có điều gì tự trách được, vì trước hết phải biết tự trọng mình.

Nhất thiết một đời, phàm mỗi câu nói phải theo cho đúng lẽ công bằng.

PHẢI BIẾT SUY NGHĨ

 Đừng có tập cái thói quen ù lì gặp sao hay vậy. Nhưng phải biết nghĩ rằng cái số phận chung của người đời là cái chết và phàm tài sản vật chất, có rồi mất đi cũng dễ dàng như không vậy.

PHẢI BIẾT VỮNG LÒNG MÀ LÀM VIỆC.

Còn như cái thân phận tự lẽ Trời bày định thì dù khổ nhọc thế nào mặc lòng cũng đừng nên oán trách. Cứ bình tâm mà chịu lấy và cố gắng chỉnh đốn cho được hơn lên.  Kẻ đại nhân quân tử vẫn được Thần Minh phù hộ cho khỏi phải chịu cái tai nạn to lớn.

PHẢI BIẾT KHOAN DUNG VÀ KIÊN NHẪN

 Trong ý tưởng người ta thường lẫn lộn cả điều phải điều trái. Vậy chớ nên theo hẳn hay bỏ dở cả mà nên giữ lấy sự điều hòa của mình. Nếu điều trái ngược tạm thời thắng lợi thì nên lánh xa mà đợi thời.

PHẢI TẬP LẤY CÁI TRÍ PHÁN ĐOÁN CHO NGAY THẲNG VÀ VỮNG VÀNG

Điều ta nói đây phải nên chăm theo cho đúng. Lời nói việc làm của kẻ khác, chớ nên a dua mà không suy nghĩ.

Khi nào đã lấy lẽ phải mà suy xét biết theo đường nào hơn thì bây giờ hãy nói nên làm. Trước khi hành động phải nên suy tính, như thế thì khỏi làm những điều vô ý thức. Người ta thường bị khổ sở chính là bởi làm và nói không có điều độ, không có phép tắc vậy.

PHẢI BIẾT PHÒNG XA

Phàm quyết định một điều gì phải nên biết dự tính cái kết quả xa xôi về sau nầy như thế nào, để cho không bao giờ phải hối hận.

PHẢI BIẾT KHIÊM TỐN

 Cái gì thực mình không biết đừng nên tự phụ muốn làm. Nhưng phải nên thừa dịp mà học cho biết thêm, như thế đời mình sẽ có những hứng thú vô cùng.

B.-  TẬP LUYỆN XÁC THÂN

PHẢI ĂN Ở CHO THANH KHIẾT VÀ HỢP VỚI SANH LÝ

PHẢI TẬP THỂ THAO

Lại phải chăm chút cho thân thể được mạnh khỏe. Đồ ăn, đồ uống, cách tập luyện cần dùng phải nên cho có điều độ.

Hễ biết giữ cho điều độ thích nghi thì không bao giờ đến nhu nhược ủy mị. Cho nên phải tập cho quen cách ăn ở cho thanh khiết và nghiêm nhặt.

PHẢI NÊN CẨN THẬN

 

Theo cách ăn ở như thế, không nên khoa trương, để khỏi giục lòng ghen ghét của kẻ vô tri vô thức.

PHẢI NÊN ĐIỀU ĐỘ [[10]]

 

Đừng có bắt chước những kẻ không biết suy xét, hoặc là ăn tiêu quá sự cần dùng, hoặc là tần tiện quá đến bủn xỉn. Nhất thiết phải giữ lấy đạo trung bình là hơn cả. Vậy đừng nên làm gì có hại đến mình và muốn được như thế thì trước khi hành động phải nên suy nghĩ.

TẬN THIỆN  -  TẬN MỸ  -  PERFECTION

PHƯƠNG PHÁP CẢI THIỆN

PHẢI TỰ KIỂM SOÁT MÌNH

 

 Khi mới ngủ dậy trong người đương bình tĩnh phải thừa lúc bấy giờ mà nâng cao thần trí lên nghĩ ngợi về những việc hay mà mình phải làm.

Chiều, trước khi đi ngủ lại phải nên kiểm soát tâm tư, ôn lại trong tư tưởng công việc lúc ban ngày và tự hỏi rằng: Ta đã làm được những gì? Ta có làm được trọn nghĩa vụ ta trong mọi việc không?  Nên đem lần lượt từng việc ra mà sát hạch như thế. Nếu thấy mình đã làm sai thì phải tự nghiêm trách: nếu không có lỗi gì thì nên hoan hỉ trong lòng.

Trong bản chữ Pháp thì như vầy:

     Méditation -  La joi – La vie vertueuse  -  La Science de L’Univers.

TỰ NIỆM

     Nên ngẫm nghĩ những lời khuyên đây.

TÍN NGƯỠNG

     Nên đem hết lòng mà yêu chuộng những lời đó.

ĐỜI ĐẠO ĐỨC

     Nên gắng sức thực hành sẽ tới cực cõi chí đức, chí thiện.

HỌC VỀ VŨ TRỤ

     Ta nói đây là lời nói thật, xin thề trước Đấng Mầu Nhiệm đã vạch trong trí ta cái hình Tư Tưởng (La Tétrade sacrée) thiêng liêng là nguồn gốc và biểu hiệu của Vạn Vật Vô Cùng (Nature éternelle). (Xin sửa 2 chữ Vô Cùng ra: đời đời bất diệt).

CẦU NGUYỆN

     Nhưng khi khởi công tu luyện phải nên cầu nguyện Thần Minh luôn để giúp người cho làm được trọn vẹn.

L’INITIATION -  GIÁC NGỘ  có thể dịch là:

LỄ THỤ PHÁP.

 

Khi đã hiểu rõ được các điều răn dạy đây, thời sẽ quan niệm được cả bản thể của thân nhân cùng của vạn vật. Rồi sẽ thấu được cái lẽ duy nhứt nó chủ trương trong cuộc thiên diễn. Bây giờ mới biết cái luật lớn trong vũ trụ, là khắp trong thế gian đâu đâu cũng vậy. Vật Chất với Tinh Thần là đồng thể với nhau cả.

LA CLAIRVOYANCE  -  DỊCH LÀ TRÍ TUỆ

                       Có thể dịch là SÁNG SUỐT

                                              TRÍ  TUỆ

 

Bây giờ thì trí tuệ đã sáng suốt, trong lòng sẽ không phải băn khoan về những vọng tưởng nữa. Sẽ biết rằng người ta mà phải khổ sở là tự mình tác nghiệp cho mình. Khốn nạn cho những kẻ ấy. Họ không biết rằng cái báu của họ là ở trong tay họ, ở trong người họ đó. Những người biết cái cách giải thoát cho khỏi sự khổ não thật là ít lắm thay.

Sự mê muội của người đời thật là quá lắm thay, làm cho trí tuệ phải mờ ám, khác nào như cái ống lăn, cứ lăn liều, không bao giờ khỏi được những nỗi khổ thống vô cùng. Vì cái tật mê muội bất minh đó, đi đâu nó cũng ám ảnh hoài, thành ra không biết phân biệt điều gì là điều phải nên thuận nhận, điều gì là điều trái nên tránh xa mà đừng tức giận.

LỄ THẦN BÍ  (LA VÉRITÉ OCCULTE)

Ôi ! Thượng Đế là cha sanh ra chúng ta. Xin cầu nguyện Thượng Đế tế độ cho loài người khỏi phiền não, chỉ thị cho họ biết rằng tự mình có cái sức thần thông là đường nào.  Nhưng mà không: chúng ta chẳng nên giàu lòng lo lắng, vì loài người là giống Thần Minh [[11]] tự mình có thể phát minh được những lẽ mầu nhiệm của Tạo vật bày ra cho mà tìm tòi.

SỰ BAN THƯỞNG  ( LA RÉCOMPENSE)

MINH TRIẾT- HẠNH PHÚC CỦA SỰ TRƯỜNG TỒN BẤT TỬ

(LA SAGESSE -  L’IMMORTALITÉ BIEN HEUREUSE)

Các lẽ mầu nhiệm đó đã thấu được rồi thì những lời ta khuyên đây sẽ làm được dễ dàng và đáng được giải thoát tất cả mọi sự phiền não. Nhưng mà phải kiêng kỵ những thức ăn ta đã cấm trong khi tu luyện trai giới, và cứ nên theo đuổi cái công phu giải thoát cho Linh Hồn được thảnh thơi. Phàm sự vật, phải biết kén chọn cho thích đáng và thích nghi, để cho cái phần tinh túy trong người là Thần Trí bao giờ cũng được thắng vậy. Được như thế thì đến khi rời bỏ cái khu xác nầy sẽ bay bổng lên cõi thanh thiên và bây giờ không phải theo luật sanh tử nữa, sẽ biến hóa mà thành một vị Thần Tiên bất diệt vậy.

CHUNG

 

     Tôi thấy cố Phạm Quỳnh Tiên sanh dịch nghĩa hơn là dịch từ chữ nầy sang chữ kia.

     Nếu dịch lại thì sẽ có vài đoạn khác hơn.

CẤM ĂN TÀM ĐẬU ( FÈVES)

Tôi tưởng quí Huynh muốn biết Đức Pythagore cấm các Đệ Tử dùng những món ăn nào [[12]].

Chỉ có một món mà các Đạo Sư bên Ai Cập và Đức Pythagore đại kỵ là: Fève dịch là Tàm Đậu.

Vì những lẽ nào? Tới ngày nay không một ai biết. Người ta đưa ra nhiều giả thuyết như:

Fève khó tiêu, sanh ra chất độc trong nước tiểu.

Théophrate trong quyển thứ 5 của Bộ “Những nguyên nhân tự nhiên” (Causes naturelles) nói rằng những vỏ tàm đậu (Fèves) đem rải chung quanh rễ của những cây nhỏ thì mấy cây nầy héo lần. Những chim mà ngươi nuôi với những tàm đậu thì không sanh sản.

 Cicéron cho rằng ăn Tàm đậu (Fèves) thì không có những điềm chiêm bao linh, gọi là báo mộng hầu thấy trước những việc sẽ tới, mà lại sanh những chiêm bao mộng mị.   

TÀM ĐẬU (Fèves) KHÍCH DÂM

 Có điều đáng cho người ta chú ý là có người cho Tàm đậu có tánh cách khích dâm như câu ca dao của Ai Cập sau đây:

     Tầm đậu trổ bông  (Les Fèves sont en fleurs).

     Những kẻ điên rất hăng say  (Les fous en vigueur).

     Hoa Tàm đậu nở  (Fèves fleuries).

     Ấy là thời buổi điên cuồng  (Temps de folies).

     Bông Tàm đậu ngữi vào thì làm cho người ta ngây ngất như say sưa.

Trong những quyển “Sử Ký” Histoires I, II, Chapitre 27 Hérodote nói rằng: những vị Đạo Sư Ai Cập cấm nhặt việc ăn Tàm đậu ( Fèves). Trọn xứ Ai Cập không ai trồng Tàm đậu (Fèves) cả. Nếu có chỗ khác đem Tàm đậu (Fèves) lại cũng không ai dùng, không ăn sống mà cũng không ăn chín. Trông thấy Tàm đậu họ không chịu đựng được. Họ coi Tàm đậu là một thứ rau bẩn thỉu, không được tinh khiết.  

BÔNG TÀM ĐẬU GIỐNG CƠ QUAN SANH DỤC

 Theo Lucien, Aristote và Aulu Gelle thì thấy Bông Tàm đậu (Fèves) người ta liên tưởng đến cơ quan sanh dục. Sự mường tượng nầy làm cho người học Đạo sanh lòng tà niệm.

 Không động tới Tàm đậu là không bị giác quan và sự vui sướng của xác thịt cám dỗ.

 Ngoài ra còn nhiều lý lẽ khác nữa, nhưng tôi thấy không ích chi nên không đem ra.

 Tôi cũng tin rằng không dùng Tàm đậu (Fèves) là có một nguyên nhân Huyền bí, nhưng không tiết lộ ra. 

ĂN NHIỀU QUÁ MẤT THẦN NHÃN

 Tôi xin thuật chuyện “Ăn nhiều quá mất Thần Nhãn” cho quí Huynh nghe.

Trong quyển “Cổ Động” (La Caverne des anciens) ông Rampa T. Lobsang có viết đoạn nầy:

 “Một nhà Sư Nhật Bản ở tại Lhassa gần phòng tôi có nói với tôi rằng trước kia ông có Thần Nhãn, nhưng sau đó vì ông ăn nhiều quá nên mất Thần Nhãn. Bây giờ ông thường nổi cơn điên rồi chết trong Đạo Viện.”

 Tôi xin giải tại sao ăn nhiều quá mà lại mất Thần Nhãn.

 Trong đầu, hạch mũi (Corps pituitaire ou hypophyse) là cơ quan làm trung gian giữa Trung Giới và cõi Phàm. Hạch mũi hoạt động rồi, những sự rung động ở cõi Trung Giới truyền qua hạch mũi dễ dàng rồi mới vô óc xác thịt. Nhờ vậy con người mới thấy được Trung Giới và gọi là Thần Nhãn.

 Có thức ăn [[13]] làm cho hạch mũi bị tê liệt hay là đau, không còn hoạt động nữa.  Con người ăn nhầm thì mất Thần Nhãn như trường hợp của nhà Sư Nhật.

 Món ăn đó là món ăn nào? Không nhứt định được, vì có người bị món nầy, có người bị món kia.

 Có lẽ Tàm đậu (Fèves) thuộc về loại làm cho hư hạch mũi hay hạch óc cho nên Đức Pythagore và các vị Đạo Sư Ai Cập mới cấm.

“KIM THI ” VÀ QUYỂN “ DƯỚI CHƠN THẦY ”

Có một điều tôi tưởng rằng: Ai đọc Tập “Kim Thi” và “Dưới Chơn Thầy” thì cũng thấy tư tưởng của hai quyển vẫn giống như  in nhau.  Nhưng trong “Kim Thi” có nói về việc Xử Thế, vì thuở đó Đức Pythagore phải tùy thời mà đào tạo các Đệ Tử.

Hơn nữa Đức Pythagore là tiền kiếp của Đức Chơn Sư K.H.  Ngài cũng đầu thai làm Nagarjuna, Tàu gọi là Long Thụ Bồ Tát.

Về Trường của Đức Pythagore tôi tưởng bao nhiêu cũng đủ cho các bạn mộ Đạo rồi.

     Bây giờ xin nói qua vài Biểu Tượng khác như:

-II-

THẦN TRƯỢNG  ( THYRSE)

Thần trượng (Thyrse) là một cái cây, có khi là 1 chiếc đũa trên đầu có một quả thông (pomme de pin).

Ở Ấn, Thần Trượng là một nhánh tre có 7 mắt.

Có những Đạo Viện, thay vì Thần Trượng, người ta dùng một ống sắt bộng và nói rằng có chứa một thứ lửa.

Các nhà Huyền Bí Học đều hiểu nghĩa bóng của Thần Trượng.

Thần Trượng hay là nhánh tre có 7 mắt tượng trưng cốt tủy với 7 Trung Tâm Lực gọi là Luân Xa.    

Lửa chứa trong ống là Luồng Hỏa Hầu Kundalini.

Thần Trượng không phải là một tượng trưng, nó còn là một vật có công dụng thật tiễn nữa. Những người được Điểm Đạo dùng nó để làm cho Cái Vía xuất ra khỏi xác, sau khi qua cõi Trung Giới thì tỉnh táo như lúc thức đây.

Vị Đạo Sư đặt nó ngay xương sống của sanh viên rồi truyền một phần từ điển riêng của Ngài cho anh nữa đặng giúp anh Xuất Hồn ra khỏi xác.

Trong quyển “Giảng lý cuốn Dân Quốc” [[14]]  của Platon, ông Proclus (thế kỷ thứ V) có thuật lời của Cléarque nói lại như say đây :

“Vị đứng ra thí nghiệm cầm chiếc đũa của ông gõ nhẹ vào mình đứa nhỏ. Hồn đứa nhỏ xuất ra khỏi xác. Ông chỉ cho người ta thấy đứa nhỏ không còn biết cảm xúc chi nữa, mặc dầu người ta lấy cây đánh mạnh vào mình nó.

Rồi ông cũng dùng chiếc đũa đem Hồn nó về nhập xác. Nó thuật lại những điều Hồn nó đã thấy khi xuất ra khỏi xác”.

Người ta mới cho điều tra những chuyện nó nói thì quả thật đúng như vậy.  Người ta mới tin việc Xuất Hồn có thật.

-III-

CON QUÁI VẬT MINOTAURE,  NỬA NGƯỜI,  NỬA THÚ.

 Con quái vật Minotaure, đầu người, mình bò cổ, con của Pasiphaé, vợ của Minos.

 Pasiphaé ngoại tình với con bò trắng của Poséidon sanh ra Minotaure. Minos nhốt con Minotaure trong Labyrinthe dịch là Mê Cung ở tại Crète. Ấy là một dinh thự do Kiến trúc sư Dédale xây cất, không biết bao nhiêu ngăn nắp, vô đó rồi mà không có họa đồ trong tay thì sẽ lạc lối, không bao giờ tìm được nẻo ra.

 Minos bắt dân chúng thành Athènes mỗi năm phải nạp 7 đồng nam, 7 đồng nữ cho con Minotaure ăn thịt đặng đền tội giết con ông là Androgée.

 Thésée, vị anh hùng Hi Lạp, con của Egée, Vua thành Athènes, nhờ con gái của Minos là Ariane say mê nên trao cho Thésée một sợi chỉ. Nhờ theo đường chỉ nầy mà Thésée vô được Mê Cung giết con Minotaure rồi ra về thong thả.

 Nhưng sau Thésée lại phụ rảy Ariane, bỏ nàng tại đảo Naxox. Thất vọng và buồn tủi, Ariane bèn nhào xuống biển tự tử.

 Có chỗ lại nói Ariane được nguôi ngoai. Mà Thésée cũng bỏ mình sau khi sống một cuộc đời đầy sóng gió, nhiều phen thất bại ê chề.

Huynh có tin rằng Con Quái Vật Minotaure có thật không?

Tôi không tin Con Minotaure có thật. Tôi hiểu rằng đây là một lời nói bóng dáng.

Con Minotaure tượng trưng bản tánh thấp hèn của Con Người tức là Phàm Nhơn nửa người, nửa thú.

Thésée là hình bóng của Chơn Nhơn. Chơn Nhơn càng ngày càng mở mang, dùng được quyền năng của Chơn Thần.

Ariane là Trực Giác. Sợi chỉ Ariane là đường lối của Trực Giác.

Nhờ Trực Giác, Thésée là Chơn Nhơn, mới thoát khỏi lưới rập của ảo ảnh, trừ được bản tánh thấp hèn. Nhưng sau Chơn Nhơn bỏ Trực Giác nên gặp phải nhiều cơn đau khổ.

-IV-

CHUYỆN TITYOS

Tityos bị cột vào một vào tảng đá và một con kên kên lại ăn gan của y. Nhưng ăn hết rồi thì cái gan mọc lại y như cũ.

 Đây là hình bóng của người mà lòng ham muốn vẫn được toại, nhưng luôn luôn hối hận vì những tội lỗi đã làm.

CHUYỆN SISYPHE

Sisyphe là Vua thành Corinthe, con của Eole, rất hung bạo và tàn ác.

Sau khi thác rồi, xuống Âm Phủ bị hành phạt cách nầy:

Sisyphe phải lăn một cục đá từ chơn núi tới chót núi, tới chót rồi cục đá rớt xuống chơn núi. Sisyphe phải lăn cục đá lên nữa. Cứ tiếp tục mãi ngày nầy qua ngày kia như vậy.

Tại sao cục đá lại rớt xuống?

Không có thật như vậy đâu. Đây là nói bóng dáng về sự thất bại, không đoạt được mục đích, ý muốn của mình.

Chuyện nầy để cắt nghĩa cho người đời biết đời sống của kẻ tham vọng trên cõi Trung Giới sau khi lìa Trần.

Thác là bỏ xác phàm nầy chớ tánh tình không hề thay đổi, trừ phi mình tự rèn luyện lấy mình, sửa cái xấu ra cái tốt.

 Kẻ tham vọng chết rồi qua cõi Trung Giới ở trong cái Vía cũng như ở trong xác thân nầy.

 Y cũng tìm kiếm những kế hoạch đặng bước lên đài Vinh hoa phú quí. Nhưng khi thảo xong chương trình thì y thấy sự ham muốn của y là cái bóng, mới thấy đó kế nó biến mất liền. Y không có xác thân như hồi còn ở Thế nên không thâu nhận được kết quả nào cụ thể cả.

 Y sắp đặt chương trình khác nữa, rồi cũng in như lần trước, nó tiêu tan trong nháy mắt.

 Sisyphe cứ lăn cục đá lên núi cho tới chừng nào anh thấy rằng việc làm của anh rất vô ích. Anh không cần lăn nó lên nữa. Anh đã dứt được sự ham muốn ích kỷ đó rồi.  Tuy nhiên anh còn giữ một nhược điểm trong tánh tình của anh là anh có thể ham muốn như vậy trong tương lai, tức là kiếp sau, mặc dầu hiện giờ anh không còn ham muốn cả.

-VI-

CHUYỆN TANTALE

 Tantale là Vua xứ Lydie. Ông trộm nước Cam Lồ (Ambroisie) cho người Thế uống và còn làm thịt đứa con trai là Pélops thết tiệc đãi mấy vị Thiên Thần coi mấy vị nầy có biết điều đó không?

 Xuống Âm phủ ông bị cột vào một gốc cây đầy những trái ở chính giữa một hồ nước trong veo. Đói quá Tantale giơ tay hái trái cây thì nhánh cây bật lên cao với không tới, không hái được, khát quá muốn uống nước, mới đưa tay tới mé nước thì nước giựt xuống, không múc được.

 Có thật Âm Phủ và những sự hình phạt như thế không?

  Tôi không tin Âm Phủ có thật. Tôi không tin có những hình phạt như thế. Tôi hiểu rằng đó là những lời nói bóng dáng về những lòng dục không được toại nguyện tại cõi Trung Giới của những người hồi còn sanh tiền ham mê vật chất.

 Thí dụ, những người hồi còn ở thế thường ngày say sưa, thác rồi về cõi Trung Giới thèm rượu thì đâu có rượu uống; thèm thuốc thì đâu có thuốc đặng hút vân vân.  Còn nhiều việc khác, Huynh suy ra thì biết, có điều không nên nói ra vì không tốt đẹp chút nào.  Đây là hậu quả của những dục tình do giác quan ám ảnh.

 Thế nên, ngay lúc ta còn tại Thế đây, điều hay hơn hết là sống một đời tinh tấn, trinh khiết, có tiết độ, sau khi lìa Trần thì cái Vía nhẹ nhàng, tốt đẹp, không bị ảnh hưởng những tật xấu làm cho ta đau khổ trong một thời gian.

-VII-

LÔNG CỪU MÀU VÀNG  (TOISON D’OR)

 Thuở xưa có một con cừu đực biết bay. Nó chở Prixon và Hellé đi lên mây. Khi tới Colchide rồi thì Prixon giết nó đặng tế Thiên Đế Zeus và lột da lấy lông màu vàng đem hiến cho Aetès là Vua bản xứ. Aetès mới truyền đem lông cừu nầy máng trên một cây sồi rồi giao cho một con rồng ở đó canh giữ.

 Pélias, Vua xứ Iolcos mới sai cháu là Jason đi giết con rồng, lấy lông cừu nầy đem về.

 Chắc chắn chuyện lông cừu vàng không có thật?

 Đúng vậy. Lông cừu vàng có 3 nghĩa:

     Một là: Nó tượng trưng Cái Trí màu vàng và những sự hoạt động của Trí Tuệ.

     Hai là: Lấy được lông cừu nầy là một việc cực kỳ khó khăn. Cũng như việc mở Trí: phải biết phương pháp và nhiều công phu luyện tập mới đoạt được kết quả tốt.

     Ba là: Lông cừu màu vàng tượng trưng một vật quí hiếm có lấy từ xứ lạ đem về và phải trải qua muôn ngàn khổ cực, gian nan mới tìm được nó.

 Sau khi đọc những chuyện Thần Thoại hay Ngụ Ngôn chúng ta đừng hiểu theo nghĩa từng chữ mà phải lầm ngay. Phải suy nghĩ về những lời bóng dáng, tượng trưng và những nhân vật đóng một vai tuồng trong đó, như chuyện Prométhée sau đây:

PROMÉTHÉE

 Prométhée là một vị Hỏa Thần, thân phụ Ngài là Japet, còn thân mẫu Ngài là Clymène, cũng có chỗ nói là Thémis hay là Asia.

Prométhée phạm tội 3 lần với Thiên Đế Zeus.

     1)-  Lần thứ nhứt: Gạt gẫm Ngài trong một cuộc cúng tế hy sanh.

     2)-  Lần thứ nhì: Lấy đất bùn làm ra người đầu tiên trái với ý muốn của Zeus.

     3)-  Lần thứ ba: Trộm lửa Trời cho vô mình con người, con người mới có sự sống.

 Zeus mới sai Padore là một mỹ nhân, duyên dáng, miệng cười như hoa nở, tới cám dỗ Prométhée song bị Titan phá tan kế hoạch nầy.

 Nhưng cuối cùng Zeus sai Héphaistos bắt Prométhée cột chặt vào một tảng đá rồi cho con kên kên tới moi bụng ăn gan. Nhưng mà ăn gan nầy hết rồi thì gan khác mọc ra. Một thời gian sau, Héraklès tức là Hercule tới giết con kên kên và giải thoát cho Prométhée.

 Lửa của Prométhée là lửa gì?

 Không phải là lửa thiệt đâu, ấy là lời nói bóng dáng về Cái Trí.

Cái Trí ở Thượng Giới thuộc về Hành Hỏa nên mới có việc lửa tượng trưng cho Cái Trí.

 Prométhée trộm lửa Trời đem cho con người, tức là ban cho con người Trí Khôn.  Nhờ Trí Khôn con người mới được sung sướng và hưởng hạnh phúc.

 Nhưng quên rằng ngoài Cái Trí, con người còn có Cái Vía chứa đầy thú tánh: nó nhiễm Cái Trí và lôi cuốn Cái Trí theo nó làm những điều nhơ nhớp, tội lỗi, mắc phải quả báo. Vì thế Cái Trí không còn tinh khiết và trinh trắng như lúc Trời ban cho. Việc nầy tượng trưng Prométhée bị cột chặt vào một tảng đá và con kên kên tới moi bụng ăn gan, ngày nầy qua ngày kia, đau đớn vô cùng.

Nhưng sau đó, khi trả quả xong thì có người tới dạy dỗ đạo đức, Cái Trí lìa khỏi dục vọng cũng như Prométhée nhờ Hercule giải thoát.

Hercule tượng trưng cho sức mạnh Tinh Thần.

Tuy nhiên chúng ta phải nhớ kỹ điều nầy:

Sự mở mang trí thức mau lẹ và càng ngày càng nhiều làm tê liệt sự nhận thức của phần Tinh Thần. Hãy đề phòng. Nếu ỷ mình tài cao, học rộng, làm những chuyện bội Thiên nghịch Địa, chẳng kíp thì chầy, không bao giờ tránh khỏi họa tai và sự sa ngã, sụp đổ, bởi vì Luật Nhân Quả phải phản động đặng lập lại sự quân bình như xưa.

Phải giữ sao cho Tâm Trí điều hòa thì sự phát triển thiêng liêng sẽ vững chắc và con người sẽ trở nên sáng suốt, từ đời nầy qua đời kia, vì sự phát triển nầy đã biến thành một phần của con người và không bao giờ rời khỏi con người như xác thân nầy đây.

Chuyện Prométhée trộm lửa còn một ý nghĩa nào nữa không?.

Còn nhiều, nhưng rất khó cho người mới học Đạo.

Việc cho lửa là nói bóng dáng liên quan đến chuyện “Rửa tội bằng lửa” (Baptême par le feu). Đó là một Bí Pháp, cũng như việc Prométhée trộm lửa cũng là một Đại Bí Pháp, nhưng không bao giờ tiết lộ ra ngoài.

 Prométhée còn tượng trưng cái chi nữa không?

 Prométhée còn tượng trưng cho nhân loại mà cũng tượng trưng cho những vị Đại Thiên Thần Agnishvattas, những vị Hồng Quân (Les Seigneurs de la Flamme) mở trí khôn cho con người lúc phân chia nam nữ của Giống Dân thứ Ba là Giống Lemurien nữa.

Prométhée cũng có thể tượng trưng Đức Bàn Cổ và Đức Văn Minh Đại Đế, bởi vì người ta nói Prométhée sanh hóa loài người và dạy loài người sự văn minh tiến bộ.  Tại cõi Trần nầy Đức Văn Minh Đại Đế thay mặt cho ngôi thứ Ba của Đức Thái Dương Thượng Đế.

Trạng thái của Ngôi thứ Ba là Trí Tuệ Sanh Hóa hay là Lửa Thiêng Sanh Hóa (Feu Créateur) cũng đồng nghĩa.

 Những vị được Điểm Đạo cao cấp mới thiệt hiểu biết ý nghĩa của những tượng trưng nầy.

CON TỨ BẤT TƯỚNG HI LẠP

Con Bất Tứ Bất Tướng Hi Lạp vốn khác hơn Con Bất Tướng Ai Cập.

Khác hơn chỗ nào?

Con Tứ Bất Tướng Hi Lạp gương mặt thiếu nữ mỹ miều, mình sư tử (có chỗ nói mình chó), móng vuốt sư tử, cánh phụng hoàng.

Ấy là Con Tứ Bất Tướng Cái (Sphinge). Còn Con Tứ Bất Tướng Ai Cập là con Tứ Bất Tướng Đực.

Con Tứ Bất Tướng Cái nầy đi được và nói tiếng người, chớ không phải câm.

Nó ở đâu?

Nó ở dưới chơn núi Sphingius, cũng gọi là Phicius đón đường bộ hành rồi nêu ra câu hỏi nầy:

“Con thú nào lúc bình minh đi bốn cẳng, tới đúng ngọ đi hai chơn, rồi xế chiều đi ba cẳng ?”

 Ai không trả lời được thì bị nó xé thây, ăn thịt.

 Có bao nhiêu người bị nó giết?

 Không ai biết chắc. Chỉ nghe nói có hai người con nhà trâm anh là Hémon, con của Créon và Hippius, và con của Eurynome bị nó sát hại.

 Có ai đoán ra câu đó không?

 Có, ấy là Oedipe.

 Oedipe trả lời làm sao?

 Ấy là Con Người.

 Tại sao Con Người?

 Bởi vì đứa bé bò với hai tay, hai chơn cũng như đi với bốn cẳng, lớn lên đi hai chơn, tới già thì chống gậy. Cây gậy khác nào cái cẳng thứ ba.

 Con Quái vật thua cuộc rồi ra sao?

 Nó té xuống đất bị Oedipe giết chết. Có chỗ nói nó nhảy xuống biển.

TIỂU SỬ OEDIPE

 Oedipe là ai?

 Oedipe là một vị Hoàng Tử, con của Vua Laius, Hoàng Đế thành Thèbes và Hoàng Hậu Jocaste. Tiểu sử của Oedipe rất bi đát tôi chỉ nói phớt qua mà thôi.

 Sau khi sanh Oepide rồi thì những lời Thần Thánh tiên tri xuyên qua miệng đồng cốt trinh nữ (Pythonisse) như vầy:

 “Oedipe ngày sau giết cha, lấy mẹ và sau vài năm phiêu lưu sẽ bỏ mình tại rừng Furies.”

 Vua Laius buồn bực bèn sai một người chăn chiên của ông đem đứa nhỏ giết đi.  Anh nầy vì lòng nhơn không nỡ giết hại đứa bé vô tội. Anh đem nó lên núi Cithéron cột hai chơn rồi treo lên cây, chắc ý rằng nó sẽ làm mồi cho thú dữ, không thì cũng bị nắng, mưa, lạnh lẽo khói khát mà chết.

 Nào ngờ mấy người thợ săn mà mấy người chăn chiên lên núi thấy nó ré khóc thì động lòng thương, mở dây đem xuống rồi bồng về nhà nuôi dưỡng và đặt tên nó là Oedipe [15]. Họ đem nó dâng lên Vua xứ Corinthe là Polybe. Vua nầy đã già, không con.  Vua và Hoàng Hậu thấy đứa bé ngộ nghĩnh bèn nhận nó làm con nuôi.

 Lớn lên Oedipe thông minh tót chúng. Khi nghe lời Thánh tiên tri rằng Oepide sau sẽ giết cha, Oepide bèn bỏ Corinthe trốn đi, vì lầm tưởng Polybe là cha ruột.

 (Có chỗ nói Thần Thánh bảo Oedipe đừng trở về xứ, vì sẽ giết cha…)

 Trên đường đi vô định, Oedipe gặp một ông già, Oedipe gây gổ với ổng rồi giết ổng đi. Ông già nầy chính là Vua Laius, cha ruột của Oedipe mà Oedipe không biết.

 Có chỗ nói rằng sau khi trừ được Con Tứ Bất Tướng thì Oedipe được người ta tôn lên làm Vua, rồi sau Oedipe tử trận.

 Có chỗ nói Oedipe tự đâm đui hai con mắt mình.

 Có chỗ nói Oedipe nhờ con gái là Antigone dắt đi tị nạn tại Attique.

 Có chỗ nói Oedipe trốn qua Athènes tới Colone, Oedipe đi vô rừng Euménides rồi mất tích luôn.

 Huynh có tin thật có chuyện Oedipe giết con Tứ Bất Tướng không?

Không. Tất cả những người học Đạo đều không tin chuyện nầy có thật. Đó là chuyện bóng dáng. Huynh thử nghĩ đối với một con thú như thế tại sao Triều Đình Thèbes bất lực không làm gì được để nó gieo khủng khoảng cho bá tánh? Tại sao lại không sai một đạo binh gồm 300 cung nỏ thủ tới bắn nó, phải chờ Oedipe tới mới diệt nó nỗi.

 Các nhà Huyền Bí Học đều hiểu ý nghĩa chánh của Con Tứ Bát Tướng in như nhau, duy những ý nghĩa phụ thuộc có khác nhau một chút, điều nầy không có chi là lạ.

 Tôi xin đem ý kiến của Ông Court de Gobelin thuật cho Huynh nghe :

  “Người ta biết rằng Oedipe có nghĩa là người có hai chơn bị đâm thủng, bởi vì lúc nhỏ Oepide bị trói chơn rồi treo lên cây.

 Còn Con Tứ Bất Tướng, gương mặt, bàn tay, và giọng nói của một thiếu nữ, thân hình của một con chó, cặp mắt của một con rồng, móng vuốt của con sư tử và hai cánh của con chim. Nó ở trên núi Phicée tại Poétie.

 Con Sphinx là Khoa Học bị che đậy dưới hình thức những lời nói bóng bẩy. Khoa học là con quái vật, bởi vì nó chứa đầy những huyền diệu phi thường.

 Gương mặt, hai bàn tay và giọng nói phụ nữ để chứng tỏ yêu kiều và sự quyến rủ của nó. Hai cánh để tượng trưng khoa học bay lên từng cao và truyền lẹ làng qua trí não của con người. Móng vuốt là sự sâu xa, thâm thúy và sức mạnh bất khả kháng của những luận cứ và những công lý (Axione) của nó.

 Ông Salomon có nói rằng: “Lời nói của vị Hiền Triết là những mũi nhọn và những đinh đóng vô rất sâu”.

Con Quái vật đứng giữa đường bởi vì chúng ta chỉ biết có Trên Mặt, Bề Ngoài và Cái Vỏ của những vật. Nó nhờ những vị Thi Thần (Muses) dạy những Bí Ngữ. Những Bí Ngữ nầy là những nguồn cội của mọi vật. Phicée là tiếng Phénicien [[16]]  thâm nhập vào ngôn ngữ Hi Lạp. Phicée nghĩa là khéo léo, tế nhị, sáng suốt, tinh tường, tinh vi, thấu triệt.

Người giải được Bí Ngữ nầy hai chơn bị đâm thủng và đau nhức, bởi vì không phải lật đật, hối hả mà đoán ra được Bí Ngữ của Con Tứ Bất Tướng Sphinge..

Hình bóng nầy gồm hai trường hợp:

     Một là: Đoán không được thì bị quái vật xé thây.

     Hai là: Giải được thì làm Vua.

Bị xé thây có nghĩa là trong lúc suy nghĩ tìm giải đáp không được thì trong lòng bứt rứt, tức tối. Cái Trí xao động dữ dội như bị phân chia.

Còn làm Vua có nghĩa bóng là thành một vị Hiền Triết.

Phái Khắc Kỷ (Stoiciens) nói rằng: “Người Hiền Triết là Vua. Ngài ngự trị trên thân mình Ngài và cũng ngự trị trên Tạo Vật mà Ngài thấy nữa”.

     “Monde primitive, genie allégorique des Anuiens).

Lời giải thích nầy có phần giống như ý kiến của ông Bacon.

Khoa học của ông Court de Gobelin nói là Khoa học Huyền Bí, nó giải thích rành rẽ sự sống trong thân thể, sự cấu tạo các tế bào, sự thay hình đổi dạng, vân vân, nó nói được tiếng chót của Cơ Tiến Hóa.

 

CHƯƠNG THỨ SÁU

NHỮNG SỐ

SỐ  0  , SỐ  1  VÀ SỐ  10

  Số 0 tượng trưng Vô Cực.

  Số 1 tượng trưng Dương ở trong Lưỡng tánh xuất hiện.

  Con số 10 là con số thiêng liêng huyền bí trong Vũ Trụ

  Con số 1 là số đầu tiên, còn con số 0 là con số cuối cùng, con số chót.

SỐ 2

 

  Ngôi thứ nhì của Đức Thượng Đế phân chia Âm Dương tức là Nhị Nguyên.

SỐ 3

  Tuy nhiên có sự liên lạc giữa Âm và Dương. Vì vậy mới có số 3

TAM  NGUYÊN

  Số 3 là số hiệp hai số thứ tự trong thời gian, nó biểu thị “Sự chuyển động”. Nó gọi là Tam Nguyên.

1+2=3

BA NGÔI CỦA THƯỢNG ĐẾ

 Các Tôn Giáo đều công nhận Đức Thượng Đế phân làm 3 Ngôi:

 Ngôi thứ nhứt: Brahma hay Đức Chúa Cha.

 Ngôi thứ nhì: Vishnou hay là Đứa Chúa Con.

 Ngôi thứ ba: Shiva hay là Đức Chúa Thánh Thần.

BA NGÔI CỦA CON NGƯỜI

     Ngôi thứ nhứt  :  Chơn Thần.

     Ngôi thứ nhì    :  Chơn Nhơn.

     Ngôi thứ ba     :   Phàm Nhơn.

3 KHU VỰC CỦA 7 CÕI THÁI DƯƠNG HỆ

     7 Cõi của Thái Dương Hệ chia ra là 3 khu vực:

     1)-  Khu vực thứ nhứt: Chỗ Đức Thái Dương Thượng Đế ngự là 2 cõi:

            Cõi Tối Đại Niết Bàn.

            Cõi Đại Niết Bàn.

     2)-  Khu vực thứ nhì: Trường tiến hóa của các Vị được Điểm Đạo:

            Cõi Niết Bàn.

            Cõi Bồ Đề.

            Cõi Thượng Thiên: 3 cảnh cao của cõi Thượng Giới ( Cõi Trí Tuệ)

     3)-  Khu vực thứ ba: Trường tiến hóa của chúng sanh:

            Cõi Hạ Thiên 4 cảnh thấp của cõi Thượng Giới (Cõi Trí Tuệ).

            Cõi Trung Giới hay là Dục Giới.

            Cõi Hạ Giới hay là cõi Hồng Trần.

3 TÁNH CỦA VẬT CHẤT GU-NA

            1)-  Tịnh  (Tamas).

            2)-  Động  (Rajas).

            3)-  Hòa Thanh (Satwa).

TAM TÀI

     Tam Tài là : Thiên, Địa, Nhơn.

TRONG GIA ĐÌNH

     a)-  Ông.

            Bà.

            Cha hay Mẹ.

     b)-  Cha.

            Mẹ.

            Con.

NHỮNG NƯỚC TRÊN ĐỊA CẦU THUỘC VỀ SỐ 3

 Người ta gặp số 3 trong nhóm coi Mặt Trời và Mặt Trăng là anh em với nhau.

 Nhóm nầy gồm:

     a)-  Những xứ từ phía Bắc Sông Rhin cho tới Groenland xuyên qua Trung bộ Á Châu.

 Khởi đầu là Edda (Thụy Điển, Na Uy), kế đó là Lithuanie, Russie (Nga), Bulgarie (Bảo Gia Lợi), Serbie (Sẹt-bi), Macédoine , xứ của Samoyèdes, Mông Cổ, gần hết Bắc Á Châu, Nhựt, Tàu, Bắc Mỹ Châu.

     b)-  Những nước riêng biệt từ Đông Dương cho tới quần đảo Polynésie.

     c)- Tại Syrie, ở những xứ của người Hy-bà-lai (Hébreux) thuở xưa cho tới phía nam Arabie, phần đất Phi-Châu ở khoảng giữa Địa Trung Hải và Soudan (ngoại trừ Ai Cập).

SỐ 4

     Số 4 biểu thị Không Gian.

     Số 4 là số chuyển vị hình thức.

Ở cõi Trần, không gian có 3 thứ nguyên hay ba bề: bề dài, bề ngang, bề cao.

     3 thứ nguyên nầy chuyển vị thành 4 phương:  Đông, Tây, Nam, Bắc.

 

NHỮNG XỨ THUỘC VỀ SỐ 4

Người ta gặp số 4 trong nhóm xem Mặt Trăng và Kim Tinh như là cặp nhân tình.

Số 4 ngự ở Ai Cập, những xứ ở Phi Châu thuộc về miền Xích Đạo, Erythrée, Ethiopie, bờ biển và những cù lao Thái Bình Dương.

Thuở xưa từ Pérou tới Bắc Mễ Tây Cơ, bên Trung Hoa, Ấn Độ, Tây bộ Á Châu, người ta gặp những xứ có 4 tỉnh, những thành có 4 cửa. Theo Kinh sách xưa ở Ấn, Ba Tư thì Địa Cầu có 4 bờ biển, 4 phương, 4 cửa, 4 góc. Có lẽ vì lý do nầy mà sách Tàu nói: Trời Tròn, Đất Vuông.

THIÊN KHÔNG TỨ TƯỚNG

(Tétractys ou Quaternaire cosmique).

Khi muốn sanh hóa thì 3 Ngôi phải nhập vô Hỗn Nguơn Nhứt Khí (Mulaprakriti).

Người ta cho Hỗn Nguơn Nhứt Khí là trạng thái thứ tư, hay là một bức màn của Thượng Đế dùng để che mình đặng hiện ra. Người ta vẽ: hình nầy đặng tượng trưng Tinh Thần nhập thế gọi là Tétractys xin gọi là Thiên Không Tứ Tượng.

 

 

(HÌNH VẼ)

Hình đồ

 

 Ở trong đền thờ, nhứt là ở Ấn, ở Cao Miên như tại Đế Thiên, Đế Thích, có những hình 4 mặt tượng trưng 3 Ngôi với Hỗn Ngươn Nhứt Khí.

BÁT QUÁI

 Bát Quái là một thứ biểu tượng hết sức hay. Các bạn nên xem những sách nói về Dịch Học.

 Tôi xin nói vài lời về 64 Hào thôi.

     Số 64 là số 6 cộng với số 4.

     6 + 4 = 10  = 1+0 = 1

     6 cộng với 4 là 10.

     10 là 1cộng 0, mà 1 cộng 0 là 1.

     64 thành trở lại số 1 là Đơn vị độc nhứt.

     64 bao hàm tất cả những hiện tượng trong Trời Đất.

SỐ 7

 Ta biết có 3 Ngôi. Mỗi Ngôi có 2 trạng thái Âm và Dương. 3 Ngôi có 6 trạng thái.  Nhưng còn 1 trạng thái nữa, nó bao hàm 6 trạng thái của 3 Ngôi. Không có trạng thái nầy, 6 trạng thái kia không hiện ra được. Thế nên số 7 là con số mầu nhiệm.

 Có: 

              7 cõi Trời.

              7 Thể Con Người.

              7  Loài, từ Tinh Chất thứ nhứt tới Loài Người.

              7  Giống Dân,  vân vân.

 Mà 3 đặc tánh: Tịnh, Động, Hòa Thanh cũng chỉ có hiệp với nhau có 7 cách mà thôi.

 Tại sao có những nước thuộc về số 3, những nước thuộc về số 4?

 Những lý do đó không có tiết lộ ra. Cũng không ai biết có những xứ thuộc về số 1, số 2 không nữa.

  Những lời nói trên đây không khác nào một giọt nước trong biển cả. Còn biết bao nhiêu biểu tượng khác mà ta không tri ra được, nguyên nhân chỉ vì trình độ tiến hóa của ta chưa tới mức hiểu được mấy điều đó nên không ai dạy bảo.

NHỮNG CHỮ

Trong 25 chữ, duy có chữ M thiêng liêng hơn hết. Nó thuộc về Âm Dương một lượt, tức là có Lưỡng tánh. Nó tượng trưng nước lúc Hồng Mông sơ khởi, tức là không gian vô tận vô biên, cũng gọi là Đại Vực Thẳm.

Chữ M là chữ Thần Bí trong ngôn ngữ Đông Phương và Tây Phương.

Nhiều tiếng Thánh Thiện khởi đầu bằng chữ M.

Tỷ như :

     1)-  Mimra là Ngôi Lời hay là Đức Thượng Đế.

     2)-  Maha Déva: Đại Thiên Thần, tức là Đức Shiva.

     3)-  Métis là Minh Triết Thiêng Liêng.

     4)-  Moot là Minh Triết Thiêng Liêng.

     5)-  Minerve là Minh Triết Thiêng Liêng.

     6)-  Mahat: Đại Trí Tuệ.

     7)-  Maya: Ảo ảnh.

     8)-  Maya: Thân mẫu của Đức Phật Thích Ca.

     9)-  Manou: Đức Bàn Cổ.

   10)-  Marie: Mẹ của Jésus- Christ.

   11)-  Messie: Đấng Cứu Thế.

   12)-  Maitreya: Đức Bồ Tát hiện kim, sau Ngài lên địa vị Đức Phật thứ năm vân vân.

Còn những tiếng thường khác như Mère, tiếng Việt là Mẹ, Má.

NHỮNG TIẾNG NHIỆM MẦU.

 Tiếng TAU là tiếng thiêng liêng nhiệm mầu của Giống Dân Chánh thứ Tư là Giống Atlantes (Ắt-Lan) tổ tiên của Giống da vàng, da đỏ hiện giờ.

Tiếng OM là tiếng thiêng liêng nhiệm mầu của Giống Dân Chánh Thứ Năm Aryen là Giống da Trắng.

Giống Dân Chánh thứ Sáu và Giống Dân Chánh thứ bảy sẽ có hai tiếng nhiệm mầu khác.

Tất cả những tiếng thiêng liêng nhiệm mầu truyền bá cho các Giống Dân Chánh nối tiếp nhau là NHỮNG VẦN của một Tiếng Thiêng Liêng Tối Thượng và Duy Nhứt.

HẾT 


[[1]] Con Mắt Thứ Ba đây là Hạch Óc hay là Tùng Quả Tuyến (Glande pinéale) để luyện Thiên Nhãn và chuyển di tư tưởng, chớ không phải Hạch Mũi (Corps pituitare) để luyện Thần Nhãn.

[[2]]  Nước đây là hình bóng vật chất

[[3]]  Ở đây nói về Sanh viên độc thân, còn những người có đôi bạn khó nhớ, không tiện nói trắng ra vì lẽ nào.

[[4]]  Có chỗ nói là Dyonysos.

[[5]]  Cũng có chỗ nói là Đồ Chơi Dyonysos

[[6]] Các vị Đạo Sư có thể dùng Thần thông đánh tan đạo-binh của Cambyse, nhưng không dám làm nghịch lòng Trời, phải bó tay chịu trói.

[[7]] Quí bạn muốn rõ nhiều xin đọc những quyễn sau đây:

     1-  Les grands Initiés par M. Schumé.

     2-  Pythagore et les mystères-  J. Nallinger.

     3-  Notes sur les secrets ésotériques des Pythagoriciens- J. Nallinger.

     4-  Jamblique- Vie de Phythagore.

     5-  Porphyre-  Vie de Phythagore.

     6-  Ducler-  La vie de Pythagore, ses symboles.

     7-  Henri Durville-  La Science Secrète.

 

[[8]] Câu nầy dịch khác hơn câu chữ Pháp: “Car la volonté siège à côté de la destinée comme puissance directrice de notre évolution”. Bởi vì ý chí ở bên cạnh số mạng là quyền năng điều khiển sự tiến hóa của chúng ta.

[[9]]  Chữ Pháp là Chaste.  Bản dịch là Thanh Tĩnh.  Tôi xin sửa lại là  :  Trinh Khiết.  

[[10]]  Chữ Pháp là Pondéré  -  Etre pondéré, có thể dịch pondéré là Điềm tĩnh

[[11]]  Bản chữ Pháp:  La Race des Dieux – Dòng giống của các vị Thượng Đế.

[[12]]  Không thấy nêu ra những món đó.

[[13]]  Trong Yoga có một tư thế thường tập thì hư hạch mũi, nhứt là Hatha-Yoga: “ Trồng chuối ngược”

[[14]]  Commentaires sur la République de Platon.

[[15]]  Oedipe nghĩa là Cẳng sưng lên.

[[16]] Phénicien là người ở Phénicie. Phénicie là một vùng đất ở giữa Liban và biển.

 

 HOME TÌM HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   HÌNH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS