|
|
HOME T̀M HIỂU NHẬP MÔN sách TIỂU SỬ BẢN TIN H̀NH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 NỮ THẦN ISIS
|
|
Trích GLBT của H.P.B.
Quyển 5
TIẾT 36 - TỤC SÙNG BÁI TINH TÚ CỦA NGOẠI ĐẠO
TỨC
CHIÊM TINH HỌC
|
|
TIẾT 36 - TỤC SÙNG BÁI TINH TÚ CỦA NGOẠI ĐẠO
TỨC
CHIÊM TINH HỌC
Chiêm tinh học đă tồn tại trước Thiên văn
học - Bái tinh thuật Bí truyền đă dạy về các Tinh quân tức “Linh
hồn” của các Hành tinh - Ngũ
kinh Cựu Ước đă đề cập đến chư Thiên thần với Danh hiệu Tsaba -
Chư Kumāras đồng nghĩa với Bảy Thiên thần Tinh tú - Tổng Thiên thần
Michael và Sanat Kumāra (Đức Ngọc Đế) - Bảy đấng Quản đốc là các
Cộng tác viên của những vị Hóa công - Các “Bầu tṛn” và các “Diệu
luân thế giới” - Hành tinh thứ Bảy của vị Đạo trưởng Thiêng liêng Ẩn
tàng - “Rửa tội bằng Lửa” là một điều Bí nhiệm.
TIẾT 36
TỤC SÙNG BÁI TINH TÚ CỦA NGOẠI ĐẠO,
TỨC CHIÊM TINH HỌC.
Các Teraphim của cha Abram Terah, “người
tạo ra h́nh ảnh” và chư Thần linh Kabiri có liên quan trực tiếp với
tục thờ cúng cổ xưa của người Sabean tức Bái tinh thuật. Kiyun tức
Thần Kivan mà dân Do Thái thờ phụng trong sa mạc, chính là Saturn và
Shiva, sau này được gọi là Jehovah. Chiêm tinh học tồn tại trước
thiên văn học, và Astronomus là tước hiệu của đạo trưởng cao
nhất nơi Ai Cập. [[1]]
Một trong những danh xưng
của Jehovah Do Thái giáo. “Sabaoth” tức Chúa tể của các Tập đoàn (tsabaoth)
thuộc về những người Sabean của Chaldea (tức Tsabæans) và có
ngữ căn là từ tsab, nghĩa là một “cái xe”, một “con tàu” và
một “đạo quân”. Thế là Sabaoth có nghĩa đen là đội quân của con
tàu, thủy thủ đoàn tức một tập đoàn hàng hải,
trong giáo lư, bầu trời được gọi một cách ẩn dụ là “đại dương ở
trên”.
Trong bộ sách thú vị Thượng Đế của Moses; Lacour giải thích
rằng mọi từ như
Các đạo quân thiên giới tức các tập đoàn trên trời, có nghĩa chẳng
những là toàn thể các cḥm sao trên trời mà c̣n là Aleim (các cḥm
sao tùy thuộc vào Aleim; aleitzbaout chính là các lực hoặc
linh hồn của các cḥm sao, các mănh lực vốn duy tŕ và hướng dẫn
các hành tinh theo thứ tự diễu hành này; . . . Jae-va-Tzbaout
có nghĩa là Ngài, thủ lĩnh tối cao của các thiên thể đó.
Xét theo tính tập thể, trên cương vị là “Hạng Chơn linh” chính yếu,
không phải là một Chơn linh chính yếu.
V́ người Sabean chỉ tôn sùng các tập đoàn thiên giới - các thiên
thần và thần linh vốn cư ngụ nơi các hành tinh - qua các thần
tượng cho nên thật ra họ chẳng bao giờ sùng bái các ngôi sao. Đó
là v́ dựa vào thẩm quyền của Plato, ta biết rằng trong đám các ngôi
sao và cḥm sao, chỉ nội các hành tinh thôi mới có quyền mang tước
hiệu Thần linh (theoi), v́ danh xưng đó bắt nguồn từ động từ
.
. . .
(chạy hoặc lưu hành). Seldenus cũng bảo ta rằng chúng cũng được gọi
là
các
Hội viên hội đồng Thượng Đế
và vệ sĩ v́ chúng (các hành tinh) vốn có mặt trong hội đồng
giáo chủ của mặt trời.
Học giả Kircher nói:
Các quyền trượng được trang bị cho bảy thiên thần chủ tŕ, ắt giải
thích những danh xưng Rhabdophores và Vệ sĩ được dành cho họ.
Khi được giản lược đến mức diễn đạt đơn giản nhất và ư nghĩa b́nh
dân th́ điều này dĩ nhiên là bái vật giáo. Thế nhưng Bái tinh thuật
Bí truyền tuyệt nhiên không phải là tục thờ cúng các thần tượng, v́
đằng sau các tên gọi “Hội viên hội đồng” và “Vệ sĩ” có mặt
trong “Hội đồng giáo chủ Mặt trời”, người ta không hề ám chỉ các
hành tinh dưới dạng các thiên thể vật chất, mà là các Tinh quân tức
là “Linh hồn” (Chơn linh) của chúng. Nếu lời cầu nguyện “Cha Ta trên
Trời” hoặc “Thánh” nào đó trên “Trời” không phải là một lời thỉnh
nguyện sùng bái thần tượng, th́ “Cha Ta trên Thủy tinh” hoặc “Đức Mẹ
trên Kim tinh”, “Nữ hoàng trên Trời” v.v . . . cũng không khác
ǵ điều đó, v́ đây chính là cùng một sự việc, tên gọi chẳng khác ǵ
hành vi. Từ ngữ (mà người ta dùng trong các lời cầu nguyện của Kitô
giáo) “trên trời” không thể ám chỉ bất cứ điều ǵ trừu tượng. Một
chỗ trú - cho dù của các Thần linh, thiên thần hoặc Thánh (mỗi đấng
này đều là các thực thể và cá thể nhân h́nh) - tất yếu phải có nghĩa
là một địa điểm, một nơi chốn xác định nào đó trên “bầu trời” ấy. V́
thế cho nên xét theo mục đích thờ cúng th́ tuyệt nhiên chẳng có ǵ
là quan trọng cho dù nơi chốn ấy được coi là “bầu trời” nói chung,
không ám chỉ bất cứ nơi đâu nói riêng, hay là nơi chốn ấy ở Mặt
trời, Mặt trăng hoặc Mộc tinh.
Người ta lập luận một cách vô căn cứ rằng có
hai
Đấng thiêng liêng, và hai huyền giai (tức tsabas) trên trời,
trong thế giới cổ xưa cũng như trong thời hiện đại . . .
một đằng là Thượng Đế sống động và tập đoàn của Ngài, c̣n một đằng
là Sa tăng, Lucifer cùng với các hội viên hội đồng và vệ sĩ,
tức các thiên thần sa đọa.
Các đối thủ của ta nói rằng Plato cùng với toàn thể cổ nhân và hai
phần ba nhân loại măi tới nay đều sùng bái Sa tăng và tập đoàn của
y. “Toàn bộ vấn đề chính là việc làm cách nào phân biệt được hai tập
đoàn này”.
Trong Ngũ kinh Cựu Ước, các Kitô hữu Tin Lành không thể t́m thấy
bất cứ điều ǵ đề cập tới các thiên thần, v́ vậy ta có thể dẹp họ
sang một bên. Các tín đồ Công giáo La Mă và tín đồ kinh Kabalah t́m
thấy sự đề cập ấy; các tín đồ Công giáo La Mă t́m thấy v́ họ đă chấp
nhận khoa “thiên thần học” của Do Thái giáo mà không ngờ rằng các
“Tập đoàn tsaba” là những thực dân từ vùng đất của người Ngoại đạo
tới định cư trên lănh thổ Judea; c̣n các tín đồ kinh Kabalah t́m
thấy v́ họ chấp nhận toàn khối Giáo lư Bí truyền, giữ lại hạt nhân
cho bản thân và bỏ lại lớp vỏ cho kẻ bất cẩn.
Cornelius à Lapide vạch ra và chứng tỏ ư nghĩa của từ tsaba
trong câu thơ đầu tiên thuộc Chương ii của Sáng thế kư; và
ông làm như thế một cách chính xác, có lẽ là được các học giả kinh
Kabalah hướng dẫn. Luận điểm của các tín đồ Tin Lành chắc chắn là
sai, v́ trong Ngũ kinh Cựu Ước, người ta đề cập tới các thiên thần
qua từ tsaba, nghĩa là “tập đoàn” các thiên thần. Trong
“Thánh kinh Phổ thông bản” từ này được dịch là ornatus, nghĩa
là “đạo quân tinh tú”, cũng là vật tô điểm cho bầu trời - xét
theo kinh Kabalah. Thế là các học giả thánh kinh của Giáo hội Tin
Lành và các nhà bác học trong đám người duy vật vốn không thể
t́m thấy “các thiên thần” mà Moses có đề cập tới, đă phạm phải một
sai lầm nghiêm trọng. Đó là v́ câu thơ được đọc là:
Thế là trời và đất được hoàn tất cùng với mọi tập đoàn của họ.
“tập đoàn” có nghĩa là “đạo quân các ngôi sao và thiên thần” trong
thuật ngữ Kitô giáo, hai từ “ngôi sao” và “thiên thần” dường như có
thể chuyển đổi lẫn cho nhau. Người ta trích dẫn à Lapide coi như là
một thẩm quyền về điều này. Ông nói rằng
Tsaba
không hề có nghĩa là hoặc điều này hoặc điều kia, mà là
điều này và điều kia, tức là “cả ngôi sao lẫn thiên thần”.
Nếu
các tín đồ Công giáo La Mă đúng về điều
này th́ các Huyền bí gia cũng đúng như thế khi họ quả quyết rằng các
thiên thần mà Giáo hội La Mă tôn thờ; chẳng có ǵ khác hơn là “Bảy
Hành tinh” của ḿnh, các Dhyān Chohans của triết thuyết Phật giáo Bí
truyền; tức là các Kumāras, các “con sinh ra từ trí tuệ của Brahmā”
mà ta biết với tên gọi theo tên cha là Vaidhātra. Ta sẽ hoàn toàn
t́m thấy việc các Kumāras, các Nhà Xây dựng tức các Dhyān Chohans vũ
trụ, đồng nhất với Bảy Thiên thần Tinh tú nếu ta nghiên cứu các tiểu
sử riêng biệt của họ, và nhất là đặc tính của các thủ lĩnh của họ,
Sanat Kumāra (Sanat-Sujāta) cùng với Tổng Thiên thần Michael.
Họ đều là các Quyền năng (Thần lực)
thiêng liêng, cũng như các Kabirim (các Hành tinh) tên gọi của
các Đấng nêu trên ở Chaldea. Fuerot nói rằng tên gọi Kabiri được
dùng để biểu thị bảy âm thanh của
. . . . .
nghĩa là Pater Sadic, Cain hoặc Jupiter, hoặc lại nữa
Jehovah. Có bảy Kumāras - bốn công truyền và ba bí truyền - ta thấy
hồng danh của ba Kumāras bí truyền trong Sānkhya Bhāshya của
Gaudapādāchārya. [[2]]
Các Ngài đều là chư “Thần
linh trinh nguyên” vẫn măi măi thanh khiết và vô tội, và không chịu
sinh con đẻ cái. Xét theo khía cạnh nguyên sơ, bảy “con sinh ra từ
trí tuệ” của Thượng Đế dân Āryan này không phải là các Đấng quản trị
hành tinh, mà trú ngụ ở vượt xa ngoài vùng hành tinh. Nhưng trong hệ
thống Thiên thần của Kitô giáo th́ ta cũng thấy có sự chuyển di bí
nhiệm từ một nhân vật hoặc chức sắc này sang một chức sắc khác. “Bảy
Thiên thần Bản lai Diện mục” thường xuyên hầu cận Thượng Đế, thế
nhưng ta cũng thấy các Ngài mang hồng danh Mikael, Gabriel, Raphael
v.v. .. . trên cương vị là các “Tinh quân” tức là các Đấng
thiêng liêng cấp sinh lực cho bảy hành tinh. Chỉ cần nói rằng Tổng
Thiên thần Michael được gọi là “chiến sĩ trinh nguyên vô địch” v́
Ngài “không chịu sáng tạo”, [[3]]
điều này ắt liên kết Ngài với cả Sanat Sujāta lẫn Đấng Kumāra vốn là
Thần Chiến tranh.
Ta phải chứng tỏ điều nêu trên bằng một ít đoạn trích dẫn. Khi b́nh
luận về “Bảy ngọn đèn nến bằng Vàng” của Thánh John, Cornelius à
Lapide nói:
Bảy ánh sáng này có liên quan tới bảy nhánh của ngọn đèn nến được
dùng để biểu diễn bảy hành tinh [chính] trong các đền thờ Moses và
Solomon . . . . hoặc (c̣n tốt hơn nữa) có liên quan tới bảy
Chơn linh chính yếu có nhiệm vụ giám sát việc cứu rỗi con người và
các giáo hội.
Thánh Jerome nói:
Thật vậy, ngọn đèn nến có bảy
nhánh chính là kiểu mẫu của thế giới và các hành tinh.
Thánh Thomas Aquinas, vị
đại tiến sĩ Công giáo La Mă viết:
Tôi không nhớ là ḿnh đă từng gặp trong
tác phẩm của các vị thánh và triết gia một lời chối bỏ việc các thực
thể tâm linh hướng dẫn các hành tinh . . . Đối với tôi, dường
như là người ta có thể chứng tỏ rằng các thiên thể được hướng dẫn
bởi một trí thông tuệ nào đó hoặc là trực tiếp của Thượng Đế, hoặc
là qua trung gian các thiên thần. Nhưng ư kiến sau có vẻ phù hợp hơn
nhiều so với trật tự các sự vật mà Thánh Denys quả quyết là không có
ngoại lệ, theo đó mọi việc trên trần thế - theo thông lệ - đều bị
Thượng Đế chi phối qua các tác nhân trung gian. [[4]]
Và bây giờ xin độc giả hăy nhớ lại những
điều mà đám người Ngoại đạo nói về vấn đề này. Mọi triết gia và tác
giả cổ điển vốn đă bàn về đề tài này, đều lặp lại cùng với Hermes
Trismegistus rằng bảy Tinh quân - các hành tinh kể cả mặt trời - là
những cộng sự hoặc cộng tác viên của Tổng thể Huyền vi (do
Demiourgos đại diện) có nhiệm vụ bao hàm Càn khôn - thế giới hành
tinh của ta - bên trong bảy ṿng tṛn. Plutarch cho thấy chúng biểu
diễn “ṿng tṛn của các thiên giới”. Lại nữa, cả Denys ở Thracia và
học giả Clemens ở Alexandria đều mô tả rằng trong các đền thờ Ai
Cập, người ta biểu diễn các Tinh quân dưới dạng các h́nh cầu hoặc
bánh xe bí nhiệm luôn luôn chuyển động, điều này khiến cho các Điểm
đạo đồ khẳng định rằng vấn đề chuyển động vĩnh cửu đă được giải
quyết bởi các bánh xe thiên giới trong Mật điện Điểm đạo.
[[5]]
Giáo lư này của Hermes chính
là giáo lư của Pythagoras và của Orpheus trước ông. Proclus gọi nó
là giáo lư “do Thượng Đế ban ra”. Iamblichus nói về nó một cách kính
cẩn nhất. Philostratus bảo các độc giả rằng toàn thể triều đ́nh tinh
tú của bầu trời Babylon được biểu diễn trong các đền thờ,
nơi các bầu tṛn làm bằng ngọc sa phia và nâng đỡ các h́nh ảnh bằng
vàng của chư thần linh riêng biệt của ḿnh.
Các đền thờ ở Ba Tư đặc biệt nổi tiếng v́ những sự biểu diễn này.
Nếu ta có thể tin được Cedrenus th́
Khi đi vào đô thị Bazaeum, Hoàng đế
Heraclius choáng váng v́ kinh ngạc và thán phục trước cỗ máy khổng
lồ được chế tạo cho Vua Chosroes, nó biểu diễn bầu trời ban đêm với
các hành tinh và mọi ṿng quay của chúng, cùng với các thiên thần
chủ tŕ chúng. [[6]]
Chính là dựa trên “những h́nh cầu” này mà Pythagoras đă nghiên cứu
thiên văn học trong mật điện của những đền thờ mà ông lui
tới. Và chính ở đó, vào lúc ông được Điểm đạo, sự xoay ṿng măi măi
của những h́nh cầu ấy - Clemens và Denys gọi chúng là “các bánh xe
bí nhiệm”, c̣n Plutarch gọi chúng là “các bánh xe thế giới” - đă
chứng tỏ cho ông thấy tính chân thực của điều đă được tiết lộ cho y,
nghĩa là hệ nhật tâm, đại bí nhiệm của Mật điện. Mọi khám phá của
thiên văn học hiện đại cũng như mọi bí mật có thể tiết lộ cho nó
trong tương lai, đều được bao hàm trong các đài thiên văn bí mật và
các Điểm đạo Sảnh của các đền thờ ở Ai Cập và Ấn Độ cổ xưa. Chính ở
những nơi đó mà người Chaldea đă tính toán, tiết lộ cho thế giới
phàm phu không nhiều hơn mức mà nó đáng được phép nhận.
Chắc chắn là chúng ta có thể và sẽ được nói cho biết rằng cổ nhân
không hề biết tới Thiên vương tinh, và cổ nhân bắt buộc phải kể tới
mặt trời trong đám các hành tinh trên cương vị là thủ lĩnh của
chúng. Có ai biết ra sao chăng? Thiên vương tinh là một tên gọi
hiện đại, nhưng có một điều là chắc chắn: cổ nhân có một hành tinh,
“một hành tinh bí nhiệm” mà họ chẳng bao giờ đặt tên và chỉ có Nhà
Thiên văn Tối cao, vị Đạo trưởng mới có thể “tán phét” về điều đó.
Nhưng hành tinh thứ bảy này không phải là mặt trời mà là Đạo trưởng
Thiêng liêng ẩn tàng; nghe nói là Ngài có một vương miện và bao gồm
“bảy mươi bảy bánh xe nhỏ hơn” bên trong
bánh xe của nó. Trong hệ thống cổ sơ của Ấn Độ, mặt trời là Thượng
Đế hữu h́nh “Sūrya”, bên trên Ngài c̣n có một Đấng khác, Thiên nhân.
Sau khi đă lập nên hệ thống thế giới vật chất dựa vào nguyên kiểu Vũ
trụ Vô h́nh tức Đại Thiên địa, Thiên nhân đă điều động Rāsa Mandala
thiên giới trong các Bí pháp; khi mà nghe nói ông:
dùng bàn chân phải cung cấp xung lực cho Tyam tức Bhūmi [Trái
Đất] điều này khiến cho nó quay tṛn một ṿng xoay kép.
Hermes lại nói ǵ? Khi giải thích về vũ trụ học Ai Cập, ông kêu lên
rằng:
Hăy
nghe đây, hỡi con ta …. Quyền năng cũng đă tạo ra bảy tác nhân, họ
bao hàm thế giới vật chất bên trong các ṿng tṛn của ḿnh, và tác
động của họ được gọi là số phận . . . Khi tất cả đều tuân phục con
người th́ Bảy tác nhân, vốn sẵn ḷng ưu đăi trí thông tuệ của con
người, ắt trao truyền các quyền năng của ḿnh cho y. Nhưng ngay khi
con người biết được bản chất thật của chúng và bản chất của chính
ḿnh, th́ y bèn muốn thâm nhập vào bên trong và vượt quá các ṿng
tṛn; thế là phá tan chu vi của chúng bằng cách tiếm đoạt quyền lực
của Đấng vốn khống chế được bản thân Lửa [Mặt trời], sau đó, sau khi
đă cướp lấy một trong các Bánh xe Mặt trời của Lửa thiêng, y bèn sa
vào ṿng nô lệ. [[7]]
Ở đây người ta không có ư nói tới Prometheus. Prometheus là
một biểu tượng để nhân cách hóa toàn thể loài người liên quan tới
một biến cố vốn xảy ra trong khi nhân loại c̣n ấu trĩ - tạm gọi là
“sự Rửa tội bằng Lửa” - đây là một bí nhiệm bên trong Đại Bí nhiệm
Prometheus, một điều mà hiện nay ta chỉ có thể nhắc tới một cách đại
khái. V́ trí năng con người tăng trưởng dị thường và nguyên khí thứ
năm (Manas) nơi con người phát triển trong thời đại ta, cho nên sự
tiến bộ nhanh chóng của nó đă làm tê liệt những nhận thức tâm linh.
Trí năng thường sinh hoạt gây tổn hại cho minh triết, và trong t́nh
huống hiện nay, loài người hoàn toàn chưa chuẩn bị để hiểu được vở
kịch dễ sợ “con người không tuân theo các định luật Thiên nhiên với
hậu quả là sau đó bị Sa đọa”. Ta chỉ có thể nói bóng gió tới nó ở
đúng chỗ.
[[1]]
Khi Đạo trưởng đạt được bậc cuối cùng th́ Ngài bèn xuất lộ
từ nơi sâu kín linh thiêng tên là Manneras và được
ban cho chữ Tau bằng vàng (chữ thập Ai Cập), sau này
nó được đặt trên ngực Ngài và chôn cùng với Ngài.
[[2]]
Ba hồng danh bí nhiệm là “Sana, Sanat Sujāta và Kapila”,
trong khi bốn Thần linh công truyền được gọi là Sanat
Kumāra, Sananda, Sanaka và Sanātana.
[[3]]
Trong hệ thống Ấn Độ, một vị Kumāra khác, “Thần chiến tranh”
được gọi là “người độc thân vĩnh hằng” - “chiến sĩ trinh
nguyên”. Ngài là Thánh Michael của dân Āryan.
[[4]]
Chúng tôi tŕnh bày nguyên văn: “Cœlestia
corpora moveri a spirituali
creatura, a nemine Sanctorum vel philosophorum,
negatum, legisse memini. (Tác phẩm ngắn X, mục iii) .
. . . Mihi autem videtur, quod immediate, vel a mediantibus
angelis. Sed quod mediantibus angelis ea moveat, congruit
rerum ordine, quem Dionysius infallibilem asserit, ut
inferirora a Deo per Media secundum cursum communem
administrentur”. (Tác phẩm ngắn, II, mục ii). Và nếu
thế, nếu Thượng Đế chẳng bao giờ can thiệp vào các
định luật Thiên nhiên vốn đă được xác lập “một lần cho măi
măi” mà để dành việc đó cho các Đấng quản trị của ḿnh, th́
tại sao việc “đám người Ngoại đạo” gọi họ là chư Thần linh
lại bị coi là thờ cúng thần tượng?
[[5]]
Nơi một trong các quyển sách của Des Mousseaux bàn về Thần
quỷ học (Pháp thuật vào thế kỷ thứ 19, nếu chúng ta
không lầm phát biểu của Tu viện trưởng Huc), người ta t́m
thấy - và tác giả chứng nhận là đă nghe thấy câu chuyện sau
đây do chính Tu viện trưởng lặp đi lặp lại. Trong một tu
viện Lạt ma ở Tây Tạng, nhà truyền giáo t́m thấy điều sau
đây:
Đó
chỉ là một bức vải để vẽ mà không có dụng cụ cơ khí sơ sài
nhất nào gắn vào (khách viếng thăm có thể chứng tỏ điều này
bằng cách thoải mái khảo sát nó). Nó biểu diễn một phong
cảnh có ánh trăng soi, nhưng mặt trăng tuyệt nhiên không bất
động và chết cứng, ngược hẳn lại, v́ theo Tu viện trưởng
người ta ắt nói rằng chính mặt trăng (hoặc ít ra là đối thể
sống động của nó) đă soi sáng bức vẽ. Mỗi pha, mỗi cấu h́nh,
mỗi chuyển động của vệ tinh chúng ta, đều được lặp lại trong
bản sao của nó, nơi chuyển động và sự tiến tới của mặt trăng
trong bức vẽ linh thiêng. “Bạn thấy hành tinh này trong bức
vẽ lướt như một h́nh lưỡi liềm hoặc trăng rằm, chiếu sáng
rực rỡ đi qua đằng sau đám mây, ló ra hoặc mọc, tương ứng
một cách dị thường với thiên thể chiếu sáng thực. Nói tóm
lại, đó là một sự mô phỏng rực rỡ và hoàn hảo nhất của nữ
hoàng lợt lạt ban đêm, vốn nhận được sự ngưỡng mộ của biết
bao nhiêu người thời xưa. Thông qua nhiều nhân chứng và
nguồn tin đáng tin cậy nhất, ta biết rằng những “bộ máy” như
thế - không phải là các bức vẽ trên vải - có tồn tại ở một
vài đền thờ Tây Tạng; cũng như “các bánh xe tinh tú” biểu
diễn các hành tinh và được giữ kỹ v́ cùng một mục đích
(chiêm tinh học và pháp thuật). Phát biểu của Huc được dịch
lại trong Nữ thần Isis lộ diện (I, trang 441) từ
quyển sách của Des Mousseaux.
[[6]]
Cedreneus, trang 338. Cho dù được làm ra bằng cơ cấu đồng
hồ hay pháp thuật th́ những cỗ máy như thế - trọn
cả các tinh cầu với các hành tinh xoay chung quanh - đều
được t́m thấy nơi các Thánh điện và cho đến nay một số vẫn
c̣n tồn tại ở Nhật, trong một đền thờ bí mật dưới đất ở
Mikados cổ xưa, cũng như ở hai nơi khác.
HOME T̀M HIỂU NHẬP MÔN sách TIỂU SỬ BẢN TIN H̀NH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 NỮ THẦN ISIS