Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lư

 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS

Trích GLBT của H.P.B.

Quyển  5

Bản dịch: www.thongthiengoc.com

TIẾT 36 - TỤC SÙNG BÁI TINH TÚ CỦA NGOẠI ĐẠO

 TỨC CHIÊM TINH HỌC

 

TIẾT 36 - TỤC SÙNG BÁI TINH TÚ CỦA NGOẠI ĐẠO

 TỨC CHIÊM TINH HỌC

 

Chiêm tinh học đă tồn tại trước Thiên văn học - Bái tinh thuật Bí truyền đă dạy về các Tinh quân tức “Linh hồn” của các Hành tinh - Ngũ kinh Cựu Ước đă đề cập đến chư Thiên thần với Danh hiệu Tsaba - Chư Kumāras đồng nghĩa với Bảy Thiên thần Tinh tú - Tổng Thiên thần Michael và Sanat Kumāra (Đức Ngọc Đế) - Bảy đấng Quản đốc là các Cộng tác viên của những vị Hóa công - Các “Bầu tṛn” và các “Diệu luân thế giới” - Hành tinh thứ Bảy của vị Đạo trưởng Thiêng liêng Ẩn tàng - “Rửa tội bằng Lửa” là một điều Bí nhiệm.

 

TIẾT 36

 

TỤC SÙNG BÁI TINH TÚ CỦA NGOẠI ĐẠO,

TỨC CHIÊM TINH HỌC.

 

Các Teraphim của cha Abram Terah, “người tạo ra h́nh ảnh” và chư Thần linh Kabiri có liên quan trực tiếp với tục thờ cúng cổ xưa của người Sabean tức Bái tinh thuật. Kiyun tức Thần Kivan mà dân Do Thái thờ phụng trong sa mạc, chính là Saturn và Shiva, sau này được gọi là Jehovah. Chiêm tinh học tồn tại trước thiên văn học, và Astronomus là tước hiệu của đạo trưởng cao nhất nơi Ai Cập. [[1]] Một trong những danh xưng của Jehovah Do Thái giáo. “Sabaoth” tức Chúa tể của các Tập đoàn (tsabaoth) thuộc về những người Sabean của Chaldea (tức Tsabæans) và có ngữ căn là từ tsab, nghĩa là một “cái xe”, một “con tàu” và một “đạo quân”. Thế là Sabaoth có nghĩa đen là đội quân của con tàu, thủy thủ đoàn tức một tập đoàn hàng hải, trong giáo lư, bầu trời được gọi một cách ẩn dụ là “đại dương ở trên”. 

Trong bộ sách thú vị Thượng Đế của Moses; Lacour giải thích rằng mọi từ như 

Các đạo quân thiên giới tức các tập đoàn trên trời, có nghĩa chẳng những là toàn thể các cḥm sao trên trời mà c̣n là Aleim (các cḥm sao tùy thuộc vào Aleim; aleitzbaout chính là các lực hoặc linh hồn của các cḥm sao, các mănh lực vốn duy tŕ và hướng dẫn các hành tinh theo thứ tự diễu hành này; . . .  Jae-va-Tzbaout có nghĩa là Ngài, thủ lĩnh tối cao của các thiên thể đó.

 

Xét theo tính tập thể, trên cương vị là “Hạng Chơn linh” chính yếu, không phải là một Chơn linh chính yếu.

V́ người Sabean chỉ tôn sùng các tập đoàn thiên giới - các thiên thần và thần linh vốn cư ngụ nơi các hành tinh - qua các thần tượng cho nên thật ra họ chẳng bao giờ sùng bái các ngôi sao. Đó là v́ dựa vào thẩm quyền của Plato, ta biết rằng trong đám các ngôi sao và cḥm sao, chỉ nội các hành tinh thôi mới có quyền mang tước hiệu Thần linh (theoi), v́ danh xưng đó bắt nguồn từ động từ  . . . . (chạy hoặc lưu hành). Seldenus cũng bảo ta rằng chúng cũng được gọi là

 các Hội viên hội đồng Thượng Đếvệ sĩ v́ chúng (các hành tinh) vốn có mặt trong hội đồng giáo chủ của mặt trời.

Học giả Kircher nói:

Các quyền trượng được trang bị cho bảy thiên thần chủ tŕ, ắt giải thích những danh xưng Rhabdophores và Vệ sĩ được dành cho họ. 

 

Khi được giản lược đến mức diễn đạt đơn giản nhất và ư nghĩa b́nh dân th́ điều này dĩ nhiên là bái vật giáo. Thế nhưng Bái tinh thuật Bí truyền tuyệt nhiên không phải là tục thờ cúng các thần tượng, v́ đằng sau các tên gọi  “Hội viên hội đồng” và “Vệ sĩ” có mặt trong “Hội đồng giáo chủ Mặt trời”, người ta không hề ám chỉ các hành tinh dưới dạng các thiên thể vật chất, mà là các Tinh quân tức là “Linh hồn” (Chơn linh) của chúng. Nếu lời cầu nguyện “Cha Ta trên Trời” hoặc “Thánh” nào đó trên “Trời” không phải là một lời thỉnh nguyện sùng bái thần tượng, th́ “Cha Ta trên Thủy tinh” hoặc “Đức Mẹ trên Kim tinh”, “Nữ hoàng trên Trời” v.v  . . . cũng không khác ǵ điều đó, v́ đây chính là cùng một sự việc, tên gọi chẳng khác ǵ hành vi. Từ ngữ (mà người ta dùng trong các lời cầu nguyện của Kitô giáo) “trên trời” không thể ám chỉ bất cứ điều ǵ trừu tượng. Một chỗ trú - cho dù của các Thần linh, thiên thần hoặc Thánh (mỗi đấng này đều là các thực thể và cá thể nhân h́nh) - tất yếu phải có nghĩa là một địa điểm, một nơi chốn xác định nào đó trên “bầu trời” ấy. V́ thế cho nên xét theo mục đích thờ cúng th́ tuyệt nhiên chẳng có ǵ là quan trọng cho dù nơi chốn ấy được coi là “bầu trời” nói chung, không ám chỉ bất cứ nơi đâu nói riêng, hay là nơi chốn ấy ở Mặt trời, Mặt trăng hoặc Mộc tinh.

 Người ta lập luận một cách vô căn cứ rằng có

 hai Đấng thiêng liêng, và hai huyền giai (tức tsabas) trên trời, trong thế giới cổ xưa cũng như trong thời hiện đại . . .   một đằng là Thượng Đế sống động và tập đoàn của Ngài, c̣n một đằng là Sa tăng, Lucifer cùng với các hội viên hội đồng và vệ sĩ, tức các thiên thần sa đọa.

 

 Các đối thủ của ta nói rằng Plato cùng với toàn thể cổ nhân và hai phần ba nhân loại măi tới nay đều sùng bái Sa tăng và tập đoàn của y. “Toàn bộ vấn đề chính là việc làm cách nào phân biệt được hai tập đoàn này”.

 Trong Ngũ kinh Cựu Ước, các Kitô hữu Tin Lành không thể t́m thấy bất cứ điều ǵ đề cập tới các thiên thần, v́ vậy ta có thể dẹp họ sang một bên. Các tín đồ Công giáo La Mă và tín đồ kinh Kabalah t́m thấy sự đề cập ấy; các tín đồ Công giáo La Mă t́m thấy v́ họ đă chấp nhận khoa “thiên thần học” của Do Thái giáo mà không ngờ rằng các “Tập đoàn tsaba” là những thực dân từ vùng đất của người Ngoại đạo tới định cư trên lănh thổ Judea; c̣n các tín đồ kinh Kabalah t́m thấy v́ họ chấp nhận toàn khối Giáo lư Bí truyền, giữ lại hạt nhân cho bản thân và bỏ lại lớp vỏ cho kẻ bất cẩn.

Cornelius à Lapide vạch ra và chứng tỏ ư nghĩa của từ tsaba trong câu thơ đầu tiên thuộc Chương ii của Sáng thế kư; và ông làm như thế một cách chính xác, có lẽ là được các học giả kinh Kabalah hướng dẫn. Luận điểm của các tín đồ Tin Lành chắc chắn là sai, v́ trong Ngũ kinh Cựu Ước, người ta đề cập tới các thiên thần qua từ tsaba, nghĩa là “tập đoàn” các thiên thần. Trong “Thánh kinh Phổ thông bản” từ này được dịch là ornatus, nghĩa là “đạo quân tinh tú”, cũng là vật tô điểm cho bầu trời - xét theo kinh Kabalah. Thế là các học giả thánh kinh của Giáo hội Tin Lành và các nhà bác học trong đám người duy vật vốn không thể t́m thấy “các thiên thần” mà Moses có đề cập tới, đă phạm phải một sai lầm nghiêm trọng. Đó là v́ câu thơ được đọc là:

Thế là trời và đất được hoàn tất cùng với mọi tập đoàn của họ.

“tập đoàn” có nghĩa là “đạo quân các ngôi sao và thiên thần” trong thuật ngữ Kitô giáo, hai từ “ngôi sao” và “thiên thần” dường như có thể chuyển đổi lẫn cho nhau. Người ta trích dẫn à Lapide coi như là một thẩm quyền về điều này. Ông nói rằng 

Tsaba không hề có nghĩa là hoặc điều này hoặc điều kia, mà là điều này và điều kia, tức là “cả ngôi sao lẫn thiên thần”.

 

Nếu các tín đồ Công giáo La Mă đúng về điều này th́ các Huyền bí gia cũng đúng như thế khi họ quả quyết rằng các thiên thần mà Giáo hội La Mă tôn thờ; chẳng có ǵ khác hơn là “Bảy Hành tinh” của ḿnh, các Dhyān Chohans của triết thuyết Phật giáo Bí truyền; tức là các Kumāras, các “con sinh ra từ trí tuệ của Brahmā” mà ta biết với tên gọi theo tên cha là Vaidhātra. Ta sẽ hoàn toàn t́m thấy việc các Kumāras, các Nhà Xây dựng tức các Dhyān Chohans vũ trụ, đồng nhất với Bảy Thiên thần Tinh tú nếu ta nghiên cứu các tiểu sử riêng biệt của họ, và nhất là đặc tính của các thủ lĩnh của họ, Sanat Kumāra (Sanat-Sujāta) cùng với Tổng Thiên thần Michael. Họ đều là các Quyền năng (Thần lực) thiêng liêng, cũng như các Kabirim (các Hành tinh) tên gọi của các Đấng nêu trên ở Chaldea. Fuerot nói rằng tên gọi Kabiri được dùng để biểu thị bảy âm thanh của . . . . . nghĩa là Pater Sadic, Cain hoặc Jupiter, hoặc lại nữa Jehovah. Có bảy Kumāras - bốn công truyền và ba bí truyền - ta thấy hồng danh của ba Kumāras bí truyền trong Sānkhya Bhāshya của Gaudapādāchārya. [[2]] Các Ngài đều là chư “Thần linh trinh nguyên” vẫn măi măi thanh khiết và vô tội, và không chịu sinh con đẻ cái. Xét theo khía cạnh nguyên sơ, bảy “con sinh ra từ trí tuệ” của Thượng Đế dân Āryan này không phải là các Đấng quản trị hành tinh, mà trú ngụ ở vượt xa ngoài vùng hành tinh. Nhưng trong hệ thống Thiên thần của Kitô giáo th́ ta cũng thấy có sự chuyển di bí nhiệm từ một nhân vật hoặc chức sắc này sang một chức sắc khác. “Bảy Thiên thần Bản lai Diện mục” thường xuyên hầu cận Thượng Đế, thế nhưng ta cũng thấy các Ngài mang hồng danh Mikael, Gabriel, Raphael v.v. ..  . trên cương vị là các “Tinh quân” tức là các Đấng thiêng liêng cấp sinh lực cho bảy hành tinh. Chỉ cần nói rằng Tổng Thiên thần Michael được gọi là “chiến sĩ trinh nguyên vô địch” v́ Ngài “không chịu sáng tạo”, [[3]] điều này ắt liên kết Ngài với cả Sanat Sujāta lẫn Đấng Kumāra vốn là Thần Chiến tranh.

Ta phải chứng tỏ điều nêu trên bằng một ít đoạn trích dẫn. Khi b́nh luận về “Bảy ngọn đèn nến bằng Vàng” của Thánh John, Cornelius à Lapide nói:

Bảy ánh sáng này có liên quan tới bảy nhánh của ngọn đèn nến được dùng để biểu diễn bảy hành tinh [chính] trong các đền thờ Moses và Solomon . . . .  hoặc (c̣n tốt hơn nữa) có liên quan tới bảy Chơn linh chính yếu có nhiệm vụ giám sát việc cứu rỗi con người và các giáo hội.

Thánh Jerome nói:

Thật vậy, ngọn đèn nến có bảy nhánh chính là kiểu mẫu của thế giới và các hành tinh.

Thánh Thomas Aquinas, vị  đại tiến sĩ Công giáo La Mă viết:

Tôi không nhớ là ḿnh đă từng gặp trong tác phẩm của các vị thánh và triết gia một lời chối bỏ việc các thực thể tâm linh hướng dẫn các hành tinh . . .  Đối với tôi, dường như là người ta có thể chứng tỏ rằng các thiên thể được hướng dẫn bởi một trí thông tuệ nào đó hoặc là trực tiếp của Thượng Đế, hoặc là qua trung gian các thiên thần. Nhưng ư kiến sau có vẻ phù hợp hơn nhiều so với trật tự các sự vật mà Thánh Denys quả quyết là không có ngoại lệ, theo đó mọi việc trên trần thế - theo thông lệ - đều bị Thượng Đế chi phối qua các tác nhân trung gian. [[4]]

Và bây giờ xin độc giả hăy nhớ lại những điều mà đám người Ngoại đạo nói về vấn đề này. Mọi triết gia và tác giả cổ điển vốn đă bàn về đề tài này, đều lặp lại cùng với Hermes Trismegistus rằng bảy Tinh quân - các hành tinh kể cả mặt trời - là những cộng sự hoặc cộng tác viên của Tổng thể Huyền vi (do Demiourgos đại diện) có nhiệm vụ bao hàm Càn khôn - thế giới hành tinh của ta - bên trong bảy ṿng tṛn. Plutarch cho thấy chúng biểu diễn “ṿng tṛn của các thiên giới”. Lại nữa, cả Denys ở Thracia và học giả Clemens ở Alexandria đều mô tả rằng trong các đền thờ Ai Cập, người ta biểu diễn các Tinh quân dưới dạng các h́nh cầu hoặc bánh xe bí nhiệm luôn luôn chuyển động, điều này khiến cho các Điểm đạo đồ khẳng định rằng vấn đề chuyển động vĩnh cửu đă được giải quyết bởi các bánh xe thiên giới trong Mật điện Điểm đạo. [[5]] Giáo lư này của Hermes chính là giáo lư của Pythagoras và của Orpheus trước ông. Proclus gọi nó là giáo lư “do Thượng Đế ban ra”. Iamblichus nói về nó một cách kính cẩn nhất. Philostratus bảo các độc giả rằng toàn thể triều đ́nh tinh tú của bầu trời Babylon được biểu diễn trong các đền thờ,

nơi các bầu tṛn làm bằng ngọc sa phia và nâng đỡ các h́nh ảnh bằng vàng của chư thần linh riêng biệt của ḿnh.

 

Các đền thờ ở Ba Tư đặc biệt nổi tiếng v́ những sự biểu diễn này. Nếu ta có thể tin được Cedrenus th́

Khi đi vào đô thị Bazaeum, Hoàng đế Heraclius choáng váng v́ kinh ngạc và thán phục trước cỗ máy khổng lồ được chế tạo cho Vua Chosroes, nó biểu diễn bầu trời ban đêm với các hành tinh và mọi ṿng quay của chúng, cùng với các thiên thần chủ tŕ chúng. [[6]]

Chính là dựa trên “những h́nh cầu” này mà Pythagoras đă nghiên cứu thiên văn học trong mật điện của những đền thờ mà ông lui tới. Và chính ở đó, vào lúc ông được Điểm đạo, sự xoay ṿng măi măi của những h́nh cầu ấy - Clemens và Denys gọi chúng là “các bánh xe bí nhiệm”, c̣n Plutarch gọi chúng là “các bánh xe thế giới” - đă chứng tỏ cho ông thấy tính chân thực của điều đă được tiết lộ cho y, nghĩa là hệ nhật tâm, đại bí nhiệm của Mật điện. Mọi khám phá của thiên văn học hiện đại cũng như mọi bí mật có thể tiết lộ cho nó trong tương lai, đều được bao hàm trong các đài thiên văn bí mật và các Điểm đạo Sảnh của các đền thờ ở Ai Cập và Ấn Độ cổ xưa. Chính ở những nơi đó mà người Chaldea đă tính toán, tiết lộ cho thế giới phàm phu không nhiều hơn mức mà nó đáng được phép nhận.

 Chắc chắn là chúng ta có thể và sẽ được nói cho biết rằng cổ nhân không hề biết tới Thiên vương tinh, và cổ nhân bắt buộc phải kể tới mặt trời trong đám các hành tinh trên cương vị là thủ lĩnh của chúng. Có ai biết ra sao chăng? Thiên vương tinh là một tên gọi hiện đại, nhưng có một điều là chắc chắn: cổ nhân có một hành tinh, “một hành tinh bí nhiệm” mà họ chẳng bao giờ đặt tên và chỉ có Nhà Thiên văn Tối cao, vị Đạo trưởng mới có thể “tán phét” về điều đó. Nhưng hành tinh thứ bảy này không phải là mặt trời mà là Đạo trưởng Thiêng liêng ẩn tàng; nghe nói là Ngài có một vương miện và bao gồm “bảy mươi bảy bánh xe nhỏ hơn” bên trong bánh xe của nó. Trong hệ thống cổ sơ của Ấn Độ, mặt trời là Thượng Đế hữu h́nh “Sūrya”, bên trên Ngài c̣n có một Đấng khác, Thiên nhân. Sau khi đă lập nên hệ thống thế giới vật chất dựa vào nguyên kiểu Vũ trụ Vô h́nh tức Đại Thiên địa, Thiên nhân đă điều động Rāsa Mandala thiên giới trong các Bí pháp; khi mà nghe nói ông: 

dùng bàn chân phải cung cấp xung lực cho Tyam tức Bhūmi [Trái Đất] điều này khiến cho nó quay tṛn một ṿng xoay kép.

Hermes lại nói ǵ? Khi giải thích về vũ trụ học Ai Cập, ông kêu lên rằng:

 Hăy nghe đây, hỡi con ta …. Quyền năng cũng đă tạo ra bảy tác nhân, họ bao hàm thế giới vật chất bên trong các ṿng tṛn của ḿnh, và tác động của họ được gọi là số phận . . . Khi tất cả đều tuân phục con người th́ Bảy tác nhân, vốn sẵn ḷng ưu đăi trí thông tuệ của con người, ắt trao truyền các quyền năng của ḿnh cho y. Nhưng ngay khi con người biết được bản chất thật của chúng và bản chất của chính ḿnh, th́ y bèn muốn thâm nhập vào bên trong và vượt quá các ṿng tṛn; thế là phá tan chu vi của chúng bằng cách tiếm đoạt quyền lực của Đấng vốn khống chế được bản thân Lửa [Mặt trời], sau đó, sau khi đă cướp lấy một trong các Bánh xe Mặt trời của Lửa thiêng, y bèn sa vào ṿng nô lệ. [[7]]

Ở đây người ta không có ư nói tới Prometheus. Prometheus là một biểu tượng để nhân cách hóa toàn thể loài người liên quan tới một biến cố vốn xảy ra trong khi nhân loại c̣n ấu trĩ - tạm gọi là “sự Rửa tội bằng Lửa” - đây là một bí nhiệm bên trong Đại Bí nhiệm Prometheus, một điều mà hiện nay ta chỉ có thể nhắc tới một cách đại khái. V́ trí năng con người tăng trưởng dị thường và nguyên khí thứ năm (Manas) nơi con người phát triển trong thời đại ta, cho nên sự tiến bộ nhanh chóng của nó đă làm tê liệt những nhận thức tâm linh. Trí năng thường sinh hoạt gây tổn hại cho minh triết, và trong t́nh huống hiện nay, loài người hoàn toàn chưa chuẩn bị để hiểu được vở kịch dễ sợ “con người không tuân theo các định luật Thiên nhiên với hậu quả là sau đó bị Sa đọa”. Ta chỉ có thể nói bóng gió tới nó ở đúng chỗ. 

 

 


[[1]] Khi Đạo trưởng đạt được bậc cuối cùng th́ Ngài bèn xuất lộ từ nơi sâu kín linh thiêng tên là Manneras và được ban cho chữ Tau bằng vàng (chữ thập Ai Cập), sau này nó được đặt trên ngực Ngài và chôn cùng với Ngài.

[[2]] Ba hồng danh bí nhiệm là “Sana, Sanat Sujāta và Kapila”, trong khi bốn Thần linh công truyền được gọi là Sanat Kumāra, Sananda, Sanaka và Sanātana. 

[[3]] Trong hệ thống Ấn Độ, một vị Kumāra khác, “Thần chiến tranh” được gọi là “người độc thân vĩnh hằng” - “chiến sĩ trinh nguyên”. Ngài là Thánh Michael của dân Āryan.

[[4]] Chúng tôi tŕnh bày nguyên văn: “Cœlestia corpora moveri a spirituali creatura, a nemine Sanctorum vel philosophorum, negatum, legisse memini. (Tác phẩm ngắn X, mục iii) . . . . Mihi autem videtur, quod immediate, vel a mediantibus angelis. Sed quod mediantibus angelis ea moveat, congruit rerum ordine, quem Dionysius infallibilem asserit, ut inferirora a Deo per Media secundum cursum communem administrentur”. (Tác phẩm ngắn, II, mục ii). Và nếu thế, nếu Thượng Đế chẳng bao giờ can thiệp vào các định luật Thiên nhiên vốn đă được xác lập “một lần cho măi măi” mà để dành việc đó cho các Đấng quản trị của ḿnh, th́ tại sao việc “đám người Ngoại đạo” gọi họ là chư Thần linh lại bị coi là thờ cúng thần tượng?

[[5]] Nơi một trong các quyển sách của Des Mousseaux bàn về Thần quỷ học (Pháp thuật vào thế kỷ thứ 19, nếu chúng ta không lầm phát biểu của Tu viện trưởng Huc), người ta t́m thấy - và tác giả chứng nhận là đă nghe thấy câu chuyện sau đây do chính Tu viện trưởng lặp đi lặp lại. Trong một tu viện Lạt ma ở Tây Tạng, nhà truyền giáo t́m thấy điều sau đây: 

 Đó chỉ là một bức vải để vẽ mà không có dụng cụ cơ khí sơ sài nhất nào gắn vào (khách viếng thăm có thể chứng tỏ điều này bằng cách thoải mái khảo sát nó). Nó biểu diễn một phong cảnh có ánh trăng soi, nhưng mặt trăng tuyệt nhiên không bất động và chết cứng, ngược hẳn lại, v́ theo Tu viện trưởng người ta ắt nói rằng chính mặt trăng (hoặc ít ra là đối thể sống động của nó) đă soi sáng bức vẽ. Mỗi pha, mỗi cấu h́nh, mỗi chuyển động của vệ tinh chúng ta, đều được lặp lại trong bản sao của nó, nơi chuyển động và sự tiến tới của mặt trăng trong bức vẽ linh thiêng. “Bạn thấy hành tinh này trong bức vẽ lướt như một h́nh lưỡi liềm hoặc trăng rằm, chiếu sáng rực rỡ đi qua đằng sau đám mây, ló ra hoặc mọc, tương ứng một cách dị thường với thiên thể chiếu sáng thực. Nói tóm lại, đó là một sự mô phỏng rực rỡ và hoàn hảo nhất của nữ hoàng lợt lạt ban đêm, vốn nhận được sự ngưỡng mộ của biết bao nhiêu người thời xưa. Thông qua nhiều nhân chứng và nguồn tin đáng tin cậy nhất, ta biết rằng những “bộ máy” như thế - không phải là các bức vẽ trên vải - có tồn tại ở một vài đền thờ Tây Tạng; cũng như “các bánh xe tinh tú” biểu diễn các hành tinh và được giữ kỹ v́ cùng một mục đích (chiêm tinh học và pháp thuật). Phát biểu của Huc được dịch lại trong Nữ thần Isis lộ diện (I, trang 441) từ quyển sách của Des Mousseaux.

[[6]] Cedreneus, trang 338. Cho dù được làm ra bằng cơ cấu đồng hồ hay pháp thuật th́ những cỗ máy như thế - trọn cả các tinh cầu với các hành tinh xoay chung quanh - đều được t́m thấy nơi các Thánh điện và cho đến nay một số vẫn c̣n tồn tại ở Nhật, trong một đền thờ bí mật dưới đất ở Mikados cổ xưa, cũng như ở hai nơi khác.

[[7]] Ai Cập Hiện đại của Champollion-Figeac, trang 42.


 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS