Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lư

 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  QUEST  MAGAZINES

 
ĐẠO HỌC TÙNG THƯ

TÔI  HỌC
DƯỚI  CHƠN  THẦY
BẠCH  LIÊN  

 

VÀI LỜI NÓI ĐẦU

----------

         Hiện giờ khắp hoàn-cầu có ba quyển sách nhỏ quư báu nhất để chuẩn bị sinh-viên bước vào cửa Đạo một cách mau chóng. Ba quyển đó là :

1-  Dưới Chơn Thầy

2-  Tiếng Nói Vô Thinh, cũng gọi là Tiếng Nói Của Tâm Hồn

3-  Ánh sáng trên Đường Đạo. [[1]]

Hai vị Cao Đồ của Chơn-Sư là Đại-Đức A. BESANT và LEADBEATER có giảng-lư ba quyển nầy. Song phải nói trắng ra: trước kia hai Ngài giải cho những vị Đệ-Tử và những kẻ chí-nguyện nghe, rồi sau nầy mới được phép đem ra phổ biến, v́ thế những lời giải-thích cao hơn tŕnh-độ của những người thường nhiều lắm. Trừ ra một số người rất ít, có lư-tưởng, mới hiểu được đôi chút th́ bao nhiêu người c̣n lại không lănh-hội được ư nghĩa cao thâm của ba quyển nầy.

          Không hiểu được th́ lẽ tự-nhiên không thực hành được những điều đă học hỏi.

         Trong ba quyển nầy duy có quyển ‘DƯỚI CHƠN THẦY’ cần thiết nhất, v́ nó chỉ rơ những điều-kiện mà luật Trời đă qui-định và bắt buộc sinh-viên phải có đủ mới được bước vào cửa Đạo, nói một cách khác là được ĐIỂM ĐẠO LẦN THỨ NHẤT. Nhưng tôi thường nói với các bạn thân: Quyển ‘Giảng-Lư Dưới Chơn Thầy’ khó lắm. Phải giảng-lư quyển ‘Giảng-lư Dưới Chơn Thầy’ th́ họa may các bạn Đạo mới có thể đem áp dụng lời dạy của Chơn-Sư phần nào trong đời sống hằng ngày.

         Tôi cũng thường khuyên mấy bạn Thông-Thiên-Học phải cố gắng sống đúng như những lời dạy trong quyển ‘DƯỚI CHƠN THẦY’

         Học Đạo chỉ để thuyết Đạo chớ không hành Đạo th́ không bao giờ Đắc-Đạo.

         Sanh ra ở cơi Trần con người chỉ có một mục đích là phải lo tiến-hóa đặng trở nên trọn sáng, trọn lành làm một vị siêu phàm như Thiên-Cơ đă định, khi thời khắc đă điểm. Muốn đạt được mục đích nầy sớm hơn th́ phải luyện tập theo phương pháp Yoga. Đại Sư Patanjali định nghĩa Yoga như sau đây:

         1/- Yoga là việc đ́nh chỉ sự biến thiên của cái Trí. (Le yoga est l’inhibition des modifications du mental).

         2/- Yoga là sự kiểm soát những ư-tưởng trong trí. (Le Yoga est la contrôle des idées dans l’esprit).

         Cũng một câu chữ Phạn mà dịch hai cách, tuy khác danh từ song cũng đồng nghĩa.

         Thiết-tưởng hiện thời, đứng đầu những sách giải về Yoga thực tập là quyển ‘DƯỚI CHƠN THẦY’, bởi v́ nó gồm đủ ba Pháp-Môn hay là Yoga của ba con đường : Minh-Triết, Sùng-Tín và Hành-Động một lượt.

         1/- Về CON ĐƯỜNG MINH-TRIẾT : Con người phải tự biết ḿnh là Chơn-Thần và phải tự-chủ. Ba thể: Thân, Vía, Trí, phải ở dưới quyền điều khiển của con người.

         2/- Về CON ĐƯỜNG SÙNG-TÍN : Con người phải hiệp-nhứt với Đức Thượng-Đế và ban rải Đức Từ-Bi của Ngài chan chứa ở trong ḷng ḿnh.

         3/- Về CON ĐƯỜNG HÀNH-ĐỘNG : Lánh dữ, làm lành, Phụng sự mà không khi nào nghĩ tới tư lợi chút nào cả. 

      Nhưng nó nhấn mạnh về Con Đường Hành-động hơn hai con đường kia, bởi v́ trong thời đại nầy th́ sự hành-động vẫn cần-thiết và quan-trọng hơn việc ngồi Thiền như thuở xưa.

         Có thể nói rằng: nó dạy Kriya-Yoga tức là Yoga của đời sống hằng ngày. (Kriya-Yoga = Yoga de la vie courante).

         Kriga=Yoga thuộc về qui-tắc thứ nhất của chương II trong quyển “Những cách ngôn về Yoga của Patanjali” ( Les Aphorismes du Yoga de Patanjali ). [[2]]        

          Ba giai-đoạn nầy trong quyển DƯỚI CHƠN THẦY tóm tắt như sau đây:

        1/- TAPAS: CHUẨN-BỊ XÁC THÂN.

    Cách sinh-hoạt của ba thể.        

         Không có một xác thân tinh-khiết và tráng-kiện th́ không thể nào con thực hành nổi những công việc khó khăn trong lúc tập luyện đặng bước vào đường Đạo, con không chịu đựng nổi những nỗ lực cần thiết và tái diễn măi.

         2/- SWADHYAYA : SỰ HỌC HỎI BẢN NGĂ.

         Con là Thượng-Đế, con chỉ muốn điều nào Thượng-Đế muốn mà thôi. Nhưng con phải đi sâu vào nội-tâm của con để t́m Đức Thượng-Đế ở trong ḿnh con và nghe lời Ngài. Lời Ngài tức là lời của con vậy.

         Đức Thượng-Đế vốn Minh-Triết và cũng là Từ-Bi. Con được Minh-Triết nhiều chừng nào th́ Ngài càng dễ hiện ra nhiều chừng nấy.

         Phải tập phân-biện Đức Thượng-Đế ở trong ḿnh các loài, các vật, dầu cho chúng nó thật xấu xa hay là dường như xấu xa cũng vậy.

         Hăy học hỏi cách thức tỉnh sự sống Thiêng-liêng trong người nó.

 Tôi là Con người mà cũng là Thượng Đế ở trong ḿnh Con người nữa.

         3/- ISVARA  PRANIDHANA : TẬP-TRUNG TƯ-TƯỞNG VỀ ĐỨC THƯỢNG-ĐẾ,  CHIÊM-NGƯỠNG NGÀI.

         Quyết chí hiệp nhất với Đức Thượng-Đế không phải để thoát khỏi sự mệt nhọc và khổ năo, nhưng mà để có thể hành-động với Ngài và giống như Ngài vậy.

         Khát khao hiệp nhất với Đức Thượng-Đế chẳng phải con muốn được phần con, song để thành một vận-hà đem Đức Từ-Bi của Ngài ban rải cho mấy anh em con.

         Nó là cái ng̣i viết ở trong tay Đức Thượng-Đế, nhờ thế tư-tưởng của Ngài mới tuôn xuống phàm trần và nếu không có người trung gian nầy th́ không phô diễn ra được.

         Về ba giai-đoạn nầy, Chơn-Sư chỉ nói phớt qua v́ Alcyone c̣n nhỏ, không thế giải thích nhiều hơn. Một lẽ khác nữa Alcyone đang ngủ, Huynh ở trong cái Vía chớ không phải thức và ở trong xác thân như chúng ta nên dễ nhớ.

         Tôi tưởng cũng nên nói đôi lời về nếp sống của vài vị Cao Đồ của Chơn-Sư như Đức Bà A. Besant. Bà A. Besant 4 giờ sáng đă thức dậy, tham thiền trong ṿng nữa giờ rồi bắt đầu viết bài và trả lời các thư tín hay là giải quyết những công chuyện phải lo. Bà làm việc cho tới 11 giờ khuya mới đi ngủ.

         C̣n Đức Leadbeater thức dậy hồi 5 giờ sáng rồi làm việc cho tới 12 giờ khuya.

         Hai Ngài ăn rất ít và chỉ nghỉ có vài mươi phút sau khi dùng bữa.

         Các vị Cao-Đồ khác như Đại-Đức Jinarajadasa, Arundale, Rukmini, Sri Ram, Hodson lần lượt đi chu du khắp hoàn-cầu. Các Ngài thường đến những nước lớn bên Âu Mỹ thuyết giáo đặng ban rải ánh sáng Chơn lư cho đời.

         Nối gót các vị Tiền Bối, mấy lúc sau nầy Huynh John Coats [[3]] Chánh Hội Trưởng Hội Thông-Thiên-Học Quốc-Tế cũng đi nói Đạo nhiều nơi. Năm 1972 Huynh có qua Sài G̣n và diễn thuyết tại Hội-Quán Thông-Thiên-Học Việt Nam ở Phú Nhuận.

         Bà Radha Burnier đắc cử Chánh Hội-Trưởng năm 1980 cũng đi diễn thuyết khắp xứ.

         Gương hy-sinh cao cả của các Ngài để cho chúng ta là những người Thông-Thiên-Học và đoàn hậu tấn soi chung đặng tiến lên.

         Thuở xưa, Sri Krishna là hóa-thân của Đức Thượng-Đế dạy Yoga cho Arjuna giữa băi chiến trường Kuru Kshetra, chớ không phải trong chốn rừng sâu núi thẳm.

         Ngày nay, cơi đời không khác nào trận địa Kuru Kshetra, thiên hạ đau khổ rất nhiều v́ nhũng sự tranh đua bất chánh. Muốn đem hạnh phúc cho nhơn-loại th́ điều cần thiết và hay hơn hết là dạy con người phải hành động chơn chánh và lánh dữ, làm lành, chớ không c̣n th́ giờ để bảo ngồi trầm tư, mặc tưởng như mấy thế kỷ trước đây. Phải tùy thời-đại và hoàn cảnh mà dùng những phương-tiện thích nghi.

         Quyển ‘DƯỚI CHƠN THẦY’ ra đời rất đúng lúc.

         Bốn đức tánh: Phân-Biện, Đoạn-Tuyệt, Hạnh-Kiểm-Tốt, Ḷng Từ-Ai, kể ra trong quyển Dưới Chơn Thầy cần phải bàn rộng ra, rồi mỗi độc giả suy nghĩ, t́m giải-pháp thích-nghi, tùy theo con đường ḿnh đă lựa chọn, hoặc Con Đường Trí-Tuệ, hoặc Con Đường Sùng-Tín hay là T́nh Thương, hoặc Con Đường Hành Động.

         Tôi xin hiến quí bạn những điều tôi đă học hỏi về bốn Đức Tánh nầy hầu giúp quí bạn thêm vài ư-kiến mới mẻ.

         Nếu quyển ‘Giảng-Lư Dưới Chơn Thầy’ của hai vị Đại-Đức A. Besant và Leadbeater là ngọn đèn pha làm chóa mắt khách lữ-hành trong đêm tăm tối, th́ tôi ước mong quyển ‘TÔI HỌC DƯỚI CHƠN THẦY’ của tôi soạn là một ngọn đèn dầu phộng chỉ soi sáng từng bước cho những bạn đồng hành mà thôi.Tôi không có cái cuồng vọng mà cũng không ngu xuẩn đến nổi cho rằng quyển của tôi viết có thể thay thế được quyển ‘Giảng-Lư Dưới Chơn Thầy’ của hai vị Cao Đồ của Chơn Sư mà cũng là Đại Sư-Huynh của chúng tôi. Nó chỉ là những nấc thang bắc từ chỗ thấp để giúp quí bạn bước lần lên cao mà thôi. 

         Nhưng tôi cũng tin rằng sau khi đọc quyển nầy, quí bạn hiểu được quyển ‘Giảng-Lư Dưới Chơn Thầy’ đôi ba phần.

         C̣n hai điều mà tôi tưởng cũng phải nói ra :

         Một là: Trong Đạo Đức, từ xưa đến nay, luôn luôn có nhiều Đức Tánh cần phải lặp đi lặp lại, kẻ chí nguyện mới nhớ mà thực-hành .

         Cũng như trong quyển ‘Dưới Chơn Thầy’ Chơn-Sư nhấn mạnh nhiều lần về Sự Lành, Sự Dữ cho Alcyone nghe.

         Trong quyển nầy có nhiều đoạn tôi chép lại những lời tôi đă giải ở mấy quyển của tôi đă xuất bản trước đây, v́ chúng liên quan với những điểm mà Chơn Sư đă chỉ dạy Alcyone.

         Tôi muốn nhấn mạnh về mấy điểm sau đây :

         1/- Chơn-lư vẫn một.

         2/- Nhơn loại là một khối duy nhứt. Tư tưởng, lời nói và việc làm của một người đều có ảnh-hưởng đến toàn thể.

         3/- Thật Con người là Chơn-Thần. Tuy nhiên kinh sách thường gọi : Thật Con người là Chơn-Nhơn hay là Linh Hồn. Cũng được vậy, bởi v́ Chơn-Nhơn là một phân thân của Chơn Thần và Đại diện cho Chơn Thần. Con người sanh ra cơi Trần đặng tiến-hóa.

         4/- Muôn vàn tội lỗi đều do tánh xấu của ba thể : Thân, Vía, Trí gây ra.

         5/- Muốn tiến mau phải tinh-thần hóa ba thể. Phải tự chủ, phải khắc kỷ mới mong dẹp được những chướng-ngại mà hành giả sẽ gặp ở mọi chặng đường.

         6/- Nhất là phải học rành rẽ Luật Nhân-Quả. Làm trái Luật Trời th́ sẽ có sự phản ứng lại, không trốn tránh đường nào cho khỏi. Người ta gọi là nhân nào, quả nấy.

         Phải lặp đi lặp lại những điều nầy nhiều bận, người chí-nguyện mới ghi nhớ vào ḷng.

         Gặp mấy đoạn đó, xin quí bạn miễn nghị. Đây cũng là một dịp để ôn lại những điều đă học hỏi đặng thực hành khi có cơ hội đưa đến.

         Hai là: Trên Thiên-Đ́nh rất công b́nh. Bất cứ là ai, dầu cho tín đồ của Ấn-Giáo, Phật Giáo, Công-Giáo, Hồi Giáo, Nho Giáo, hoặc không giữ đạo nào cả mà lo tu đức, trau ḿnh, ḷng nhân từ mở rộng, quên ḿnh đặng giúp đời tùy phương-tiện, không quản nhọc nhằn hầu làm Đệ Tử, như trường hợp người bạn của Đức Leadbeater mà tôi đă thuật ở nhiều quyển trước của tôi trong bài “Cách Chơn-Sư chọn Đệ tử”. Xin xem bài “Kinh-nghiệm của Đức Leadbeater” trong quyển nầy.

         Quả thật Hội Thông-Thiên-Học do hai vị Chơn-Sư lập ra và được phép đem phổ biến vài thiên đầu của khoa Minh-Triết Thiêng-Liêng, cũng có thể gọi là Huyền-Bí-Học hay là khoa Mật của các Đại Tôn-Giáo, bắt đầu từ ngày 17 tháng 11 năm 1875.

         Nhưng không phải v́ lẽ đó mà Thiên-Đ́nh chỉ thâu dụng những hội viên Thông-Thiên-Học mà loại ra tín-đồ các Tôn-Giáo khác. Không hề có việc đó bao giờ.

         Dầu cho làm hội viên Thông-Thiên-Học trong ṿng năm, sáu chục năm đi nữa mà không sống đúng như những lời dạy của Tiên, Thánh, không hội đủ những đức tánh cần thiết do Luật Trời qui-định th́ khó trông gặp được Chơn-Sư. Mà dầu có gặp Ngài đi nữa, cũng không được Ngài thâu nhận làm Đệ-tử. Gặp Chơn-Sư là một việc, c̣n được vào hàng Đệ-tử Chơn-Sư là một việc khác nữa. Trong Quần-Tiên-Hội không bao giờ có sự tư vị như ở Thế.

         Các Đấng Cao Cả đưa cơ hội tốt đến cho chúng ta mà chúng ta không chụp lấy để cho nó trôi qua th́ nó không trở lại lần thứ nh́ trong kiếp nầy.

         Nếu chúng ta chưa được hân hạnh đứng trước mặt Chơn-Sư th́ chúng ta hăy tự xét ḿnh coi c̣n thiếu sót những điều kiện nào, rồi lo bồi bổ chỗ khuyết điểm đó. Ngày nào chúng ta thành công th́ ngày đó chúng ta sẽ được toại nguyện.

         Luôn luôn Chơn-Sư chờ đợi chúng ta. Ngài t́m kiếm những Đệ-tử trung-kiên đặng chia sớt những công việc nặng nhọc của Ngài ở Trần thế, bởi v́ có hai thứ công việc :

         1/- Một thứ là công việc ở Thiên-Đ́nh, Chơn-Sư thực-hành được mà các Đệ-tử không làm nổi.

         2/- Một thứ nữa là công việc ở tại cơi Trần, Chơn-Sư phải nhờ Đệ-tử thực-hành, v́ Ngài không rảnh rang mà cũng không thể ra ở giữa Thế-tục măi như Đệ-tử. Xác thân của Ngài tốt đẹp và mảnh mai chịu không nổi với những sự rung động dữ dội và thô bạo của máy móc, xe cộ. Mà vị Đệ-tử cũng phải tỏ ra xứng đáng với nhiệm vụ của Ngài giao phó, tức là phải đủ Tài, đủ Đức, Khiêm-tốn và Phụng-Sự vô Tư Lợi.

                 

                              PHẠM NGỌC ĐA                                            Lành thay! Lành thay!

                       53 Đường Nguyễn Đ́nh Chiểu                                        BẠCH LIÊN

                                  CHÂU ĐỐC                                                         

         Viết xong tại Châu-Đốc ngày rằm tháng năm Âm-lịch năm Giáp Dần, nhằm ngày 4 tháng 7 Dương lịch 1974.      

       

GỞI BẠN

---------

Làng Tiên chờ đợi bạn tâm giao

Vượt bể trần ai, đến Động Đào.

Có Thú Vị, rồi thêm Thú Vị,

Cho Thanh Cao mới được Thanh Cao.

Lộ vàng bước tới noi người trước,

Kiều Ngọc qua rồi dắt kẻ sau,

Hoa cỏ non Bồng xuân nhuận sắc.

Trăng soi cảnh tịnh rạng làu làu.

x  x  x

Sẵn bạn Đào Nguyên chỉ dẫn đường,

Lo chi cuộc thế mấy tang thương,

Mở ḷng Bác-Ái yêu muôn vật,

Đem Đạo Từ-Bi bủa bốn phương.

Biển khổ mênh mông c̣n có đáy

Thuyền sen Bát Nhă vẫn không lườn,

Giúp đời chớ quản lời phi thị,

Trên có Cao Dày Đấng Chủ Trương.

x  x  x

ĐỀ  THI

Không tham danh lợi khỏi ưu phiền,

Niệm chữ Từ-Bi dứt nghiệp duyên,

Vớt kẻ trầm luân nơi khổ hải,

Noi theo tôn chỉ Hội Quần Tiên.

x  x  x

Phá đường mê tín vạch chông gai,

Khó nhọc dường bao dạ chẳng nài,

Đă nguyện thân phàm đem độ thế,

Bắc cầu cho kẻ đến Bồng Lai.

BẠCH LIÊN

 

CẢM THUẬT

Thương kẻ say phàm trót bấy lâu,

Muốn d́u thoát tục phải lo âu.

Rèn tâm từ ái từng lao khổ,

Đúc trí quang minh mặc dăi dầu.

Phú quí in như đèn dưới gió,

Công danh dường thể nước qua cầu.

Cơ Trời tiến hoá nên thay đổi,

Ta vẫn xem thường cuộc biển dâu,

II

Ở giữa trần ai chớ nhiễm trần,

Xem kinh giồi trí luyện Tâm Thần,

Ra công tu đức, trau ḿnh trước,

Đuốc Huệ sau nầy rọi thế nhân.

VƯƠNG CHÂU

VÀI LỜI VỀ TIỂU SỬ KRISHNAMURTI

----------------

         Krishnamurti đă viết quyển “DƯỚI CHƠN THẦY”, vậy trước khi đọc quyển nầy, thiết tưởng chúng ta nên biết chút ít về tiểu sử của tác giả.

         Krishnamurti vốn ḍng Bà-La-Môn sanh ngày 11 tháng 5 năm 1895 (11 Mai 1895) tại Madanapalle là một làng nhỏ thuộc về tỉnh Madras, miền Nam Ấn-Độ.

         Tên tộc của Ngài là Jiddu. Ngài lấy tên Thánh là Krishnamurti, bởi v́ theo phong tục miền Nam Ấn-Độ, nếu đứa con thứ tám sanh ra là trai th́ phải đặt tên là Krishnamurti, đặng tỏ ḷng kính mến Đức Giáo Chủ Krishna. Ngài là con trai thứ tám.

         Murti (hay Mourti) có nghĩa là : Biểu-Hiện, Trạng-Thái, Dấu Hiệu, mà cũng có nghĩa là Một Mặt của Ba Mặt hay Ba Ngôi Trimourti của Thượng-Đế (Brahma, Vishnou, Shiva ).

         Krishnamurti có cả thảy chín anh em. Em trai út tên là Nityananda. Krishnamurti mất mẹ hồi 5 tuổi. Cha Krishnamurti làm việc ở bộ Tài Chánh, tánh t́nh hung dữ, quạu quọ, mấy đứa trẻ thường bị đ̣n bọng hơn là được nuôi dưỡng tử tế.

 

ĐỜI NIÊN THIẾU CỦA KRISHNAMURTI.

 

         Krishnamurti là một đứa nhỏ ốm yếu, theo tiếng Việt Nam là ốm ḷi xương sườn. C̣n Nityananda th́ mạnh hơn Krishnamurti nhiều lắm. Khi cha Krishnamurti mất sở th́ hai anh em thường bị đánh đập, quần áo rách rưới, có bữa đi lang thang đầu đường xó chợ, đói khát giống như những trẻ Thủ-Đà-La, chớ không phải thuộc về ḍng quí phái Bà-La-Môn.

 

AI GẶP KRISHNAMURTI TRƯỚC HẾT

 

        Chính là Ông Ernest Wood, thư kư của Đức Leadbeater nói: “Tôi gặp Krishnamurti trước Đức Leadbeater .”

         Câu chuyện như sau đây:

        “ Năm 1906-1907, thường bữa đúng 5 giờ chiều th́ chúng tôi ra tắm ngoài biển. Có một đám học tṛ nhỏ ra xem chúng tôi bơi lội. Một ngày kia ông Von Manen, Giám-Đốc Thư-Viện Adyar mới nói vơi Đức Leadbeater: “Huynh xem thử mấy đứa nhỏ đó coi có cái chi đặc biệt không?”. Đức Leadbeater mở Huệ Nhăn xem sơ qua th́ thấy một đứa có một tương lai rực rỡ phi thường. Ây là một con phụng đang chung lộn với một bầy gà. Đứa nhỏ đó là Krishnamurti. Nhưng Ngài ngưng lại không quan-sát thêm. Ngài chờ cha đứa nhỏ cho phép và ưng thuận.

 

KRISHNAMURTI BỊ THẦY DẠY HỌC ĐÁNH ĐẬP TÀN NHẪN

 

         Vô trường học, Krishnamurti là một đứa tối dạ mà lại không chịu chăm chỉ nghe lời thầy giảng dạy. Gặp ông thầy hung dữ nên thường đánh đập một cách tàn nhẫn. Cha Krishnamurti mới nói: “Nó không sống lâu đâu.” Ông liền lại hỏi Đức Leadbeater: “Phải làm sao bây giờ?”. Đức Leadbeater đáp: “Đừng cho nó học nữa, đem nó về nhà để tôi tính.”

         Lúc đó Đức Bà A. Besant ở Mỹ Châu. Đức Leadbeater mới gởi thư cho Bà. Bà chấp nhận làm người đỡ đầu cho hai đứa nhỏ. Bảy, tám vị dạy cho hai đứa trẻ mỗi ngày vài giờ đặng sau nầy chúng nó qua Anh tiếp tục đường học vấn. Thường bữa, hai đứa nhỏ ở trong pḥng Đức Leadbeater hoặc ở bên một pḥng kế cận với Thầy chúng nó. Đức Leadbeater và Đức Jinarajadasa săn sóc chúng nó. Nói một việc ở gần Đức Leadbeater cũng đủ để giúp cho sự phát triển của chúng nó mau lẹ. Đức Leadbeater cho chúng nó uống sữa và ăn trái cây, mà Krishnamurti không thích ăn trái cây và uống sữa nhưng cũng phải vâng lời. Đức Leadbeater dạy chúng nó bơi lội, tập thể dục và đánh tenis mỗi buổi chiều. Chẳng bao lâu th́ Krishnamurti thành một đứa trẻ rất khỏe mạnh.

 

KRISHNAMURTI NÓI CHUYỆN VỚI HỒN MA

 

         Ông Ernest Wood thuật lại rằng ông có chứng kiến Krishnamurti nói chuyện với hồn ma.

         Số là hai vợ chồng người kia có một đứa con mới chết. Hai ông bà tới xin Đức Leadbeater xem coi số phần đứa con trai của ḿnh ra thể nào. Đức Leadbeater t́m được đứa nhỏ rồi cho hai ông bà biết t́nh cảnh của nó. Nhưng hai ông bà muốn nói chuyện với đứa con bằng tiếng Télugu. Đức Leadbeater không biết thứ tiếng đó mà Krishnamurti lại biết. Ngài mới bảo Krishnamurti làm thông ngôn giữa cha mẹ đứa nhỏ và nó.

         Hai ông bà ngồi trên ghế dựa gần một bên Krishnamurti. Krishnamurti mới cho đứa nhỏ biết ư muốn của cha mẹ nó. Nó trả lời hay nói cái chi th́ Krishnamurti thuật lại cho cha mẹ nó biết. Cuộc đàm thoại kéo dài trong nữa giờ mới chấm dứt. Kiếp trước Krishnamurti đă khai mở được quyền năng nầy rồi, nên kiếp nầy sử dụng nó rất dễ dàng.

 

KRISHNAMURTI THEO ĐỨC BÀ A. BESANT

 

         Sau khi Đức Bà A. Besant từ giả Mỹ Quốc trở về Adyar rồi th́ đi đâu Bà cũng dắt hai anh em Krishnamurti theo bà.

         Chính là khi ở Bénarès Ba-La-Nại, Krishnamurti bắt đầu viết quyển “Dưới Chơn Thầy” .

         Tới 16 tuổi th́ Krishnamurti và Nityananda qua Âu-Châu, ở ngoại ô Paris rồi qua Anh quốc.

         Năm 1922, Krishnamurti đem Nityananda qua Californie với hy vọng là khí hậu tốt tại đây giúp cho Nityananda mau phục hồi sức khỏe. Nhưng chẳng may năm 1925 Nityananda từ trần. Krishnamurti buồn rầu vô hạn.

         Cái chết của Nityananda biến đổi Krishnamurti thành một người mới, khác hơn lúc trước một trời một vực.  Krishnamurti hoài nghi tất cả. Những sự tin tưởng bấy lâu nay và các thần-tượng đều hoàn toàn sụp đổ.

         Quí bạn muốn rơ nhiều, xin đọc quyển “Krishnamurti, nhà tâm lư học của Thời đại mới” của tác giả Robert Linsson.

         (Krishnamurti, le psychologue de l’ère nouvelle par Robert Linsson).

TIỀN KIẾP CỦA KRISHNAMMURTI

-------------

2500 NĂM TRƯỚC KRISHNAMURTI

LÀ ĐỆ TỬ CỦA ĐỨC THÍCH CA

 

         Đức Leadbeater mở Huệ nhăn truy ra 30 kiếp của Krishnamurti. Ngài có viết ra thành sách. Tôi xin tóm tắt đại ư của Ngài trong kiếp thứ 29 của Krishnamurti.

         Krishnamurti có tên là Alcyone trong một kiếp trước.

         Năm 620 trước Tây lịch kỷ-nguyên Alcyone đầu thai tại Ấn-Độ.

         Năm 288 trước Thiên Chúa Giáng Sinh, Đức Phật tới thuyết Pháp tại chỗ Alcyone ở. Đức Phật giảng về sự khổ và nhân quả. Alcyone nghe qua rất xúc động v́ nó trúng vào trường hợp của ḿnh. Lần sau Alcyone tới nghe Phật giải về những Đức Tánh Cần Thiết phải có để bước vào đường Đạo. Trở về nhà Alcyone thực hành liền những lời của Phật dạy. Trong đời sống hằng ngày Alcyone tỏ ra ḿnh có nhiều đức tánh cao thượng. Alcyone khuyên người anh em cô cậu là Mizar (ngày nay đầu thai làm Nityananda) tới nghe Phật. Bữa đó Phật thuyết về “Lửa cháy”. Ngài chỉ một đống lửa đang cháy gần đó rồi nói: “Ai đụng tới lửa th́ bị lửa đốt. Dục t́nh và các sự ham muốn giống như lửa đó, nó thiêu hủy tâm can con người. Đối với chúng nó, không thể dùng những biện pháp lưng chừng được. Muốn cho một tàn lửa đừng thành ra đám hỏa hoạn, thiêu hủy nhà cửa làm cho cảnh vật điêu tàn th́ phải dập tắt nó ngay khi đó. Cũng thế, người ta phải diệt trừ những nết hư tật xấu ở trong ḷng ḿnh. Tới chừng đó, tâm con người mới trở nên thanh tịnh và con người mới vững bước trên đường Đạo.”

         Bài thuyết pháp nầy cảm hóa Alcyone và Mizar vô hạn. Cả hai quyết định ĺa gia đ́nh, bỏ sự nghiệp để theo Phật tu hành. Cả hai mới thuật cho Phật nghe đời sống của ḿnh và xin nhập môn.

         Phật bèn hỏi: “Hai con dám chắc chắn rằng trong ḷng hai con không c̣n chứa một mảy may giận hờn và oán ghét chăng? Hai con dám chắc chắn rằng hai con rộng ḷng tha thứ cho những kẻ làm cho hai con đau khổ và hai con cũng tha thứ cho kẻ giết chết đứa con yêu quí của hai con nữa chăng? Hai con dám chắc chắn rằng trong ḷng hai con chỉ có sự xót thương tất cả các loài cho tới những kẻ đă hảm hại con nữa chăng?”

         Alcyone bèn thưa: “Bạch Phật ! Ḷng con như thế, vợ của anh em cô cậu của con làm hại con mà con đă tha thứ. Con cho anh con tất cả sản nghiệp của con, con không cần dùng nó nữa. Ngày nay con chỉ có một nguyện vọng, dầu cho nó đ̣i hỏi nhiều kiếp cũng vậy. Con qú trước mặt Phật thề rằng: “Con sẽ cố gắng thực hiện nguyện vọng đó. Con muốn theo Phật, con muốn xả thân như Phật để cứu độ nhân loại đang rên xiết, thở than. Phật đă giải thoát cho con khỏi sự đau khổ và dắt con đến cơi an tịnh đời đời. Con muốn dắt nhân loại đến cơi đó và con xin đem hết những kiếp lai sinh của con lo lắng cho việc nầy cho tới khi nào con thành một Đấng Cứu Thế như Phật vậy.”

         Phật gật đầu tỏ ư bằng ḷng và nói rằng: “Con sẽ được toại nguyện. Ta là Phật, ta chứng minh lời nguyền nầy và từ đây không có cái chi cổi mở nó được và nó sẽ thành tựu trong một kiếp tương lai.”

         Nói xong Ngài giơ tay ban ân-huệ cho Alcyone, rồi Ngài day lại nói với Mizar: “ C̣n con, ngày sau con sẽ theo ta. Hiện giờ con c̣n nhiều việc phải làm. Hăy lănh sản nghiệp của Alcyone, nó đă thành một vị đệ tử mới của ta. Hăy nhận những cái ǵ nó đă cho con, v́ nó không cần dùng nữa. Những kẻ nào giàu có trong Luật Pháp rồi th́ không cần những của cải ở ngoài đâu. Hăy ăn ở cho ngay thẳng, nhân từ và đừng quên rằng một ngày kia ngày giờ của con sẽ điểm, phần con sẽ tới.”

         Mizar trở về lo lắng công việc gia đ́nh. Anh ra công khó nhọc tập rèn tánh nết. Từ giàu có anh trở thành nghèo nàn. Anh mất của cải vật chất, nhưng thâu nhận được gia tài thiêng liêng là những đức tánh, chúng chuẩn bị cho anh để sau nầy trở thành người Phụng-Sự Nhân-Loại.

         C̣n Alcyone theo Phật lấy tên là Maitribaladasa nghĩa là Người Phụng-Sự Đấng Từ-Bi [[4]]

         Đức Phật nói: “Con khéo lựa chọn. Tên nầy tốt lắm. Nó tiên tri số kiếp của con sau nầy.”

         Alcyone nhờ một vị Cao-Đồ của Phật là Uranus dạy dỗ. Đức Uranus kiếp sau là Đức Aryasanga, Tàu gọi là Vô-Trước. Ngày nay Ngài là Đức Tiên Trưởng Djval Kul.

         Alcyone từ trần 16 năm trước Đức Phật .

 

THUYẾT PHÁP VỀ LỬA CHÁY

 

         Trong kinh sách Phật tôi thấy có ghi hai bài “Thuyết pháp về lửa cháy”.

         Một bài của Đức Phật thuyết cho một ngàn người Djatila, tín đồ thờ lửa, cầm đầu là Đức Maha Kacyapa (Ma-Ha-Ca-Diếp).

         Một bài Phật thuyết chung cho các đệ tử nghe.

 

-  I  -

 

THUYẾT PHÁP VỀ LỬA CHÁY TRÊN NÚI GAYA CHO 1000 NGƯỜI DJATILA NGHE.

( ĐẠI  Ư )

         “Da-Ti-La các người ơi ! Mọi vật đều nóng như lửa. Con mắt cũng nóng như lửa, tư tưởng cũng nóng như lửa, các giác quan cũng nóng như lửa, t́nh dục cũng nóng như lửa.

         Đây là sự giận hờn, đó là sự mê muội, kia là sự ghen ghét. Ngày nào lửa c̣n gặp đồ bổi th́ ngày đó nó c̣n cháy. Như vậy th́ c̣n măi sự sanh, sự tử, sự già yếu, sự khổ năo, sự rên siết, sự than van, sự đau đớn, sự thất vọng và sự buồn bực. Khi xem xét mấy điều nầy rồi th́ người mến chân-lư thấy rơ Tứ-Diệu-Đề và noi theo đạo Bát Chánh mà đi. Người ấy không tin con mắt va, không tin tư tưởng va mà cũng không tin cảm giác của va nữa. Va diệt hết các dục t́nh và sẽ đặng thảnh thơi. Va trừ được tánh ích-kỷ, va sẽ đắc đạo thành chánh quả lên cơi Niết-Bàn.”

 

-  II  -

 

         Bài dưới đây cũng gọi là “Thuyết-pháp về lửa cháy” nhưng Phật thuyết-pháp chung cho các Đệ-tử nghe.

         “Chỗ nào có nóng, tức nhiên chỗ đó có mát. Chỗ nào có ba ngọn lửa dữ dội: lửa t́nh, lửa oán, lửa mê muội (vô-minh) th́ con người phải t́m tại chỗ đó cách dục tắt lửa đi.

         Các con ơi ! Mỗi vật đều cháy đỏ và cái chi bị cháy đỏ vậy? Ấy là ngũ quan: tai, mắt, mũi, miệng và tứ chi. Mà thứ lửa nào bắt cháy ngũ-quan đó? Ấy là lửa t́nh, lửa oán, lửa mê muội; ấy là sự sanh, sự tử, sự già yếu, sự bệnh hoạn, sự khổ năo, sự than van, sự rầu rĩ, sự đau đớn và sự thất-vọng.

         Cơi Trần đang bị lửa cháy, cơi Trần bị khói lửa bao phủ, cơi Trần bị lửa đốt tiêu, cơi Trần rung rinh rồi.”

 

x       x

x

 

DƯỚI CHƠN THẦY

-----------

         Bây giờ xin bàn qua những điều tôi hiểu biết về quyển “DƯỚI CHƠN THẦY”.

 

VÀI LỜI NÓI ĐẦU CỦA BÀ ANNIE BESANT

 

         Tôi được cái đặc quyền cũng như người chị cả, viết lời giới thiệu quyển sách nhỏ nầy, quyển đầu tiên của một đứa em c̣n thơ, song kỳ thật xác phàm em nhỏ chớ không phải linh hồn em nhỏ đâu.

         Đây là một điểm quan-trọng.  

         Người đời chỉ biết có cơi Trần và kiếp sống nầy, cho nên luôn luôn coi theo tuổi tác của xác thịt mà xét đoán. Trái lại, trong Đạo Đức người ta trọng tuổi tác của Linh hồn, bởi v́ có những Linh hồn đi đầu thai trước chúng bạn cả trăm, cả chục triệu năm, cho nên có thể nói rằng: “Có những Linh hồn đă trưởng thành, những Linh hồn đă già, và có những Linh hồn c̣n trẻ trung, c̣n thơ ấu.”

         Những Linh hồn đă trưởng thành tự-nhiên phải khôn ngoan và sáng suốt hơn những Linh hồn c̣n bé nhỏ, v́ đă giàu học hỏi và kinh-nghiệm rồi. ( Xin đọc quyển “Chơn Nhơn và Phàm Nhơn” của Đức Leadbeater ).

         Hiện nay, ta thấy nhiều đứa trẻ tỏ ra thông minh và tánh t́nh rất tốt hơn chúng bạn nhiều lắm. Cái đó không có chi là lạ, bởi v́ chúng nó do Luật Nhân-Quả tạo ra, chớ không phải ư trời muốn cho đứa nhỏ nầy khôn ngoan, đứa nhỏ kia khờ dại; c̣n đứa th́ đầu thai làm con nhà giàu, trướng phủ màn che, đứa khác th́ sanh vào nhà tranh vách lá, cơm không đủ no, áo không đủ mặc.

         Trời không có làm những chuyện bất công như thế đâu.

         Bà Annie Besant là mẹ nuôi của Alcyone, nhưng bà chỉ gọi ḿnh là chị cả, v́ các Linh hồn đều là con chung của Đức Thượng-Đế, cả thảy đều là anh em với nhau. Những lời thầy dạy dỗ Alcyone đem thực-hành liền, nội trong 5 tháng anh được Chơn-Sư thâu nhận làm Đệ-tử chánh thức và chẳng bao lâu anh được Điểm Đạo lần thứ nhất. Nếu như người khác th́ phải mất mấy chục năm công phu luyện tập, v́ muốn giữ vẹn những giới răn th́ phải sửa đổi hết tánh t́nh từ trước đến giờ.

         Phải tập làm chủ ba thể: Thân, Vía, Trí. Phải khắc kỷ từ giờ, từ phút. Đây không phải là việc dễ làm đâu.

         Những lời giáo-huấn trong đó vốn của Thầy em chỉ bảo trong khi Ngài chuẩn bị cho em được Điểm Đạo.       

         Sư phụ của Alcyone là Đức Đế Quân K.H. chưởng quản cung thứ nh́ tức là cung Đạo Đức và giáo dục.

 

ĐIỂM ĐẠO LÀ G̀?

 

         Nói cho dễ hiểu, Điểm Đạo là chỉ máy huyền-vi, theo danh từ bóng dáng đó là giao ch́a khóa của sự hiểu biết để mở cửa các cơi Trời tùy theo cấp bực.

         Một nghĩa khác nữa, Điểm Đạo là khởi sự một đời sống mới trong đó Phàm Nhơn là phản ảnh của Chơn Nhơn và Chơn Nhơn bắt đầu vận-dụng quyền năng của Chơn Thần.

         Xin Điểm Đạo là xin dự vào một cuộc thi. Thi đậu mới được Điểm Đạo.

         Muốn vào cấp bực nào, thí sinh phải tỏ ra ḿnh đủ đức và đủ tài do Luật Trời qui định về cấp bực đó.

         Đức đây là những tánh tốt. C̣n tài là khả năng thực hành công việc của Thiên-Đ́nh sẽ giao phó cho ḿnh trong tương lai thuộc về cấp bực của ḿnh và cũng phải tỏ ra ḿnh hiểu biết rành rẽ về cơi mà ḿnh đang hoạt động.

         Dầu tài có kém một chút mà đức hạnh lại khá cao th́ được Quần-Tiên-Hội thâu nhận liền, v́ Thiên-Đ́nh trọng Đức hơn Tài.

         Điểm Đạo đây là Điểm Đạo lần thứ nhất.

         Trong chu-kỳ nầy có năm lần Điểm Đạo :

         1/- Điểm-Đạo lần thứ nhất tại cơi Trung Giới ( Plan astral ), vị Đệ-tử ở trong cái Vía.

         2/- Điểm Đạo lần thứ nh́ tại cơi Hạ-Thiên (Plan Mental inférieur), bốn cảnh thấp của Thượng Giới hay là cơi Trí-Tuệ. Vị Đệ-tử ở trong Hạ-Trí.

         3/- Điểm Đạo lần thứ ba tại cơi Thượng-Thiên ( Plan mental supérieur ), ba cảnh cao của cơi Thượng Giới hay là cơi Trí-Tuệ. Vị Đệ tử ở trong Thượng Trí.

         4/- Điểm Đạo lần thứ tư tại cơi Bồ-Đề (Plan Bouddhique). Vị Đệ- tử ở trong thể Bồ-Đề hay là Kim-Thân.

         5/- Điểm-Đạo lần thứ năm tại cơi Niết-Bàn (Plan nirvanique ou Nirvana). Vị Đệ tử ở trong Tiên Thể hay là thể Thiêng-liêng.

         1- Người được Đim Đo ln th nht n Giáo gi là Parivrajaka là Người Đi Ta Bà, có nghĩa là Chơn Sư sai đi đâu th́ đi ngay ti đó đng làm vic lin. Pht Giáo gi là Sowani hay là Sotapanna hoc là Sohan, Tàu dch là Tu-Đà-Hun.

         Sowani có nghĩa là Người Đă Nhập Lưu, (tiếng Pháp là Entré dans le Courant), tức là nói bóng dáng. Người Nhập Lưu đă vào ḍng tiến-hoá của các hạng Siêu Phàm. Khi qua tới bờ bên kia th́ Đắc Đạo thành chánh quả, thoát đoạ Luân-Hồi.

         Vị Tu-Đà-Huờn phải chặt đứt ba chướng ngại sau đây mới được Điểm-Đạo lần thứ nh́.

         Một là: Sakayadithi. Phàm Nhơn là mộng ảo.

         Hai là: Vichikichcha. Sự hoài nghi, sự không chắc ư, tức là không tin có Luân-Hồi, Nhân-Quả.

         Ba là: Silabhataparamasa. Mê tín, tin tưởng dị đoan. 

2- Vị đệ tử được Điểm Đạo lần thứ nh́ Ấn Giáo gọi là Koutichaka: Người dựng được một túp lều, người đi tới chỗ yên tịnh. Phật giáo gọi là Sakridagamin – Tư-Đà-Hàm hay là Nhứt Lai – danh từ nầy ám chỉ vị Tư-Đà-Hàm chỉ cần đầu thai một kiếp nữa th́ tới bực La-Hán. Vị La-Hán được quyền ở lại cơi Bồ-Đề tu luyện đặng lên tới bực A-Sơ-Ka (Aseka) ḿnh gọi là Chơn-Tiên. Vị A-Sơ-Ka đă thành chánh quả không c̣n bị bắt buộc đi đầu thai nữa.

         Vị Tư-Đà-Hàm không có chướng ngại nào phải chặt đứt, nhưng phải lo luyện tập tánh t́nh càng ngày càng thêm tốt đẹp. Thời kỳ nầy nguy hiểm hơn hết. Vị Tư-Đà-Hàm trí hóa mở mang mau lẹ, rộng sâu và dùng được nhiều quyền năng siêu-việt. Nếu trổ tánh kiêu căng và lạm dụng những phép thần thông th́ sẽ bị trả quả nặng và đầu thai nhiều kiếp mà không tiến hóa, nghĩa là không được điểm đạo lần thứ ba.

 

BỐN GIAI-ĐOẠN GIỮA HAI KỲ ĐIỂM ĐẠO

 

         Luật Trời qui định rằng : Giữa hai kỳ điểm đạo những kết quả của việc làm phải hiện ra rơ rệt; điều nầy chứng tỏ có sự thay đổi trong tâm hồn.

         Đặc tính của người được Điểm-Đạo là phải hoàn thành công việc của ḿnh đương thực hành chớ không được bỏ dở nửa chừng.

         Có bốn giai-đoạn giữa hai kỳ điểm đạo :

         1/- Giai-đoạn thứ nhất gọi là Maggo (Mac-go). Trong giai-đoạn nầy vị đệ tử cố gắng đương đầu với những thử thách đưa tới và mở mang những đức tánh cần-thiết.

         2/- Giai-đoạn thứ nh́ gọi là Pha-La (Phala = Fruit) nghĩa là Quả, Trái. Qua giai-đoạn nầy vị đệ tử thấy kết quả sự luyện tập của ḿnh hiện ra rơ ràng, anh làm việc đắc lực và đứng vững tại vị-trí của ḿnh.

         3/- Giai-đoạn thứ ba là Bhavagga (Ba-Hoắc-Ga). Lúc nầy cái kết quả đă đến mức tột bực cao.

         4/- Giai-đoạn thứ tư là Gotrabhou (Gô-Tra-Bu). Tới giai đoạn chót nầy vị đệ tử xứng đáng được điểm đạo lần kế đó. Luôn luôn vị đệ tử phải được Chơn-Sư dẫn tới tŕnh diện với  Quần-Tiên-Hội đặng xin điểm đạo.

         Nên biết rằng đường đạo gay go hiểm trở, ở mỗi chặng đều có chướng ngại dựng lên. Nếu không vượt qua khỏi th́ bị chận đứng không tiến tới được nữa. Thế nên người đệ tử phải nắm nắm, nớp nớp khi đứng trước vực sâu, giá mỏng. Nếu buông lung th́ sẽ thất bại.

         Tôi tưởng cũng phải nói rằng Thiên-Đ́nh chấm điểm ta không do sự thành công hay thất bại của ta, mà xét đoán cách ta làm việc và cách ta phản ứng với sự việc đưa tới. Việc làm trọng hệ hay không trọng hệ chẳng cần thiết.

ĐIỂM ĐẠO LẦN THỨ BA

         Vị đệ tử được ba lần điểm đạo Ấn giáo gọi là Hamsa = Thiên Hạc.

         Tục truyền rằng con hạc đứng trước chậu đựng sữa pha nước th́ nó phân biệt được cái nào sữa, cái nào nước. Nghĩa là bậc Hiền Triết đánh đúng giá trị của người và vật không sai lầm.

         Hamsa cũng được coi như một h́nh thức của chữ So Ham nghĩa là “Tôi là Ngài (Je suis Cela)”.

         Phật giáo gọi vị được điểm đạo lần thứ ba là Anagamin – A-Na-Hàm hay là Bất-Lai ; bởi v́ nội trong kiếp nầy vị A-Na-Hàm phải lên tới bực La-Hán. Và như mới nói trên đây, vị La-Hán được miễn khỏi phải đầu thai ở cơi Trần nữa.

ĐIỂM ĐẠO LẦN THỨ TƯ

         Vị A-Na-Hàm phải trừ tuyệt hai chướng ngại thứ tư và thứ năm :

     4/- Kamaraga: Dục t́nh do giác quan sanh ra.

     5/- Patigha: Giận hờn, thù oán.

         Tới bậc nầy rồi đâu c̣n say hoa đắm nguyệt hay là nổi nóng múa tay trợn mắt, vỗ bàn đập ghế như kẻ thường nhân. Tuy nhiên vật chất có quyền năng quyến rủ phi thường. Nó trổi những khúc nhạc du dương làm mê loạn tâm thần, chớ nên để lọt vào tai, gọi là ái t́nh muôn mặt. Nếu không đề pḥng th́ e cho hồ thu nổi sóng, con thuyền trôi giạt phương xa; phải mất thời giờ và vất vả lắm mới ghé được vào bến cũ. Một phút yếu ḷng, ngàn năm ân hận. Những vị đă qua tới bờ Giác đều cảnh giác chúng ta phải cẩn thận từng ly từng tí, kẻo sa vào cạm bẩy của kẻ nghịch đă dàn sẵn ở mỗi chặng đường. Có nhiều kinh nghiệm chừng nào mối sợ nhiều chừng nấy.

 

TRẠNG THÁI A-TỲ

 

         Ngoài ra, thí sinh phải vào một trạng thái gọi là Avitchi (A-Tỳ) nghĩa là không có sự rung động. Thí sinh cảm thấy anh bị loại ra khỏi ṿng Trời Đất, trơ trọi một ḿnh không thầy, không bạn, không không gian, không thời gian. Ở trong trạng thái ấy một phút cầm bằng một ngàn hay là một muôn năm ở ngoài thế chẳng rơ.

         Nếu thí sinh chịu không nổi, bước ra ngoài th́ thi rớt. Kỳ sau phải thi lại.

         Đức Leadbeater có nói: “Sự kinh-nghiệm nầy ghê tởm hơn hết trong những kinh-nghiệm mà con người phải trải qua. Chịu đựng được th́ có hai điều hay:

         Một là mở rộng ḷng từ-bi, chia sớt số phần của những anh Bàn-Môn-Tả-Đạo bị đày vào chốn nầy v́ tội ác của mấy ảnh đă làm trong những kiếp quá-khứ mà không biết ăn năn chừa cải.

         Hai là sự kinh-nghiệm nầy dạy con người phải thật gan dạ, phải tự tin, phải đứng vững một ḿnh, đừng trông cậy sự giúp đỡ của ngoại nhân, phải chắc chắn ḿnh với Thượng-Đế là Một, đâu đâu cũng có Ngài. Cảm thấy ḿnh lẻ loi là mộng ảo.

 

NHỮNG VỊ ĐƯỢC ĐIỂM ĐẠO LẦN THỨ TƯ

 

         Những vị được điểm đạo lần thứ tư Ấn Giáo gọi là Parahamsa, nghĩa là Con Hạc Lớn – Đại Thiên-Hạc.

         Phật giáo gọi là Arhat – La-Hán.

         Arhat có nghĩa là Đại-Đức, Tôn-Giả. Vị La-Hán mới đi phân nữa đường Đạo. Ngài phải phá tan năm chướng ngại chót mới được hoàn toàn giải thoát.

         Năm chướng ngại đó là :

         6/- Rouparaga : Muốn sống trong cơi có h́nh dạng.

         7/- Arouparaga : Muốn sống trong cơi vô h́nh, không có h́nh dạng. Phật giáo gọi cơi nầy là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng tức là cơi Thiên-Đường.

    8/- Mano : Kiêu hănh.

    9/- Ouddhatchtcha : Cái Trí c̣n xao động, Tâm chưa yên tịnh.

        10/- Avidjya : Vô minh.

         Mười chướng ngại nầy Phật giáo gọi là Samyojanas, nghĩa là xiềng xích buộc trói con người vào bánh xe Luân-Hồi.

         Bốn bực đệ tử được điểm đạo là bốn quả vị đầu tiên của Quần-Tiên-Hội hay là Thiên-Đ́nh, Phật giáo gọi là Tứ Thánh. Thường thường vị Tu-Đà-Huờn phải tu trong bảy kiếp mới tới bực La-Hán. C̣n La-Hán phải tu thêm bảy kiếp nữa mới được làm một vị Chơn-Tiên A-Sơ-Ca (Aseka). Tất cả là 14 kiếp . Tuy nhiên thời gian nầy có thể rút ngắn lại.

         Sau khi chặt đứt được chướng ngại chót là Vô-Minh th́ vị La-Hán đă hoàn toàn sáng suốt. Ngài được năm lần điểm đạo. Ấn giáo gọi Ngài là Jivanmoukta hay là Atila, Linh hồn đă được giải thoát. Phật giáo gọi là A-Sơ-Ca có nghĩa là không c̣n làm đệ tử, không c̣n học hỏi cái chi trong dăy Địa càu nầy nữa. Đối với người đời th́ Ngài toàn năng, toàn thiện, toàn giác.

         Ngài liên lạc mật thiết với Ngôi thứ ba của Đức Thái-Dương Thượng-Đế. Nhờ vậy Ngài mới được phép thâu đệ tử. Ngài ghé mắt vào vấn đề nào th́ biết trọn vẹn về vấn đề đó, không sót một chi tiết nhỏ nhặt nào cả. Ngài đă đạt được mục đích  định sẵn cho con người trong Thái-Dương-Hệ nầy. Ngài đă vào hạng Siêu Phàm. Người ta gọi Ngài là Chơn-Tiên.

 

AI  ĐIỂM  ĐẠO

 

         Tại quả Địa-Cầu nầy chỉ có một Đấng Duy-Nhất Chí-Tôn cầm quyền Điểm-Đạo mà thôi. Ấy là Đức Ngọc-Đế. Ngài là Chủ-Tể của Quàn Tiên-Hội.

         Ngài thay mặt cho Đức Thái-Dương Thượng-Đế cai trị quả Địa-Cầu nầy và chăm sóc sự sanh-hóa, tiến hóa các loài vật từ ba loài Tinh-Chất cho tới loài Kim-thạch, Thảo mộc, Cầm thú, Người, các hạng Thiên-Thần và các loài mà con người không biết mà cũng không bao giờ tiếp xúc được.

         Không có sự ưng thuận của Ngài th́ không ai được vào Quần-Tiên-Hội.

         Trong hai kỳ Điểm-Đạo đầu tiên, lần thứ nhứt th́ Đức Bồ-Tát hay Đức Đế-Quân chưởng quản Cung thứ Nhất hay cung thứ Nh́ thay mặt Ngài và nhân danh Ngài đặng Điểm-Đạo. Qua lần thứ Nh́ th́ Đức Bồ-Tát. Tới lần thứ Ba, thứ Tư th́ Ngài điểm hay là Ngài sai Một trong ba vị Độc-Giác-Phật, đệ tử của Ngài điểm.

 

BẢY ĐƯỜNG TIẾN HÓA TRƯỚC MẶT CÁC VỊ SIÊU PHÀM

 

         Đường Đạo hay là Đường Tiến-Hóa có phải chấm dứt tại chỗ năm lần điểm đạo nầy hay không?

         Không. Nó vốn vô tận vô biên. Trước mắt các vị Siêu Phàm có bảy đường tiến-hóa khác nhau, các Ngài có quyền tự do lựa chọn con đường hạp với ḿnh đặng đi theo.

          1-  Hoặc nhập vào Niết-Bàn tu hành thêm rồi không biết bao nhiêu tỷ năm sau sẽ thành một vị Avatar hay là Hóa-Thân của Đức Thượng-Đế trong một Vũ Trụ khác. Người ta gọi là mặc áo Đạt-ma-cai-da (Dharmakaya), Tàu dịch là Pháp-thân.

         2-  Hoặc nhập vào cơi Niết-Bàn trong một trạng thái Thiêng-Liêng gọi là Sam-bô-ga-cai-da (Sambhogakaya) không biết nghĩa là chi v́ có nhiều nghĩa.

3- Hoặc nhập vào hạng những vị Niệt-ma-na-cai-da (Nirmanaka-ya) sanh thần-lực để cho nhân viên của Quần-Tiên-Hội dùng độ đời. Nhiều vị đệ-tử của Đức Phật khi xưa theo con đường nầy.

4- Hoặc theo đường tiến-hóa của các vị Đại Thiên Thần.

5- Hoặc dự vào việc tạo lập Dăy-Hành-Tinh Thứ Năm, sau thế cho Dăy Địa Cầu của chúng ta là Dăy Thứ Tư.

         6- Hoặc nhập vào Bộ Tham-Mưu của Đức Thái-Dương Thượng Đế.

         7- Hoặc giữ xác phàm, lănh một chức vụ trong Quần-Tiên-Hội để lo cho sự tiến hóa của các loài vật trên Địa-Cầu.

         Em viết thuộc ḷng những lời nầy một cách chậm chạp và khó khăn, bởi v́ năm ngoái em chưa giỏi tiếng Anh như bây giờ.

         Một phần lớn cuốn nầy vốn lập lại y nguyên lời của Chơn-Sư, c̣n câu nào không phải lời của Ngài th́ cũng là tư-tưởng của Ngài do lời của em diễn ra. Có hai câu bỏ sót, Ngài chữa lại. Trong hai chỗ khác em có quên một chữ, Ngài thêm vô. Trừ ra bao nhiêu đó th́ tác phẩm nầy vốn hoàn toàn của Alcyone (1). Ấy là món quà đầu tiên của em đem hiến cho đời.

         Đức Bà A. Besant viết bài tựa nầy tháng chạp năm 1910, thế th́ năm ngoái tức là năm 1909.

 

ALCYONE VIẾT QUYỂN “DƯỚI CHƠN THẦY” CÁCH NÀO?

 

         Đức Leadbeater có thuật chuyện nầy trong quyển “Chơn-Sư và Đường Đạo” (Les Maitres et le Sentier), tóm tắt như sau đây:

         “Tôi được lệnh mỗi đêm đem Alcyone lên nhà Chơn-Sư, mỗi lần Chơn-Sư giảng dạy Alcyone  lối 15 phút rồi Ngài tóm tắt những điểm (Alcyone tức là Krishnamurti) chánh trong một hay vài câu để Alcyone sáng ra nhớ lại, viết ra rồi học thuộc ḷng. Lúc đó Alcyone chưa giỏi tiếng Anh như bây giờ.

         Khi Alcyone đi theo Đức Bà A. Besant lên Bénarès em mới viết thơ về Adyar cho tôi, xin tôi gởi hết những toát yếu đó lên cho em.

         Tôi tom góp lại rồi đánh máy ra. Tôi xem lại th́ thấy một phần lớn chính là lời của Chơn-Sư. Muốn cho chắc ư không có sự lầm lạc trong việc chép lại, tôi mới đem bản thảo lên Đức Kouthoumi và xin Ngài đọc lại. Chơn-Sư xem qua, đổi một hai chữ ở chỗ nầy, chỗ kia, thêm vài câu mà tôi nhớ có nghe Chơn-Sư nói và Alcyone lại quên đi, Ngài cũng có thêm vài chữ để liên-kết và giải nghĩa.

         Xong rồi Ngài nói: “Cái nầy đúng, có thể dùng được. Nhưng chúng ta phải đem tŕnh cho Đức Bồ-Tát Di-Lạc xem.”

         Đức Bồ-Tát đọc hết rồi Ngài chấp thuận và nói: “Hai vị phải làm một quyển nhỏ xinh đẹp để giới thiệu Alcyone cho người đời biết.”

         Thật ra Chơn-Sư và tôi không có ư định giới thiệu Alcyone với thế tục, chúng tôi tưởng không nên để cho những luồng tư-tưởng tập trung vào một đứa bé mới 13 tuổi c̣n kém giáo-dục và đức-dục. Nhưng trong thế giới Huyền-Bí, chúng tôi thi-hành mạng lệnh của Bề Trên, cho nên sáng bữa sau quyển “DƯỚI CHƠN THẦY” giao cho nhà in liền.

 

ĐỨC LEADBEATER ĐEM BẢN THẢO LÊN NHÀ CHƠN SƯ

BẰNG CÁCH NÀO ?

 

         Đức Leadbeater và Alcyone ở tại Adyar (Madras) c̣n Chơn-Sư ở Tây-Tạng cách xa muôn vạn dậm. Ngài và Alcyone mỗi đêm xuất Vía lên nhà Chơn-Sư.

         C̣n việc Ngài đem bản thảo lên nhà Chơn-Sư không biết đúng là Ngài dùng cách nào.

         Có ba phương pháp thông thường:

         Một là: Làm cho bản thảo mất sức nặng rồi dùng tư-tưởng đưa nó đi tới đâu cũng được.

         Phương pháp nầy 80 ngàn năm trước các vị Đạo Sư đă dùng để đem những tảng đá nặng mấy chục tấn lên cao trên trăm thước đặng xây Kim-Tự-Tháp Khéops.

         Chính là năm 1860 ông kỹ-sư Keely, người Mỹ đă chế được một cái máy gọi là máy Phân-Tán (Appareil désintégrateur), ông lấy một sợi dây quấn vào một ống sắt dài nặng mấy ngàn kư. Ông cho cái máy nầy chạy và truyền qua ống một thứ lực làm cho cái ống nầy nhẹ như cái nút ve, lấy một ngón tay đưa nó đi tới đâu cũng được. Lực nầy không biết phải đặt tên chi cho đúng, gọi đỡ là Lực Dĩ-Thái (Force inter éthérique).

         Hai là: Làm một cánh tay giả bằng chất dĩ-thái rồi cầm quyển sách đem đi, cũng như ta thấy một cái đèn th́nh ĺnh đi dạo chung quanh pḥng rồi trở về chỗ cũ. Chính là hồn ma phải làm bàn tay giả bằng chất dĩ-thái cầm đèn đi.

         C̣n trong khi cầu cơ gọi là Cầu Tiên người ta thấy cây viết tự viết ra chữ. Kỳ thật là người khuất mặt làm bàn tay giả bằng chất dĩ-thái cầm cây viết để viết.

         Ba là: Đem quyển sách theo bề thứ tư, Đệ tứ thứ nguyên không gian (4e dimension), tới đâu cũng được.

         Những vật ở trung tâm mặt trời theo bề thứ tư nầy mà xuống ngay trung tâm trái đất không xuyên qua mặt đất.

         Theo Bề-Thứ-Tư nầy các hành tinh đều liên lạc mật thiết và gần nhau chứ không phải xa nhau như con mắt phàm ta thấy.

 

TẠI SAO ĐỨC ĐẾ QUÂN K.H. LẠI RA CÔNG DẠY ALCYONE

 

         Thiết tưởng nên biết rằng: Quả Địa cầu chia ra nhiều khu vực, mỗi khu vực gồm cả triệu sanh linh từ các hạng Thiên-Thần, Con Người, Thú Vật, Thảo Mộc, Kim-Thạch cho tới các loài mà Con Người không bao giờ gặp.

         Một Đấng Cao Cả cai quản một khu vực và chịu trách nhiệm sự tiến hóa của những nhân vật ở trong địa phận của ḿnh. Mỗi vị phải làm sao trong một thời gian nào đó, các loài vật ở trong địa phận của ḿnh cai quản phải đi tới mức độ tiến hóa đă ghi sẵn trong Thiên-Cơ. Các Ngài hiểu rơ phong tục, tập quán và tŕnh-độ hiểu biết của dân chúng ở trong khu vực của các Ngài. Các Ngài thấy những sự hành động của chúng ta như một cuốn sách dở ra vậy. Các Ngài làm việc không nghỉ, không ngừng, có khi phải tập trung tư tưởng cả ngày lẫn đêm vào việc đương làm. Các Ngài đâu có rảnh rang. Trừ ra có vài vị thâu nhận đệ tử đặng giáo hóa, ta gọi là Chơn-Sư. Nếu Ngài ra công dạy dỗ như trường hợp của Đức Đế-Quân K.H. đối với Alcyone chẳng hạn chỉ v́ các Ngài thấy công dạy dỗ nầy không uổng. Vị đệ tử ra giúp đời đem ánh sáng Chân-Lư cho muôn vạn người khác và bù đắp được thời gian các Ngài bỏ ra để đào tạo y. Không vậy th́ không khi nào các Ngài phí sức đặng huấn luyện y đâu. Công việc của các Ngài nặng nhọc và lớn lao vô cùng. Ngoài ra, các Ngài c̣n phải học hỏi và luyện ḿnh tiến lên những cấp bực cao siêu hơn.

         Trước đây tôi có thuật chuyện Alcyone hai ngàn năm trăm năm trước đă qui y với Phật và dày công tu luyện cho nên kiếp nầy Đức K.H. mới d́u dắt Alcyone. Tưởng cũng phải nói thêm rằng cả trăm ngàn năm trước, hồi c̣n ở tại Châu Atlantide, Alcyone đă được các Đấng Cao Cả chăm nom rồi. V́ những quả lành của Alcyone đă tạo ra lúc Alcyone c̣n ở Dăy Hành-Tinh thứ ba là dăy Nguyệt Cầu, kể ra đă mấy trăm triệu năm trước.

         Nhưng các Ngài đợi đến kiếp nầy Alcyone hội đủ các đức tánh mới cho bước vào cửa Đạo.

         Đây là Luật Nhân-Quả chứ trên Thiên-Đ́nh không hề có một mảy tư vị.

         Thiết tưởng người học Đạo nên biết một điều nầy nữa. Thí dụ một vị đệ tử kia kiếp trước đă được điểm-đạo lần thứ nhất, kiếp nầy đầu thai lại có phải là anh được điểm đạo lần thứ nh́ không ? - Không, không phải như thế. Kiếp nầy anh có ba thể: Thân, Vía, Trí mới. Thường thường chúng nó bị cách nuôi dưỡng của cha mẹ và hoàn cảnh biến đổi, lănh cái xấu th́ nhiều, c̣n cái tốt th́ ít. Anh phải khắc kỷ và ra công luyện tập ngày đêm. Trước hết anh phải vào hạng đệ tử nhập môn, đệ tử chánh thức, con của Thầy rồi sau mới được điểm đạo lần thứ nhất lại. Bốn bực đệ tử đều phải tuân theo luật lệ nầy, trừ ra Chơn-Sư, nghĩa là mỗi kiếp vị đệ tử đều phải được điểm đạo lại, bởi v́ ba thể: Thân, Vía, Trí đều mới.

         Cũng như Alcyone, lúc c̣n nhỏ bị ông thầy hung dữ và người cha lỗ măng, cộc cằn thường ngày đánh đập, chưởi mắng, bỏ đói, nên ba thể: Thân, Vía, Trí bị hư rất nhiều, bởi chưng Alcyone là một đứa trẻ dễ xúc động.

         Nhờ căn lành nên Alcyone gặp Đức Leadbeater, Ngài đào luyện anh theo phương pháp Bí-Truyền, ba thể của anh trở lại tốt, nhưng không được hoàn toàn đẹp đẽ như ư muốn của các Đấng Cao Cả. Đây là điều vô cùng đáng tiếc.

 

V̀ LẼ NÀO TIÊN TRƯỞNG BIẾT ĐƯỢC TR̀NH ĐỘ TIẾN HÓA CỦA CÁC LOÀI TRONG ĐỊA PHẬN CỦA CÁC NGÀI  CAI QUẢN .

 

         Điểm nầy tôi tưởng cũng phải giải nghĩa ra. Chúng ta không quan niệm được tại sao Tiên Thánh lại biết được điều lành hay điều dữ của ta đă gây ra.

         Thật sự tư tưởng, ư muốn, lời nói, việc làm của ta đều có h́nh dạng. Chẳng những chúng nó mà thân h́nh và y phục của chúng ta đều có ghi h́nh ảnh trên chất Tiên-Thiên-Khí A-Ca-Sa (Akasa). Những h́nh ảnh nầy pháp môn gọi là Clichés akasiques, tới chừng nào Thái-Dương-Hệ nầy tan ră chúng nó mới tiêu mất. Người có mắt Thánh ḍm vô Tiên-Thiên-Kư-Ảnh th́ biết được những kiếp trước của ta, những điều của ta làm từ thiện hay độc ác     

         Hăy coi con nhện bủa lưới bao phủ ḿnh nó thế nào th́ con người gây ra nhân quả và dính líu với chúng nó cũng thế đó.      

         Những hiện tượng xảy ra từ Khai Thiên, Tịch Địa hay là lúc sanh hóa Thái-Dương-Hệ nầy đều có ghi trên Tiên-Thiên-Khí. Mở được Huệ-Nhăn th́ thấy được rơ ràng.

         Các vị Thánh Hiền thuở xưa đều biết được lẽ nầy song không biết làm sao giải thích cho thiên hạ lúc đó hiểu, nên chỉ dạy phải sợ Trời mà thôi.

         Trong Minh Tâm Bửu Giám có mấy câu nầy:

         1)- Tử viết: Vi thiện giả, Thiên báo chi dĩ phước. Vi bất thiện giả, Thiên báo chi dĩ họa.

- Đức Khổng Tử dạy rằng: Làm lành, Trời lấy cái phước trả lại. Làm không lành, Trời lấy cái họa trả lại.

         2)- Từ Thần Ông: Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, nhược bất báo thị thần vị đáo.

-   Làm lành th́ có lành trả lại, làm ác th́ có ác trả lại; nếu chưa báo ứng th́ tại chưa tới ngày giờ.

         Hai câu nầy nói rơ ràng về Luật Nhân Quả Báo Ứng.

 

VỀ THIÊN LƯ

 

         Huyền Đế thùy huấn: “Nhân gian từ ngữ, Thiên văn như lôi. Ám thất khuy tâm, Thần mục như điện.”

         Lời Huyền-Đế dạy răn đời: “Ở thế gian lời nói riêng tư, Trời nghe như sấm. Ở trong nhà tối ḷng xấu tưởng quấy, mắt Thần thấy rơ như chớp.”

         Lời nói riêng tư rất nhỏ mà tại sao Trời lại nghe như sấm?

         Phải mở Huệ Nhăn và Huệ Nhĩ mới biết câu nầy đúng với sự thật.

        Thuở xưa không ai tin lời của ông Huyền-Đế đă dạy, nhưng ngày nay có thể chứng minh được điều nầy. Ta chỉ vặn máy thu thanh đúng với làn sóng điện phát ra từ đài nào ở ngoại quốc th́ ta nghe được tin tức loan đi. Muốn nghe nhỏ cũng được, hay nghe lớn cũng được, không khó khăn chút nào. Người ta nói: Đây là nhờ điện chuyển di lời nói, nhưng người ta đă quên rằng điện Trời c̣n mạnh không biết mấy trăm ngàn lần hơn điện của con người làm ra.

         Lời nói ghi trên Tiên-Thiên-Khí A-Ca-Sa không khác nào tiếng ca bị thâu vào dĩa hát. Dầu cho lời nói thốt ra từ đời tối thượng cổ đi nữa, nếu biết phương pháp th́ sẽ nghe nó lại được rơ ràng. Điều nầy không thể cắt nghĩa cho người thường hiểu được. Phải tu hành tới bậc Tư-Đà-Hàm sắp lên mới dùng được quyền năng nầy.

         C̣n câu thứ nh́: Tại sao trong nhà tối mắt Thần thấy ḷng xấu của ta như điện?

         Phải hiểu như vầy: Đừng nói ở trong tối không ai thấy, không ai biết ḿnh đang tính toán việc quấy quá trong ḷng. Thần, Thánh thấy rơ điều đó như chớp nháng sáng rỡ.

         Đúng vậy, tư tưởng và ư muốn có h́nh dạng, màu sắc. Người có Huệ nhăn đều thấy rơ như ban ngày.

         Con người giấu giếm với nhau được, chớ giấu giếm Trời Đất, Quỉ, Thần sao được.

         V́ lẽ nầy mà các Đạo Sư đều khuyên con người, nhất là những người chí nguyện phải hết sức Chân Chánh, hết sức Ngay Thật. Không ai chỉ mối Đạo cho kẻ giả dối đâu.

         Chúng ta có thể khoe ḿnh, dối người, mà có thể dối lương tâm ḿnh và dối Quỉ, Thần được không? Nói chi là tới Trời Đất, Tiên Thánh. Cũng v́ lư do nầy cho nên trên ngạch cửa Thánh Điện Delphes mới có khắc câu châm ngôn: “NGƯƠI HĂY BIẾT NGƯƠI RỒI NGƯƠI SẼ BIẾT VŨ TRỤ VÀ CÁC VỊ THƯỢNG ĐẾ”.

         Chúng ta c̣n vô minh, nên c̣n phạm nhiều tội lỗi mà không ngờ. Hăy phục thiện, có lỗi th́ lo nhận lỗi, rồi lo sữa đổi cái dỡ ra cái hay, cái xấu ra cái tốt, cái dữ ra cái hiền. Như thế th́ trong một thời gian sau, tâm trí sẽ mở mang, rồi ánh sáng Chân lư sẽ lần lần hiện ra cho chúng ta thấy.

         Cầu xin tác phẩm nầy giúp ích cho kẻ khác cũng như lời khẩu truyền đă giúp ích cho Alcyone vậy.

         Bởi Alcyone cũng mong mỏi như thế, cho nên em mới đem truyền lại cho chúng ta.

         Những lời giáo huấn nầy có hiệu quả là khi nào người ta ăn ở in như vậy; cũng như Alcyone từ khi thầy dạy cho đến giờ vẫn tuân theo luôn luôn.

         Nếu mà noi theo gương nầy cũng như giữ vẹn những lời giới răn tức th́ cửa Đạo sẽ mở rộng, độc giả sẽ đặt những bước đầu tiên trên đường Đạo cũng như tác giả đă bước vào đó rồi vậy.

         Đây là lời cầu chúc của Đức Bà A. Besant, nhưng chúng ta nên để ư tới những danh từ: “Tuân theo luôn luôn, noi theo gương nầy, giữ vẹn những lời giới răn . . .”

         Tại sao vậy? – Bởi v́ thường thường tín đồ các Tôn Giáo giữ những giới răn cho có lệ.

         Thử hỏi: Ngũ thường: Nhân, nghĩa, Lễ, Trí, Tín, được mấy nhà nho tuân theo triệt để, hay là học sách Thánh Hiền để nói chuyện trong mấy đám tiệc tùng tỏ ra ḿnh hiểu nhiều biết rộng. Biết là một việc, c̣n hành là một việc khác nữa.

         C̣n Ngũ giới và Bát Chánh Đạo của Phật dạy đă 2500 năm nay, trong 600 triệu Phật tử hầu hết thích tụng kinh, đọc kệ, chớ không ra công luyện tập để trau giồi tâm tánh cho thật tốt hầu học đặng Chân truyền. Chẳng phải riêng ǵ Nho giáo, Phật giáo cho đến Ấn giáo, Bà La-Môn giáo, Công giáo, Hồi giáo, vân vân cũng không tránh khỏi điều nầy nữa.

         C̣n về Yoga  cũng  vậy.  Muốn học Yoga nào cũng phải giữ vẹn hai điều kiện đầu tiên: Yama và Niyama là giới cấm và qui luật.

 

YAMA: GIỚI CẤM

         Yama gồm 5 cấm :

         1)- Không làm hại người và vật, không hung bạo từ trong tư tưởng, ư muốn cho tới lời nói và việc làm.

2)- Ngay thật, không nói dối bất câu dưới h́nh thức nào.

3)- Không trộm cắp, chân chánh, ngay thẳng.

4)- Trinh khiết, tuyệt dục từ trong tư tưởng.

         5)- Thanh bần, không v́ tư lợi.

 

NIYAMA: QUI LUẬT

         Niyama gồm 5 điều :

         1)- Trong sạch từ trong thâm tâm cho tới bên ngoài: thân thể, y phục.

2)- An phận.

3)- Khổ hạnh.

         4)- Phát triển bản ngă (Có chỗ để: kỷ luật tư-tưởng, làm chủ cái Trí).

         5)- Chiêm ngưỡng Thượng Đế, Cúng hiến.

         Tại sao điều kiện quá gắt gao? – Bởi v́ Yoga nguy hiểm lắm. Nó có thể biến đổi Con Người thành một vị Tiểu-Thượng-Đế hay là một Đại Quỉ Vương tùy theo cách sử dụng những định luật thiên nhiên đă khám phá ra.

         Dầu ở cơi Trần hay trên Thiên-Đ́nh, đâu đâu cũng quí trọng đức hạnh hơn tài phép.

         Đức hạnh là gia tài thiêng liêng của ta, nó theo ta măi từ đời nầy qua đời kia và sửa đổi số phần của ta ra tốt đẹp.

         C̣n những phép thần thông chỉ dùng được trong một thời gian. Nếu sử dụng sái cách th́ gây ra những hậu quả nặng nề hơn cả trăm cả ngàn lần nghiệp quả của người thường. Phép tắc là cây gươm hai lưỡi, nó chém người được mà cũng trở lại chém ḿnh được nữa.

 

XIN DÂNG CHO NHỮNG NGƯỜI ĐẾN GƠ CỬA

 

         Đấng Christ đă nói: “- Hăy kiếm th́ ngươi sẽ gặp. Hăy gơ cửa, người ta sẽ mở.” (Saint Matthieu VII, 7).

         T́m kiếm đây là t́m kiếm Đường Đạo, c̣n gơ cửa là gơ cửa Thánh-Điện.

         Nhưng phải t́m Đường Đạo với tấm ḷng trong sạch, chớ không phải tánh ích kỷ mong thành Tiên, thành Phật đặng ngồi trên toà sen để cho cả trăm, cả ngàn người tới qú lạy trước h́nh tượng.

         Học Đạo để sau cứu vớt quần sanh ra khỏi chốn trầm luân khổ hải và đốt đuốc huệ soi sáng bước đường cho những kẻ c̣n ở trong chốn tối tăm.

         Tôi xin thuật chuyện “Gơ cửa Thánh-Điện” cho quí bạn nghe:

         “Một người kia tới gơ cửa Thánh-Điện. Ở trong có tiếng vọng ra hỏi : “Ai đó?”. Anh bèn trả lời: “Tôi”. Tức th́ anh nghe đáp lại: “Tại đây không có chỗ để cho “Anh” hay là để cho “Tôi” đâu. Cửa đóng chặt. Anh tức ḿnh bèn ra sa mạc tham-thiền.

         Một năm sau, anh trở lại Thánh-Điện gơ cửa nữa. Cũng câu hỏi như khi trước: “Ai đó?”. Anh bèn trả lời: “Anh”. Tức th́ cửa mở, anh bước vô.”

                                                                 (Ngụ ngôn Ba-Tư)

         Ư nghĩa bài nầy rất sâu xa. Khi anh trả lời “Tôi” tức là anh c̣n ư nghĩ chia rẽ “Anh” và “Tôi”. Cửa đóng chặt. Tới chừng anh trả lời “Anh” th́ không c̣n sự khác biệt nữa, “Anh là Tôi” , “Tôi là Anh”. Người ta mới cho anh bước vào.

         Trong Thánh-Điện tất cả là một. Không có Anh mà cũng không có Tôi, chỉ có “Chúng ta” mà thôi. Không c̣n Bản Ngă riêng tư nữa, tức là Vô Ngă.

 

TẠI SAO CỬA ĐẠO LẠI ĐÓNG CHẶT?

 

         Người ta thường than phiền tại sao Cửa Đạo lại đóng chặt?  Người ta quên rằng: Một chướng ngại cản trở các Đạo Sư là: không có học tṛ đủ khả năng để học hỏi; nếu không có học tṛ th́ làm sao ông Thầy dạy được bây giờ. Các lớp vẫn để trống. Cửa Đạo luôn luôn sẵn sàng mở ra cho những ai có đủ tư cách và chỉ biết phụng sự với tấm ḷng vị tha, không màng tư lợi hầu xứng đáng với nhiệm vụ cao cả và khó khăn sau nầy.

 

BA CÂU CẦU NGUYỆN

 

           Xin dắt tôi từ cơi giả đến cơi chân

           Xin dắt tôi từ chỗ tối tăm đến nơi sáng suốt

           Xin dắt tôi từ cửa tử đến cơi trường sanh bất tử.

        

Ba câu nầy vốn ở trong kinh Brihad Aranyaka Upanishad và viết bằng chữ Bắc Phạn ( Sanscrit).

        

1)- XIN DẮT TÔI TỪ CƠI GIẢ ĐẾN CƠI CHÂN.

 

         Giả và Chân vẫn tương đối chớ không phải là tuyệt đối.

         Giả đây có nghĩa là: Có thật, song dùng trong một thời gian ngắn ngủi, chớ không phải là không có.

         C̣n Chân là cái được lâu dài hơn.

         Như xác thân ta đây, đối với ba thể cao: Thượng-Trí, Kim-Thân (Thể Bồ-Đề) và Tiên-Thể, th́ nó là giả v́ để dùng có một đời mà thôi. C̣n ba thể kia sống tới cả triệu triệu năm.

         Khi ta xuất Vía qua cơi Trung-Giới, cơi Trần biến mất. Ta chỉ thấy cơi mới lạ nầy. Vậy th́ đối với ta lúc nầy cơi Trần là giả, c̣n Trung Giới là thật. Tới khi trở về nhập xác ta thức dậy th́ cơi Trần hiện ra trước mắt, nó là thật, c̣n cơi Trung-giới là giả.                

         Nói cho đúng, tất cả những hiện tượng đều vô thường, đều là giả. Bởi v́ tới một lúc kia, khi đúng ngày giờ rồi th́ Thái-Dương-Hệ nầy cũng sẽ tan ră ra Hỗn-Nguơn-Nhất-Khí như trước.

         Đây là nói về h́nh thức, c̣n các Linh Hồn là Tinh Thần đều nhập vô tâm Đức Thái-Dương Thượng-Đế. Đă đến thời kỳ nghỉ ngơi, tiếng Phạn gọi là Pralaya. Hết lúc nghỉ ngơi th́ sanh hoá lại. Nhân vật đều tiến lên một bậc cao hơn trước. Tinh thần và Vật chất đều nương tựa lẫn nhau.

         Cũng như đem phân tách một nguyên tử ta thấy nó là một Thái-Dương-Hệ nhỏ. Nó gồm hai phần:    

1)   Chính giữa là mt cái ht (Nhân:Noyau).                                                          

         2)- Chung quanh nhân là những hột điển âm (électrons) xây tṛn không khác nào những hành-tinh xây chung quanh mặt trời.

         Nhân cũng gồm 2 phần :

a)- Những trung-ḥa-tử không chứa thứ điện nào cả.

b)- Và những dương điện tử (protons) chứa điện dương.

Mà điện là ǵ? – Ấy là một thứ rung động.

         Rơ ràng là khi phân tích ra là giả, c̣n khi tổng hợp lại là chân. Thật là cực kỳ khó khăn.

         Vậy th́ bây giờ ta nên cải thiện đời sống của ta là điều hay hơn hết, chớ kéo dài lư luận chân và giả, không biết tới đâu mới chấm dứt, mà cũng không ích chi cho thực tế.

 

         2)- XIN DẮT TÔI TỪ CHỖ TỐI TĂM ĐẾN NƠI SÁNG SUỐT.

 

         Chỗ tối tăm đây là sự vô minh, sự dốt nát, mê muội; c̣n chỗ sáng suốt tức là sự hiểu biết Thiên-Lư.                   

         Nói cho đúng, nếu không biết Thiên Lư, không biết Cơ-Tiến-Hóa th́ dầu cho ta tài cao học rộng tới đâu cũng c̣n vô minh, cũng c̣n ở trong chốn tối tăm; bởi v́ nếu không biết Luật Trời, làm nghịch Thiên Ư th́ gây ra nhiều sự đau khổ cho đời, làm mất sự quân b́nh, sẽ bị Nhân Quả trả lại. Chúng ta phải chịu những tai nạn cân phân với những điều ác của chúng ta đă làm, chạy trốn đi đâu cũng không khỏi.

         XIN DẮT TÔI TỪ CHỖ TỐI TĂM ĐẾN NƠI SÁNG SUỐT cũng có nghĩa là xin Chơn-Sư dắt ta từ cơi Trần lên mấy cơi cao.

         Quả thật cơi Trần là chốn tối tăm, nếu không có mặt trời soi sáng th́ chúng ta vẫn ở trong thầm tối chớ không có ban ngày.

         Trái lại ở mấy cơi trên, không có ban đêm, ban ngày như tại thế gian, bởi v́ chất khí làm mấy cơi đó chói sáng rực rỡ, càng lên mấy cảnh cao th́ càng thêm tốt đẹp.

         Nếu đem ánh sáng của cơi Trung giới so sánh với ánh sáng của cơi Thượng giới và ánh sáng của cơi Bồ-Đề th́ ta có thể nói:

Ánh sáng của cơi Trung giới là lúc rạng đông. 

Ánh sáng của cơi Thượng giới là lúc mặt trời mọc ba sào.

C̣n ánh sáng của cơi Bồ-Đề là lúc mặt trời gần đúng ngọ.

         Cũng nên biết trên cơi Bồ-Đề c̣n cơi Niết-Bàn, cơi Đại Niết-Bàn, cơi Tối-Đại-Niết-Bàn [5](1), ngoài ra c̣n có những cảnh giới cao siêu của Hư-Không [6](2) nữa. Thật là vô tận, vô biên, không thể nào cầm cây viết phàm mà tả nổi, v́ ta không có danh từ thích-nghi.

         V́ vậy mới có câu cầu nguyện: Xin dắt tôi từ cơi giả đến cơi chân, từ chỗ tối tăm đến nơi sáng suốt.

 

         3)- XIN DẮT TÔI TỪ CỬA TỬ ĐẾN CƠI TRƯỜNG SANH BẤT TỬ.

 

         Cửa tử là cơi Trần đây. Chúng ta c̣n ở trong Trần th́ tránh không khỏi bốn cái ṿng lẩn quẩn: Sanh, lăo, bệnh, tử.

         Thật ra xác thân chỉ là một cái áo để cho chúng ta dùng trong một đoạn đường. Tới một ngày kia khi nó đă rách nát hay là đă hư mục rồi th́ phải cởi bỏ nó để mặc áo mới khác và tiếp tục cuộc hành hương.

         Người đă biết Đạo rồi th́ không sợ cái chết, nhưng không phải v́ lẽ đó mà không nuôi dưỡng nó và chăm nom nó thật kỹ lưỡng. Phải giữ ǵn nó để học hỏi đạo lư và kinh nghiệm hầu sau đạt được mục đích đă định sẵn cho Con người trong Thái-Dương-Hệ nầy là trở nên trọn sáng, trọn lành làm một vị Siêu Phàm, nhập vào cơi Niết Bàn thoát đọa luân-hồi.

         Cơi Niết-Bàn mới thật là cơi Trường Sanh Bất Tử.

         Câu cầu nguyện nầy có nghĩa là : Cầu xin Chơn-Sư chỉ bảo phương pháp luyện ḿnh để tiến mau trong 14, 15 kiếp th́ qua tới Bờ-Giác, đắc Đạo thành Chánh Quả được Trường Sanh Bất Tử.

 

TỰA

 

         Mấy lời nầy chẳng phải của tôi. Ấy là lời của Sư-Phụ đă dạy tôi. Không có Ngài th́ tôi không làm cái chi đặng, nhờ Ngài giúp tôi mới bước vào đường Đạo được.

         Alcyone cho rằng sự tiến bộ của huynh là nhờ ảnh hưởng và sự giúp đỡ của Chơn-Sư.

         Bởi những lời trong quyển “Dưới Chơn Thầy” vốn của Chơn-Sư, vậy khi ta đọc quyển nầy tức là ta nghe được những lời của Ngài dạy, mặc dầu là một cách gián-tiếp.

         Anh cũng vậy, anh muốn bước vào đường Đạo nầy th́ những lời Sư-Phụ tôi sẽ hữu ích cho anh, nếu anh tuân theo. Nói rằng những lời đó chơn chánh và tốt đẹp th́ chưa phải là đủ. Người nào muốn thành công th́ phải ăn ở in như lời chỉ giáo. Một người kia bụng đói xếp ve ḍm một món ăn rồi nói  ngon quá th́ có ích chi cho va đâu, va phải tḥ tay lấy ăn. Cũng thế, nghe lời Thầy dạy chưa phải là đủ, phải thi hành những điều Ngài nói, chăm chỉ từng tiếng, từng dấu.

         Có người nói: Tôi sẽ làm theo những điều đă viết trong quyển sách nhỏ nầy. Lời hứa nầy tốt lắm, nhưng nếu không đem ra thực hành th́ không có hiệu quả ǵ hết.

 Cái bệnh thông thường của người đời là học Đạo để Thuyết chớ không phải để Hành. Nếu không Hành Đạo th́ không bao giờ Đắc Đạo. Có người thấy được ḿnh hiểu nghĩa vài quyển kinh—mà chưa ắt là thật trúng—th́ tưởng đă thành một vị Bồ-Tát rồi. Sự thật th́ đâu có việc dễ dàng như thế.

  Chỉ đọc hai quyển “TRƯỚC THỀM THÁNH ĐIỆN VÀ CON ĐƯỜNG CỦA NGƯỜI ĐỆ TỬ”, ta cũng thấy những điều kiện phải hội đủ để bước vào cửa Đạo rất khó khăn, không phải người mộ Đạo nào cũng thực hành được cả.

         Nhưng không phải v́ lẽ đó mà ngă ḷng. Chúng ta phải cố gắng măi, mỗi kiếp phải tiến lên, phải giữ đúng qui luật, dầu cho những việc làm bất nghĩa đem đến cho ta sự vinh hoa, phú quí cũng phải từ chối, đừng để ḷng ta bị nhơ bợn và sẽ mắc tội với Trời. Ta phải trả quả trong một thời gian sau, mà con cháu ta cũng phải chia sớt tội ác của ta đă làm nữa.

         Nếu ta bắt đầu tu hành kiếp nầy th́ có lẽ 8, 9 kiếp sau ta được làm đệ tử Chơn-Sư. Có bạn sẽ nói:

Tại sao 8, 9 kiếp lâu quá vậy?

Tôi tưởng 8, 9 kiếp là mau lắm đó.

         Các bạn nên nhớ rằng: Kiếp nầy ta khởi sự học Đạo, việc làm chủ ba thể không phải là việc dễ dàng đầu hôm sớm mai mà thành công. Phải luyện tập từ kiếp nầy qua kiếp kia. Hơn nữa kiếp sau chưa chắc ta giữ được chủ nghĩa độc thân và vào hàng tu tŕ. Nếu mỗi kiếp ta gây ra oan trái, ta đều có gia đ́nh th́ e cho hết 9 phần 10 thời giờ để lo cho sự sanh sống. Ta chỉ c̣n có 1 phần 10 thời giờ để lo cho sự luyện tập mà thôi.

         Thí dụ: Mỗi ngày ta công phu trong một giờ, dám chắc chỉ tồn c̣n có 10 hay 15 phút là giỏi lắm, c̣n 50 hay 45 phút kia cái trí đă xao lăng rồi. Nếu công phu trọn vẹn được nửa giờ th́ trong một năm chỉ được có 183 giờ thôi.

         10 năm không ngừng nghỉ th́ được 183 x 10 = 1830 giờ.

         C̣n một đứa trẻ cắp sách vô trường học mỗi ngày bực trung b́nh 5 giờ. Mỗi năm tính trung b́nh 245 ngày học thôi th́ một năm được:

         5 x 245 = 1225 giờ.  Trong 2 năm được: 2450 giờ.

         Chúng ta công phu trong 10 năm không bằng một đứa trẻ đi học trong 2 năm. Ta bắt đầu học Đạo không khác ǵ một đứa trẻ vô ngồi lớp Một rồi qua lớp Hai, thuở xưa gọi là lớp Tư. Thử hỏi một đứa trẻ mới đọc chữ vừa chạy, chưa được suông sẻ th́ kiến thức nó được bao nhiêu?

         C̣n chúng ta, nếu cố gắng th́ mới hiểu được chút ít Chân-Lư; c̣n không biết bao nhiêu sự bí mật của Tạo Công mà người học Đạo cần phải t́m hiểu. Tu trong 10 kiếp mà được làm đệ tử Chơn-Sư, tưởng cũng là mau lắm rồi.

         Như trường hợp của Alcyone, không nói tới hồi c̣n ở dăy Hành Tinh thứ ba là dăy Nguyệt Cầu (Dăy Mặt Trăng = Chaine lunaire) cả trăm triệu năm trước Alcyone đă tạo dây liên lạc với các Đấng Cao Cả ngày nay là Đức Phật, Đức Bồ-Tát, các vị Đế Quân và Chơn-Sư rồi. Tại dăy Địa Cầu chúng ta, 130 kiếp trước, hồi c̣n ở châu Atlantide, Alcyone đă được các Đấng Cao Cả chăm nom mà tới kiếp nầy Alcyone mới bước vào cửa Đạo. Phải đọc những tiền kiếp của Alcyone mới thấy các Đấng Cao Cả săn sóc những người thành tâm mộ Đạo là thế nào.

         Tôi xin đem sự kinh nghiệm của Đức Leadbeater để chứng minh.

 

SỰ KINH NGHIỆM CỦA ĐỨC LEADBEATER

 

         Đức Leabeater có thuật sự kinh nghiệm của Ngài hồi Ngài mới được Chơn-Sư thâu nhận làm đệ tử.

         Tôi xin tóm tắt câu chuyện đó ra để chứng minh rằng: Chơn-Sư biết rơ chúng ta trước khi chúng ta biết Ngài.

         Đức Leabeater nói: “Tôi nhớ lại một việc đă xảy ra 25 năm trước, khi tôi mới được Chơn-Sư thâu nhận.

         Tôi có quen biết với một người học lực uyên thâm, một nhà bác học tánh t́nh cao thượng, đời sống rất trong sạch và rất tin tưởng Chơn-Sư.

         Mục đích của anh là chuẩn bị để phụng sự các Ngài. Dường như về nhiều phương diện, anh hơn tôi rất xa. Anh rất xứng đáng được làm đệ tử. Tôi lấy làm lạ tại sao giá trị của anh chưa được nh́n nhận.        

         Vốn c̣n mới mẻ và chưa biết cách thức làm việc trong Huyền-Bí-Học cho nên khi có dịp đưa đến, tôi kính cẩn xin với Chơn-Sư cho phép tôi đem tên anh ta ra nói và ngỏ ư rằng anh sẽ thành một khí cụ rất tốt.

         Chơn-Sư mĩm cười vui vẻ và trả lời rằng: “Con đừng sợ người ta quên người bạn của con. Không có ai bị bỏ rơi đâu. Nhưng trường hợp người bạn của con, y c̣n phải trả một thứ quả nữa, nên thầy không thâu nhận y bây giờ được. Chẳng bao lâu nữa y sẽ từ giả cơi Trần và trong một thời gian sau y sẽ đầu thai lại. Tới chừng đó, nợ cũ đă trả xong, những điều con muốn cho y sẽ thực hiện được.

         Nói rồi với ḷng từ bi luôn luôn sẵn sàng biểu lộ ra, Ngài cho tâm tôi nhập vô tâm Ngài một cách mật thiết hơn nữa và đem nó lên một cơi cao hơn cơi mà tôi mới đi đến rất nhiều. Ở nơi đó, Ngài mới chỉ cho tôi biết các Đấng Cao Cả quan sát cơi Trần cách nào.

         Quả Địa Cầu hiện ra trọn vẹn dưới mắt chúng tôi với cả ngàn triệu Linh Hồn. Phần đông chưa tiến hóa nên thấy mờ mờ; nếu trong đám đông nầy mà có một Linh Hồn nào đi gần tới mức có thể dùng được, dầu cho việc đó c̣n xa vời đi nữa Linh Hồn đó vẫn phân biệt với những Linh Hồn khác như ánh sáng đèn pha trong đêm tăm tối .

         Chơn-Sư bèn nói: “Bây giờ con có thấy chưa? Làm sao quên được một người nào dầu c̣n lâu lắm y mới được vào hàng đệ tử nhập môn.”

         Thế nên chúng ta chớ sợ Tiên Thánh không biết chúng ta, chỉ e chúng ta chưa thật ḷng chuẩn bị để xứng đáng làm đệ tử của Ngài mà thôi.

         Thấy gương Alcyone chúng ta nên phấn chí tu hành. Không tu kiếp nầy th́ kiếp sau hay kiếp sau nữa cũng phải tu. V́ Luật Tiến Hóa và luật Nhân Quả thúc đẩy con người đi tới măi, không cho ta đứng lại một chỗ lâu được. Chớ nên phạm Luật Trời.

         Người học Đạo khi được làm đệ tử Chơn-Sư rồi th́ mỗi công việc phải lo thực hành tận tâm và chăm chỉ xem từ nét, từ dấu để hiểu biết mạng lịnh và ư muốn của Ngài.

         Nếu mà không chủ ư đến một dấu và bỏ qua một tiếng th́ dấu và tiếng đó mất biệt rồi, bởi v́ Chơn Sư không nói hai lần.

         Người học Đạo mới nghe qua th́ lấy làm lạ, v́ tại sao Chơn Sư không nói hai lần?

         Bởi v́ Chơn Sư không có ngày giờ dư như chúng ta. Hơn nữa là nếu chúng ta không sẵn sàng thi hành mạng lịnh th́ chúng ta mất cơ hội giúp đời và một người bạn khác sẽ ra thay thế chúng ta để làm công việc đó.

         Ở dưới Trần, chúng ta phải lặp đi lặp lại măi, có khi vài chục lần, mà đâu cũng c̣n đó, hay là chỉ thấy nhúc nhích một chút thôi.

         Những đức tánh cần thiết phải có để bước vào cửa Đạo, các vị Giáo-Chủ đă lặp đi lặp lại cả trăm ngàn năm rồi, mà có được bao nhiêu người triệt để tuân theo đâu? Như Đạo Bát Chánh của Đức Phật chẳng hạn.

         Trong Huyền-Bí-Học khác hẳn ngoài đời và xin nhớ quyển “DƯỚI CHƠN THẦY” thuộc về Huyền Bí Học, nếu một nét, một dấu mà bỏ qua không để ư th́ nó mất biệt rồi.

         Tưởng cũng nên biết cách các Chơn-Sư đào tạo các đệ tử. Ít khi Ngài cho những mạng lịnh trực tiếp. Đức Leadbeater thuật lại rằng: Lúc Ngài mới được vào hàng đệ tử nhập môn Ngài có hỏi Chơn Sư:

        “ Bạch Sư Phụ, con phải làm điều chi?”

         Chơn Sư bèn nói:

        “Con phải tự t́m kiếm lấy. Ta biết rằng: nếu ta ra lịnh cho con làm cái chi đó th́ con thi hành liền, mà như vậy quả tốt của sự vâng lời và công việc làm vốn thuộc về phần của Thầy nhiều hơn của con. Thầy muốn con có công đức, Thầy muốn con tự làm những việc lành để con hưởng quả tốt. Ư kiến phải do con chớ không phải do Thầy. . .”

         Mỗi vị Chơn-Sư đều có cách riêng đào tạo đệ tử, tùy theo Cung của họ và trách nhiệm của họ sẽ lănh sau nầy. Như Đức Chơn-Sư K.H., là Đức Đế-Quân chưởng quản Cung thứ nh́, là Cung Đạo Đức và Giáo-dục, Ngài ít khi rầy đệ tử; Đệ tử của Ngài chỉ xem qua cách Ngài ḍm một cái th́ biết Ngài bằng ḷng hay không bằng ḷng rồi. V́ vậy đệ tử của Ngài luôn luôn rất cẩn thận.

         C̣n Đức Chơn-Sư M. trong kiếp nầy, hồi c̣n ở ngoài đời, Ngài là Hoàng-Đế xứ Radjapoutana. Ngài tu hành đắc Đạo lên tới bậc Đế Quân. Ngài chưởng quản Cung thứ nhất là Cung Hành Chánh, Uy quyền, Ngài ra lệnh hẳn ḥi. Nếu đệ tử phạm lỗi th́ Ngài hài ra một cách nghiêm khắc, nhưng Ngài vẫn tha thứ, v́ biết rằng thường thường đệ tử c̣n yếu đuối và vô tâm, Ngài muốn cho đệ tử biết chỗ quấy của ḿnh để đừng tái phạm.

         Xin nhắc lại: Chơn-Sư không hề bắt buộc đệ tử phải thành công trong mọi việc. Thành công hay thất bại, điều đó không quan hệ. Điều cần thiết là cách làm việc và sự tận tâm mà thôi.

 

BỐN ĐỨC TÁNH CẦN THIẾT

 

Muốn bước vào đường Đạo phải có bốn đức tánh nầy:

                 Một là: PHÂN BIỆN  ( Le discernement)

                 Hai là: ĐOẠN TUYỆT  (Le détachement)

                 Ba là: HẠNH KIỂM TỐT  (La bonne conduite)

                 Bốn là: L̉NG TỪ ÁI  ( L’amour )

         Tôi rán nói cho anh nghe những lời Sư-Phụ dạy tôi về mỗi đức tánh ấy.

         Những đức tánh mà người chí nguyện phải có đủ để bước vào đường Đạo, các Tôn-Giáo lớn đều có chỉ dạy, tuy với những tên khác nhau, song vẫn một ư nghĩa.  

        Trong quyển “DƯỚI CHƠN THẦY” là:

1-  Phân Biện

2-  Dứt Bỏ, Xả, Đoạn Tuyệt.

3-  Hạnh Kiểm Tốt.

4-  Ḷng Từ-Ái.

Về đức tánh thứ ba: Hạnh Kiểm Tốt gồm:

1-  Tự chủ trong lúc tư tưởng.

2-  Tự chủ trong lúc hành động.

3-  Khoan dung.

4-  An phận.

5-  Đi thẳng tới mục đích (Quyết-định).

6-  Ḷng Từ ái.

         Về Ấn Giáo và Phật Giáo xin xem thiên thứ ba: Hạnh kiểm tốt.

         Bây giờ xin nói vài lời tại sao bên Chánh Đạo luôn luôn chú trọng về hạnh kiểm và cho rằng: Nền tảng của Đạo là Đức Hạnh.

         Trước nhất, bởi v́ sau một thời gian luyện tập sinh viên Huyền-Bí-Học sẽ có một vài quyền năng, người đời gọi là siêu việt và điều quan trọng hơn hết là việc sử dụng chúng vào việc cứu người hay là hại người.

         Một lẽ khác nữa, dầu ở ngoài đường đời hay ở trong cửa Đạo đều có những sự thử thách đưa tới cho những người tu hành như: Danh vọng, tiền tài, sắc đẹp, uy-quyền để cám dỗ. Nếu không rơ mặt thật của chúng, không có gan vàng dạ sắt, không có một ư chí cương quyết, cứng cỏi như thép đă trui để đương đầu với những chướng ngại vật dựng lên cản trở bước đưởng th́ sinh viên sẽ vấp ngă. Rồi th́: hoặc đứng lại một chỗ, không đi tới được nữa, hoặc bước qua con đường Bàn Môn Tả Đạo rất dễ dàng. Nhiều gương đáng tiếc đă xảy ra rồi.

         Lấy việc trước mắt mà nói: Một ṭa lâu đài làm bằng bê tông cốt sắt th́ chịu đựng nổi những trận băo bùng, c̣n những nhà tre vách lá chắc chắn là phải sụp đổ tan tành.

         Có thể nói ṭa lâu đài bằng bê tông cốt sắt tượng trưng những đức tánh cao thượng của con người, c̣n những nhà tre vách lá là tâm địa của con người thường.

         Những trận dông tố là những dục vọng sôi nổi trong ḷng con người. Phải sợ những trận băo ḷng. Chúng c̣n ghê gớm và dữ tợn hơn cả muôn cả triệu lần những trận cuồng phong ngoài đời, bởi v́ hiệu quả của chúng c̣n kéo dài tới nhiều kiếp sau nữa chớ không phải chỉ nội trong kiếp nầy mà thôi.

         Nguồn cội của chúng là những sự ham muốn không được toại. Mà sự ham muốn vốn do cái Vía cấu kết với cái Trí sinh ra.

         V́ thế những sự sa ngă từ xưa đến nay vốn do cái Vía và cái Trí không được tinh khiết, chưa thanh lọc được những tư tưởng và những ư muốn thấp hèn ô trược.

         Thấu rơ những lẽ nầy, cho nên các vị Đạo Sư đều dạy sinh viên phải tự chủ, phải khắc kỷ, phải chế ngự ba thể: Thân, Vía, Trí.

         Phải bắt buộc chúng tuân theo mạng lịnh của con người, sai khiến và hướng dẫn chúng vào con đường sáng suốt, chân chánh, thánh thiện.

         Làm chủ được ba thể, tức là san bằng phân nửa những sự khó khăn sẽ gặp trên đường Đạo.

        Tới đây chắc chắn quí bạn đă thấy Đức Tánh cần thiết là dường nào cho sự thành công trên đường đời cũng như trong đường Đạo, tức là Sự Tiến-Hóa Thật Sự của Con Người.

         Tôi không phủ nhận sự mở mang Trí-Tuệ, tôi biết điều nầy cũng cần thiết, nó cũng có sự hữu ích riêng của nó. Nhưng muốn thành một người hoàn toàn th́ Tài và Đức phải đi đôi với nhau. Nếu có Tài mà không có Đức th́ không khác nào đứng trên mé vực sâu, hố thẳm. Không đề pḥng th́ sẽ té xuống đó không biết giờ phút nào.

         Quí bạn hăy xem xét lại cuộc đời rồi suy nghĩ cho sâu xa đặng coi những điều nói ra trên đây có đúng với sự thật không.

        Nên Ôn Cố Tri Tân.

 

BỐN CON ĐƯỜNG DỰ BỊ

 

         Kinh sách Đông Phương nói rằng: Có bốn con đường dự bị dắt con người vào hàng đệ tử nhập môn.

1-  Con đường thứ nhất: là việc lân la hay là giao thiệp với những người đă được Điểm-Đạo, nhất là Đệ-tử Chơn-Sư. Lẽ tự nhiên nhờ sự giải thích những đức tánh cần thiết cho kẻ chí-nguyện mà người học Đạo nếu cố gắng trau giồi tâm tánh và noi gương của người đệ tử th́ kiếp nầy hay kiếp sau sẽ được Chơn-Sư thâu nhận.

2-  Con đường thứ nh́: Là đọc những quyển sách nói về con đường Đạo. Dầu ở Tây Phương hay ở Đông Phương, nhất là ở Trung Hoa, Ấn Độ, đều có những sách nói bóng dáng về Quần-Tiên-Hội và cách những vị mộ đạo đi t́m Chơn-Sư. Chúng ta từng đọc những tiểu thuyết Tàu như Tây-Du, Phong Thần, Phong Kiếm Xuân-Thu, Đông Du Bát Tiên . . . , chúng ta rất thích những phép tắc cao cường của Đức Phật, của Thái Thượng Lăo Quân, Nguyên Thỉ Thiên Tôn, Thông Thiên Giáo Chủ, Hải Triều, Nam Cực, Tôn Tẩn, hầu hết các độc giả đều muốn có quyền năng như thế, nhưng quên rằng: phải dứt ḷng trần tục, ra công tu tâm dưỡng tánh từ kiếp nầy qua kiếp kia.

         Hiện nay chỉ có những sách Thông-Thiên-Học mới giải thích rành rẽ bốn bậc được Điểm-Đạo gọi là Tứ Thánh và con đường dắt đến cơi Trường Sanh Bất Tử, như những quyển: “Dưới Chơn Thầy, Tiếng Nói Vô Thinh, Anh Sáng Trên Đường Đạo, Trước thềm Thánh Điện, Con đường của người Đệ Tử, Chơn-Sư và Đường Đạo . . .” 

        3- Con đường thứ ba: Là mở Trí. Người trí độ thông minh th́ tin rằng phải có những bực tiến hóa cao nên mới xây dựng được những nền tảng văn minh tốt đẹp của Cổ Ai-Cập, Cổ Ấn-Độ, Cổ Trung-Hoa, Cổ Hi-Lạp, Cổ Ba-Tư và nhất là Đại Kim Tự Tháp. Như vậy mới ra công t́m kiếm v́ lư do nào mà sự văn-minh đó lại hiện đến, rồi v́ duyên cớ nào mà nó lại bị sụp đổ tan tành. Nhờ sự t́m kiếm nầy mà con người sẽ gặp những kinh sách nói về cách tu luyện bản thân để trở nên sáng suốt và học được chân truyền.

         Tuy nhiên con đường nầy rất nguy hiểm, v́ càng mở trí mà không biết kềm chế nó th́ nó giục con người trở nên kiêu căng tự phụ, gây ra nhiều tội lỗi hơn là việc tu hành. Từ xưa đến nay ít ai dùng phương pháp nầy. 

4- Con đường thứ tư: Là ăn ở nhân từ đức hạnh trong nhiều kiếp. Tâm trí càng ngày càng trở nên sáng suốt, th́ sẽ có người tới chỉ dẫn cách t́m cửa Đạo. Người có Đức hạnh đáng quí trọng, song chỉ có bao nhiêu đó th́ chưa đủ, v́ phải lo tiến-hóa luyện tập trí óc để trở nên một dụng cụ tốt lành trong tay của những Đấng Cứu Thế hầu phụng sự nhơn loại và Thiên-Cơ một cách đắc lực.

 

SỰ ÍCH LỢI KHI Ở GẦN VỊ ĐẠO SƯ

 

         Ở Ấn-Độ có nhiều vị Đạo Sư gọi là Gu-Ru (Gourou). Có vị ở một chỗ trong rừng núi, các vị đệ tử cất lều ở chung quanh đó. Có vị thường đi ta bà, đi tới đâu th́ học tṛ theo tới đó.

         Học tṛ được ở gần Thầy th́ mau phát-triển về đường Tinh Thần v́ lư do sau đây:

         Ta ở một ḿnh th́ phải ra sức luyện tập để mở mang vài tánh tốt và diệt trừ vài tánh xấu. Công việc nầy rất khó khăn và cực nhọc. Phải bền chí và cố gắng ngày nầy qua ngày kia, tuy nhiên chưa ắt cái hiệu quả được như ư muốn. Nhưng khi được ở gần Đạo Sư đă rửa sạch phàm tâm th́ trong lúc ngủ cũng như trong lúc thức, các vị đệ tử ở trong ṿng hào quang của Ngài. Những sự rung động cao siêu của hào quang bắt buộc mấy thể của đệ tử lần lần rung động đồng nhịp với chúng nó. Nhờ vậy các đệ tử trừ được các tật xấu và mở mang những tánh tốt một cách dễ dàng, mau lẹ. Trong vật lư học ta thấy rơ hiện tượng nầy: khi hai cái đồng hồ treo gần nhau mà sự chuyển động của hai quả lắc không đồng đều với nhau th́ quả lắc nào mạnh bắt buộc quả lắc yếu hơn phải lần lần ḥa nhịp với nó, bằng không th́ phải đứng lại.

         Hiểu mấy lẽ trên đây rồi th́ thấy một khi ta được Chơn-Sư thâu nhận làm đệ tử chánh thức th́ hào quang của Ngài bao bọc ta ngày đêm không ngớt. Ta sẽ thay đổi về tâm tánh và mở mang trí hóa một cách nhanh chóng, bất ngờ. Tục gọi rằng “nhờ Đức của Thầy ḿnh”.

x       x

x

THIÊN THỨ NHẤT

-----------

PHÂN BIỆN ( Le discernement )

 

Tánh PHÂN BIỆN chia ra làm 5 khoản như sau đây: 

Một là: NHỮNG MỤC ĐÍCH THẬT (Les buts véritables).

Hai là: CÁCH SINH HOẠT CỦA BA THỂ : XÁC, VÍA, TRÍ (La vie des corps).

Ba  là: ĐIỀU LÀNH VÀ ĐIỀU DỮ (Le bien et le mal).

Bốn là : PHẢI HẾT SỨC NGAY THẬT (Sois absolument vrai).

Năm là: T̀NH BÁC ÁI VÀ SỰ SỐNG THIÊNG LIÊNG

( L’altruisme et la vie divine )

 

1-  NHỮNG MỤC ĐÍCH THẬT ( Les buts véritables )

 

         Đứng đầu trong bốn đức tánh là tánh PHÂN BIỆN. Thường thường người ta hiểu nghĩa phân biện đây là phân biện sự chân và sự giả, nó dắt con người vào đường Đạo. Hiểu như thế thật trúng vậy, nhưng mà c̣n nhiều hơn nữa và phải phân biện không những khi mới vào đường Đạo mà phải phân biện trong mỗi bước, mỗi ngày, cho tới khi đi mút đường Đạo.

         Đức Phật để Chánh-Kiến đứng đầu Bát-Chánh-Đạo. Chánh kiến đây tức là Tánh Phân Biện lẽ tà chánh. 

         Nhưng không phải dễ mà phân biện đâu. Phải mở trí khôn, phải nhiều kinh nghiệm mới có thể nói rằng biết phân biện được. Tuy vậy có nhiều điều xảy đến mà ta phân vân, cũng như đứng trước ngă ba đường cái, không biết phải theo lối nào cho đúng, bởi v́ ta chưa thông thạo về những điều đó.

         Duy có một điều không thể sai lầm được là khi đă mở Trực Giác.

Nói cho đúng Trực Giác vốn thuộc về Kim-Thân hay là Thể Bồ-Đề, nhưng Trực-Giác cũng có thể từ Thượng-Trí hiện xuống vậy, nếu ta sống một đời trong sạch và chân thật.

         Ở đây, Chơn Sư dạy Alcyone phải phân biện cái nào là chân và cái nào là giả. Biết được rồi mới theo cái chân để bước vào cửa Đạo. Mà vào đường Đạo rồi cũng phải phân biện mỗi ngày, mỗi bước cho tới khi đi mút đường Đạo, tức là Đắc Đạo thành Chánh Quả làm một vị Siêu Phàm.

         Tại sao phải luôn luôn giữ ḿnh và đề pḥng? Ấy tại kẻ nghịch là mấy anh trong bóng tối gọi là Bàn Môn Tả Đạo chực hờ để xô ngă chúng ta. Họ dựng lên nhiều cạm bẫy, nếu ơ hờ sẽ mắc vào đó rồi phải đau khổ suốt đời. Họ rất khôn quỉ, họ thấy ta, biết ta mà ta không thấy họ, không biết họ. Cái nguy cơ ở nơi đó. Những sự cám dỗ, những sự quyến rủ thật là tế nhị. Ta thấy được hưởng hoàn toàn hạnh phúc. Nhưng than ôi ! Chúng nó là những cục than đỏ, nắm tới th́ cháy tay buông ra không kịp. Những sự thử thách không phải chỉ có một loại hay là một thứ đâu. Chúng nó có muôn mặt khác nhau, chúng hiện đến bất ngờ; nhưng mà cái nào tới cho ta mà ta biết đó là sự thử thách th́ không c̣n là sự thử thách đối với ta nữa.

         Nhưng, ta phải coi những sự thử thách là những điều cần thiết rất hữu ích, v́ nhờ chúng nó mà ta biết được những nhược điểm của ta ở chỗ nào để bồi bổ. Không vậy, không biết tới chừng nào ta mới trở nên khôn ngoan, sáng suốt. Có lửa đỏ mới biết tuổi vàng.

         Vậy chớ nên cười những người vấp té, hăy thương họ. Hăy nhớ rằng: Cười người tháng trước, tháng sau người cười. Chạy đi đâu cho khỏi Luật Nhân-Quả báo ứng.

         Những người ngày nay vững bước là nhờ  trước kia, không biết bao nhiêu kiếp rồi, đă có nhiều kinh nghiệm đau khổ, cho nên học được những bài học hay, thấy lửa th́ tránh xa, không như anh Tất Đạt trong quyển “Câu chuyện của ḍng sông” biết lửa đốt cháy mà thử lửa coi nó có thật nóng hay không? [[7]]

         Người hành Đạo không dám chê bai ai cả, v́ cái quá khứ của ḿnh không tốt đẹp hơn ai.

         Điều hay hơn hết là lo nâng đỡ, khuyến khích, d́u dắt mà thôi.

         Phải hiểu rằng: Dầu tới bực La-Hán cũng c̣n phải sợ bị lầm lạc, nói chi chúng ta đây là những kẻ chưa được sáng mắt, làm sao tránh khỏi việc té lên, té xuống cả trăm bận. Nhưng mà đừng ngă ḷng, cứ đi tới, ta sẽ thành công.

         Trong quyển “Dưới Chơn Thầy” câu “. . . mới bước vào đường Đạo” là mới vào hàng Tu-Đà-Huờn, mới được Điểm Đạo lần thứ nhất. Vị Tu-Đà-Huờn phải phân biện mỗi việc từng li, từng tí, phải suy nghĩ chín chắn, phải cẩn thận, kỹ lưỡng từ chút; bởi v́ trước khi làm một vị Siêu Phàm được 5 lần Điểm Đạo th́ sự vấp ngă có thể xảy ra bất cứ lúc nào mà đáng sợ nhất là sau hai lần Điểm Đạo, phép tắc cao cường.

         Con bước vào đường Đạo bởi v́ con biết rằng duy trong đó mới t́m được những việc đáng thâu lănh mà thôi.

         Những người chưa hiểu biết làm lụng để trở nên giàu sang và có quyền thế nhưng hai cái tước lộc nầy dùng được lâu lắm bất quá là một đời mà thôi, bởi thế chúng nó là mộng ảo. Có nhiều việc lớn lao đáng t́m lấy hơn là sự giàu sang và quyền thế. Mấy việc ấy chơn thật và trường cửu. Một khi người ta thấy chúng nó rồi th́ không c̣n ham muốn điều ǵ khác nữa.

         Tại sao chỉ trong Đường Đạo mới t́m được những điều đáng thâu lănh mà thôi?

         Bởi v́ trong Đường Đạo mới dạy đúng sự thật cách sinh hóa Thái Dương Hệ nầy và lư do sinh sản các loài vật và con người.

         Có học Đạo con người mới biết được bản tánh thiêng-liêng của ḿnh, những Luật Luân-Hồi, Nhân-Quả và phương pháp luyện tập để trở nên hoàn toàn sáng suốt trong một thời gian ngắn ngủi, thay v́ phải trải qua mấy muôn kiếp luân hồi mà chưa ắt thoát khỏi ṿng sanh tử dưới Phàm gian.

         Có bạn sẽ hỏi: Làm sao con người biết được sự sinh hóa một Thái Dương Hệ? Giải ra th́ nhiều lắm, tôi xin tóm tắt lại vài đoạn thôi. Tôi xin nói rằng đây là tôi tŕnh bày theo Huyền-Bí-Học, khác hẳn khoa Thiên-Văn-Học hiện đại xin quí bạn miễn nghị.

 

NHỮNG THÁI DƯƠNG HỆ TRÊN KHÔNG GIAN

 

         Thái Dương Hệ gồm một ngôi Mặt Trời ở chính giữa và những hành tinh xây chung quanh.

         Mỗi Thái Dương Hệ đều do một Đấng Chí Tôn sinh ra xin gọi là Đức Thái Dương Thượng Đế (Logos d’un système solaire).

         Không biết có bao nhiêu Thái Dương Hệ trên không gian, tuy nhiên người học Đạo nên biết rằng: tất cả những Thái Dương Hệ đều sắp theo hệ thống Cung và Chi. Có 7 Cung. Mỗi Cung chia ra 7 Chi. V́ vậy có thể nói rằng sự tiến hóa của các Thái Dương Hệ đều không giống nhau.

         Mỗi Cung và mỗi Chi gồm không biết bao nhiêu Thái Dương Hệ, lớn có, nhỏ có.

         Những Thái Dương Hệ lớn lại điều khiển những Thái Dương Hệ nhỏ đồng chung một Cung, một Chi.

 

NHỮNG THÁI DƯƠNG HỆ LỚN HƠN THÁI DƯƠNG HỆ CỦA CHÚNG TA

 

         Ngày nay, người ta biết rằng: có những ngôi mặt trời lớn hơn ngôi mặt trời của chúng ta từ 400 – 500 lần cho tới cả triệu lần, như Canopus chẳng hạn.

 

ĐỨC THÁI DƯƠNG THƯỢNG ĐẾ CỦA CHÚNG TA.

 

         Ngài vốn ở một Thái Dương Hệ khác đến. Thái Dương Hệ đó ra sao? Chúng ta không biết. Nhưng có một điều chắc chắn là nó lớn hơn và sanh trước Thái Dương Hệ của chúng ta không chừng 50, 60 tỷ năm.

         Trước khi sanh hóa, Đức Thái Dương Thượng Đế của chúng ta chọn một chỗ trên không gian làm vị-trí Tiểu Vũ Trụ của Ngài. Hào quang của Ngài chiếu tới đâu dứt th́ chỗ đó là giới hạn giang sơn của Ngài.

         Ngài có nhiều vị phụ tá, như các vị Hành Tinh Thượng Đế (Logos planétaire), các vị Bàn Cổ Mầm Giống (Manou semence), các vị Bàn Cổ Cội Rễ (Manou Racine), những vị Ngọc Đế, những vị Phật, những vị Đại Thánh, những vị Đế Quân, những Tiên Thánh, những Đại Thiên Thần, những Thiên Thần vân vân . . .

         Các Đấng Cao cả nầy lập Thiên Đ́nh hay là Quần Tiên Hội trên mỗi bầu Hành Tinh để coi sóc sự sanh hóa và sự tiến hóa của các loài vật tại đây.

         Các Ngài đào tạo những Đệ tử sau đắc Đạo thành Tiên, thành Phật, mỗi vị lănh một nhiệm vụ trên Thiên Đ́nh. Mối Đạo cứ tiếp tục truyền bá như thế từ thế kỷ nầy qua thế kỷ kia, cho tới ngày nay và mai sau nữa, không bao giờ dứt.

         Hiện nay, tại quả Địa Cầu chúng ta, Cung thứ nh́ là Cung Đạo Đức và Giáo Dục do một Đấng Chí Tôn gọi là Đức Bồ Tát (Bodhisatva) đại diện cho Đức Phật chưởng quản.

         Thuở xưa, Ấn Giáo, Ai Cập Giáo, Ba Tư Giáo (hay Hỏa Bái Giáo), Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, Lăo Giáo, vân vân . . . đều có hai khoa giáo dục: một khoa gọi là Công Truyền hay là Hiển và một khoa gọi là Bí-Truyền hay là Mật để đào tạo các tín đồ.

 

KHOA CÔNG TRUYỀN HAY LÀ HIỂN

(Enseignement exotérique ou Exotérisme)

 

         Khoa Công truyền để dạy quần chúng cho biết bổn phận làm người. Nó nhấn mạnh về khoa Luân Lư, tức là cách xử thế; nó chỉ bảo sự  thờ phụng và cúng tế  Thần Linh, cách cầu nguyện, dâng hương, tụng kinh, đọc kệ, niệm Phật, lần chuỗi, nhưng phải thật hiểu cho đúng ư nghĩa của những việc làm nầy mới khỏi mắc cái họa mê tín và tin dị đoan.

         Quả thật mỗi việc trên đây đều có sự hữu ích riêng của nó, nhưng đừng quá chú trọng về những phụ thuộc là h́nh thức bên ngoài mà bỏ cái chánh cực kỳ quan trọng ở bên trong là phần Hồn, phần Tinh Thần. V́ vậy Chơn Sư mới bảo: “Chúng nó giống như những hàng đôi giúp con hồi c̣n nhỏ để viết cho đều đặn và ngay thẳng cho tới chừng nào con viết tốt và đều đặn rồi th́ con không c̣n nhờ cậy chúng nó nữa.”

         Khoa Công Truyền giải một cách sơ lược sự hành động của Luật Luân Hồi, Nhân Quả, tức là có ư dạy con người phải tu đức trau ḿnh. Tất cả những kinh sách của tín đồ các Tôn giáo đang dùng bây giờ đều thuộc về khoa Công Truyền.

         Những sự bí mật của Tạo Công đều nói một cách bóng dáng hay tượng trưng, không có bí quyết hay không có người chỉ bảo th́ không bao giờ hiểu nổi.

 

KHOA BÍ TRUYỀN HAY LÀ MẬT [[8]]

( Enseignement ésotérique ou ésotérisme )

 

         Khoa Bí Truyền cũng gọi là Mật dạy sự sanh hóa một Thái Dương Hệ. Nó để đào tạo những vị Tiên, Thánh. Nó biến đổi con người thành một vị Siêu Phàm. Phương pháp của các Đấng Cao Cả dùng không hề tiết lộ ra.

         Người ta chỉ biết khoa Mật vốn khẩu khẩu tương truyền và không bao giờ viết ra thành sách.

         Muốn học được khoa nầy, kẻ chí nguyện phải quyết tâm và bền chí, chịu muôn vàn khổ hạnh và thử thách, tŕ trai, giữ giới, tự tĩnh, khắc kỷ, tức là lo Lập Hạnh. Ngày nào anh hội đủ những điều kiện do Luật Trời qui định th́ anh được phép bước vào cửa Đạo, v́ anh rất xứng đáng thọ lănh Chân Truyền.

         Thiết tưởng cũng nên biết tại sao Tiên, Thánh rất nghiêm khắc trong việc chọn lựa và thâu nhận đệ tử. Ấy bởi các Ngài biết rằng: nếu kẻ chí nguyện chưa rửa sạch  phàm tâm th́ thế nào cũng dùng những phép thần thông để thỏa thích những sự ham muốn nhỏ nhen, đê tiện của y. Y sẽ hại đời rất nhiều mà y cũng tự hại y nữa, v́ Luật Báo Ứng Tuần Hoàn sẽ trả lại cho y những ǵ mà y đă làm cho kẻ khác.

         Tiên Thánh là những vị Phụ Tá Thiên Cơ, cho nên biết hết những việc quá khứ, vị lai và trường sanh bất tử.

         Những điều các Ngài chỉ dạy vẫn không bao giờ sai. Chúng ta c̣n mắc trong ṿng luân hồi, nghiệp chướng, cứ đầu thai đi, đầu thai lại để học cho thật kỹ những bài mà chúng ta chưa thuộc làu, hoặc v́ bê trễ, hoặc v́ tối dạ nên không hiểu.

         Hơn nữa, con người chưa mở trọn vẹn Hạ Trí, cho nên từ thế hệ nầy qua thế hệ kia cứ đưa ra những giả thuyết mới thay thế những giả thuyết cũ. Như vậy, không biết tới mấy muôn hay mấy triệu năm nữa ta mới nghe được Tiếng Chót của khoa học.[[9]]

         Hiểu được sự thật rồi, ta mới thấy lời của Chơn Sư nói: “Duy trong cửa Đạo mới có những điều đáng nhận lănh mà thôi” thật là hết sức đúng.

 

VỀ SỰ GIÀU SANG VÀ DANH VỌNG

 

         Về phương diện giàu sang và danh vọng: không phải cái đó là quấy. Chơn Sư đă nói: “Chúng nó dùng được lâu lắm là có một đời mà thôi”. Thật vậy, có khi Con Người chưa từ trần th́ gia tài, sản nghiệp, chức tước, quyền thế đă về tay người khác v́ Luật Nhân Quả. Trong Đạo Đức gọi chúng nó là mộng ảo. Chúng có thật, song không được vĩnh viễn trường tồn.

         Một lẽ khác nữa: Uy quyền, thế lực, giàu sang là những quyền năng rộng lớn  và mạnh mẽ. Nắm chúng trong tay th́ có thể làm mưa làm gió giờ nào cũng được. Làm lợi rất dễ dàng, mà làm hại cũng không khó.

         Vậy th́ hăy dùng uy-quyền để làm những việc ích nước, lợi dân, tạo hạnh phúc cho quần chúng. Luôn luôn phải nhớ rằng: Luật Nhân Quả không dung tha những ai làm nghịch với Thiên Ư. Hễ gieo Nhân th́ gặt Quả. V́ vậy, giúp đỡ người, cứu độ người, tức là tự ḿnh giúp đỡ ḿnh, tự ḿnh cứu độ ḿnh. Trái lại, hăm hại người, hà hiếp người, tức là tự ḿnh hăm hại ḿnh, tự ḿnh hà hiếp ḿnh.

         V́ vậy, lời xưa đă dạy:

Hữu thế bất khả ỷ tận.

Hữu phước bất khả hưởng tận.

         Ỷ tận và hưỡng tận th́ tai họa sẽ đến cho ḿnh chẳng sai. Ta đă thấy nhiều gương trước mắt rồi.

         Đừng quên rằng: lạm dụng uy quyền và sự giàu sang mà làm những chuyện bất nhân, thất đức, tạo ra những sự khổ năo cho đời th́ sẽ sanh ra những sự xáo trộn, những sự hỗn loạn chẳng nhỏ, e cho phải mất mấy chục năm sửa đổi mới mong lập lại được sự quân b́nh. Cũng nên hiểu nghĩa câu: Làm việc để trở nên giàu sang và có quyền thế.

         Ở thế gian cái nghèo là một tai hại lớn lao. Nếu chúng ta không làm lụng để có tiền của để nuôi ḿnh và gia quyến cùng là gây dựng tương lai cho con cái th́ sẽ bị đói khó, không khác nào hai tay ta bị trói buộc không làm ǵ được cả.

         Nhưng mà thường thường v́ người ta thấy giàu sang và quyền thế đem lại nhiều sự lợi ích, cho nên con người đi quá mức trung b́nh v́ ḷng tham vọng. Chỉ t́m đủ cách làm ra cho nhiều tiền đặng tiêu pha và sung sướng tấm thân, chớ không c̣n biết nhân nghĩa, bà con, họ hàng, bất chấp luân lư, cang thường; chỉ biết có ḿnh mà không biết có người, ai chết, ai đói, ai rách, ai khổ mặc ai; quên rằng tới một ngày kia, ai ai cũng phải nắm hai tay trắng mà xuống mồ.

         Các vị Thánh Nhân, Hiền Triết đă có nhiều kinh nghiệm mới khuyên chúng ta giữ mực trung b́nh và t́m cái chi được vĩnh viễn chẳng bị thời gian tàn phá. Cái đó là Bản Tánh Thiêng Liêng của Con Người. Sự hiểu biết Luật Luân Hồi, Nhân Quả, Luật Hy Sinh, Luật Tiến Hóa và phương pháp phát triển Tâm Thức để làm một vị Siêu Phàm.

         Thật vậy, khi người ta biết được sự mầu nhiệm của Đạo rồi th́ không c̣n muốn cái chi khác nữa.

         Trên thế gian nầy chỉ có hai hạng người: những người hiểu biết và những người chưa hiểu biết. Mà chỉ có sự hiểu biết mới là trọng hệ.

         Chơn Sư phân biệt rơ rệt hai hạng người: những người hiểu biết và những người chưa hiểu biết.

         Hiểu biết đây là hiểu biết Luật Trời.

         C̣n giỏi về các khoa, các môn, tức là rành nghề, là sự thông minh của cái Trí, khác với sự hiểu biết Chân Lư, sự hiểu biết của Tâm Hồn.

         Sự hiểu biết của thế tục là sự hiểu biết của trí óc, nó rất hũu ích. Ngày nay nhờ trí hóa mở mang, con người mới sáng chế ra những phương thuốc hay chữa lành nhiều chứng bệnh mà xưa kia gọi là nan y; phát minh được nhiều máy móc tân kỳ, làm việc mau lẹ gấp trăm, ngàn nhân công, đỡ bớt sự nhọc mệt của thể xác và sản xuất những ǵ cần thiết cho đời sống hằng ngày. Những phi thuyền tung mây, lướt gió, liên lạc năm châu, bốn bể trong ṿng một vài ngày, những tin tức loan đi trong một giờ khắp hoàn cầu đều nhận được, vân vân. . . Hay biết bao! lạ biết bao! Thật là khác hơn thuở xưa một Trời, một Vực.

         Nhưng mà nếu cái tiện lợi rất nhiều th́ cái nguy hại cũng chẳng ít. Những khí giới tối tân, những bom nguyên tử, khinh khí, tia sáng tử thần có thể sát hại muôn vàn sanh linh trong nháy mắt.

         Đó là tánh ích kỷ đáng sợ của Hạ Trí xúi biểu con người làm nhiều tội ác ghê gớm, nếu không có Tâm Từ Thiện kềm chế nó, điều khiển nó.   

Trái lại, sự hiểu biết Chân Lư tức là sự hiểu biết Cơ Tiến Hóa, sự hiểu biết Tinh Thần chẳng những đem t́nh thương, hạnh phúc và sự ḥa b́nh cho nhân loại mà c̣n dắt con người mau đến mức độ Siêu Phàm.

         V́ vậy Chơn Sư bảo sự hiểu biết là quan trọng.

         Đạo của con người giữ hay ḍng giống của con người là những việc không trọng hệ.

 

VỀ SẮC DA VÀ TÍN NGƯỠNG

 

Tại quả Địa Cầu phải có 7 giống dân chánh ( Race-mère ).

Mỗi giống dân chánh chia ra 7 giống dân phụ ( Sous-race ).

Mỗi giống dân phụ lại gồm 7 nhánh nữa (Branche de Sous-race).

         Mỗi giống dân đều có những bài học riêng biệt cho Linh Hồn. Mỗi Linh Hồn phải đầu thai từ hai lần cho tới 3, 4 lần vào mỗi giống dân để học hỏi, kinh nghiệm. Hết ở giống dân thứ nhất th́ qua giống dân thứ nh́, thứ ba, thứ tư rồi tiếp tục cho tới giống dân thứ bảy.

         Hiện giờ giống dân da đen là cháu chắt của giống dân thứ ba là giống Lemurien. Giống da vàng, da đỏ là cháu chắt của giống dân thứ tư là giống At-Lăn (Atlantes). Giống da trắng bây giờ là con cháu cũa giống dân phụ thứ tư và giống dân phụ thứ năm của giống dân thứ năm là giống Aryen.

         C̣n giống dân thứ sáu và giống dân thứ bảy chưa sanh ra. Nói cho đúng, các Linh Hồn đều là con của Đức Thượng Đế, vốn là anh em với nhau và không có giống đực hay giống cái. Xuống cơi Trần mới có xác thân nam hay nữ đặng sanh hóa mà thôi, nhưng người ta thường kiêu hănh về sắc da của ḿnh và ṇi giống của ḿnh.

         Bốn chục năm trước người da trắng miệt thị người da vàng và người da đen, v́ họ coi hai giống dân nầy kém văn minh hơn họ. Trận đại thế chiến thứ hai đă dạy cho họ một bài học chua cay. Ngày nay họ mới bỏ thói kỳ thị chủng tộc, họ bắt tay người da đen và ngồi chung một bàn hội nghị.

         Biết rơ Luật Trời, cho nên trong Đạo Đức không cho sắc da, ṇi giống là việc quan trọng.

         Trong bức thư của Đức Văn Minh Đại Đế năm 1881 trang 4 có câu nầy: “NGƯỜI DA TRẮNG PHẢI KHỞI SỰ TRƯỚC, ĐƯA BÀN TAY THÂN MẬT CHO NHỮNG DÂN TỘC HẮC CHỦNG VÀ GỌI NGƯỜI “DA ĐEN” TỘI NGHIỆP BỊ KHINH MIỆT LÀ “ANH EM”. VIỄN CẢNH NẦY SẼ CÓ THỂ KHÔNG LÀM CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI VUI L̉NG MĨM CƯỜI, NHƯNG KHÔNG THỂ NÀO TỰ XƯNG LÀ NHÀ THÔNG-THIÊN-HỌC MÀ KHÔNG NH̀N NHẬN NGUYÊN TẮC NẦY”

         Chín mươi ba năm sau, năm 1974, lời nói nầy đă thành sự thật. Đây là Cơ Tiến Hóa đă thúc đẩy con người, không ai cưỡng lại được.

 

VỀ NHỮNG TÔN GIÁO

 

         C̣n về những Tôn-Giáo, các nhà Đạo Học uyên thâm đều biết: Các Tôn Giáo vốn ở một gốc mà ra, gốc đó là Thiên-Đ́nh hay là Quần Tiên Hội.

         Khi một giống dân mới được sanh ra th́ một Đức Bồ-Tát là Đức Chưởng Giáo, chủ tể các Thần Tiên, lâm phàm và lập một Tôn Giáo hạp với tánh t́nh, phong tục, tập quán và tŕnh độ tiến hóa của giống dân đó về phương diện tinh thần cũng như về phương diện trí thức.

         Khi phong hóa suy đồi, cang thường đảo ngược th́ Ngài sai một vị Chơn Sư hay một vị La Hán ra đời sửa sang giềng mối lại hay là lập một Tôn Giáo mới, nếu việc đó là cần thiết. Có khi Ngài cũng giáng trần vậy.

         Lấy bề ngoài mà xét đoán th́ quả thật Đạo nầy khác hơn Đạo kia, v́ những sự thờ phượng, lễ bái, những tín ngưỡng bất đồng. Nhưng so sánh những giới cấm, những qui luật th́ thấy cả thảy đều giống in nhau. Các Tôn Giáo đều dạy tín đồ phải tŕ trai giữ giới, lánh dữ, làm lành.

         Xưa nay Chân Lư vẫn một.

         Tôi xin đưa ra một thí dụ như sau đây: Một cái lồng đèn có bốn mặt kiếng xanh, đỏ, tím, vàng. Những người thấy tấm kiếng xanh th́ cho ngọn đèn là xanh; những người thấy tấm kiếng vàng th́ cho ngọn đèn là vàng; những người thấy tấm kiếng đỏ, những người thấy tấm kiếng tím th́ cho ngọn đèn là đỏ, là tím. Nếu những người nầy gặp nhau, hỏi ư kiến nhau về ngọn đèn th́ cả thảy đều nói khác nhau và cho rằng: chỗ thấy của ḿnh không lầm. Thật vậy, mấy người ấy nói rất đúng v́ chỉ thấy bên ngoài. Chừng mở cửa lồng đèn th́ chỉ thấy một ngọn đèn màu trắng mà thôi. Ánh sáng trắng dọi qua tấm kiếng màu xanh thành màu xanh, dọi qua tấm kiếng màu đỏ thành màu đỏ, dọi qua tấm kiếng màu vàng thành màu vàng, dọi qua tấm kiếng màu tím thành màu tím.

         Chân Lư là ngọn đèn, c̣n những tấm kiếng màu là cái Tôi của con người.

         Tất cả những Tôn Giáo đều là những con đường dắt đến Đức Thượng Đế. Ai đi theo con đường nào ḿnh thích cũng tới mục đích, chỉ có khác một điều là mau hay chậm, tùy theo khả năng của ḿnh. Thế nên Đạo của con người giữ không có chi là quan hệ. Không có Đạo nào cao hay Đạo nào thấp, mà chỉ có tŕnh độ hiểu biết hay không hiểu biết, thành tâm hay không thành tâm, khoan dung hay không khoan dung, điều nầy mới thật là đáng kể mà thôi.

         Điều thật trọng hệ là sự hiểu biết nầy, sự hiểu biết Cơ Trời đối với con người. Bởi v́ Trời có một Cơ mà Cơ đó là sự Tiến Hóa. Ngay khi con người hiểu được Thiên Cơ và quả thật biết rồi, th́ con người chỉ lo hợp tác với Thiên Cơ, đồng hóa với Thiên Cơ và giúp cho Thiên Cơ được thực hiện mà thôi. Đó là sự vinh diệu và sự tốt đẹp của con người.

         Câu: Trời có một cái Cơ. Cơ đó là sự Tiến Hóa. Xin nhắc lại rằng: Tại dăy Địa Cầu chúng ta Linh Hồn phải đầu thai:

a)- Trước nhất vào ba loại Tinh Chất (Essence élémentale).

b)- Kế đó là: qua loại Kim Thạch, Thảo Mộc, Thú Vật.

c)- Rồi mới tới Con Người.

d)- Con Người sẽ vào hàng Tiên Thánh.

         Đó là Cơ Tiến Hóa. Mục đích đă định sẵn cho Nhân Loại trong Thái Dương Hệ nầy là Con Người sẽ thành những vị Siêu Phàm khi thời giờ đă điểm.

 

SỰ TIẾN HÓA Ở TRƯỚC MẶT TA

 

         Có bạn sẽ hỏi: Làm sao chứng minh sự tiến hóa cho người ta biết?

         Thật sự, sự tiến hóa ở trước mặt ta, ta thấy nó mỗi ngày nhưng tại ta không để ư tới.

 

BA SỰ TIẾN HÓA

 

         Có ba sự tiến hóa:

1)- Tiến hóa về vật chất và h́nh dạng.

2)- Tiến hóa về trí thức.

3)- Tiến hóa về tinh thần hay là tâm thức.

1-  TIẾN HÓA VỀ VẬT CHẤT VÀ H̀NH DẠNG.

         Ta hăy xem một đứa trẻ, con hay cháu trong nhà từ 1 tới 21 tuổi.

         Trong thời gian nầy:

         Về phương diện h́nh hài: Đứa trẻ ban đầu nhỏ, sau lớn, tác càng ngày càng cao, da thịt biến đổi mỗi năm. Lúc trọng tuổi rồi th́ tóc bạc, da mồi.

         Đây là sự tiến hóa về vật chất.

2-TIẾN HÓA VỀ TRÍ THỨC.

         Đứa nhỏ cắp sách đến trường học, từ bực Sơ Đẳng đến Trung Đẳng tức là bực Tú Tài rồi tiến lên Cao Đẳng lấy cấp bằng Cử Nhân, Tiến Sĩ.

         Đây là sự tiến hóa về phương diện trí thức.

3)- SỰ TIẾN HÓA VỀ TINH THẦN HAY LÀ TÂM THỨC.

         Đứa trẻ trau giồi tánh nết ngay thẳng, hiền hậu, vui vẻ, ôn ḥa, nhân từ, sẵn sàng giúp đỡ, biết thương người nghèo khổ, cô thế, già cả, tật nguyền, kính Trời, thờ Phật, tŕ trai, giữ giới.

         Đây là sự tiến hóa về phương diện tinh thần.

         Xin nhớ rằng: Sự tiến hóa của một đứa trẻ là h́nh ảnh nhỏ bé của một giống dân. Cả hai đều theo một luật chung là Sự Thay H́nh Đổi Dạng và Sự Phát Triển Tâm Thức càng ngày càng gia tăng.

         Nếu cứ theo thiên nhiên th́ sự tiến hóa rất chậm, phải vài trăm triệu năm mới đi tới mục đích đă định sẵn.

         Có một phương pháp thúc giục sự tiến hóa nầy là làm cho sự phát triển tâm thức mau lẹ trong một thời gian ngắn, phương pháp đó gọi là Yoga.

         Nhưng tôi xin nhắc lại một lần nữa là: Coi theo sách hay là học với ông thầy phàm th́ rất nguy hiểm. Làm sái cách th́ điên khùng hoặc bỏ mạng. Tôi đă biết nhiều trường hợp rồi.

 

CÁC TÔN GIÁO ĐỀU CÓ DẠY CƠ TIẾN HÓA

 

         Các Tôn Giáo lớn như Ấn Giáo, Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo đều có dạy về sự tiến hóa; nhưng một cách bóng dáng, tượng trưng, Tôi xin trích mấy đoạn đó cho quí bạn xem.

 

ẤN  GIÁO

 

         Theo kinh sách Ấn th́ Thượng Đế Vishnou có 9 hóa thân :

1-  Hóa thân thứ nhất là Con Cá.

2- Hóa thân thứ nh́ là Con Rùa.

3- Hoá thân thứ ba là con Heo Rừng.

4- Hóa thân thứ tư là Người Sư Tử.

5- Hóa thân thứ năm là Người Lùn.

6- Hóa thân thứ sáu là Người Khổng Lồ phá hoại.

7- Hóa thân thứ bảy là Rama.

8- Hóa thân thứ tám là Krishna.

9- Hóa thân thứ chín là Kalki

Đức Thượng Đế Vishnou đi đầu thai làm con cá ư?

         Không phải. Nên biết nhiệm vụ của ba Ngôi:

          Ngôi thứ nhất, Phạn Vương, Brahma biến đổi Hỗn Nguơn Nhất Khí (Mulaprakriti) ra những nguyên tử rồi phối hợp những nguyên tử nầy lại để lập 7 cơi Trời.

         Ngôi thứ Nh́, Vishnou, sanh ra các loài vật và cho chúng sự sống.

        Ngôi thứ Ba, Shiva, cho Chơn Thần nhập thế. Chơn Thần biến đổi Hồn thú ra Thượng Trí và sanh ra Chơn Nhơn.

         Trong bài nầy, Vishnou là sự sống hay là Chơn Thần, Đức Thượng Đế, trước th́ đầu thai làm các loài vật, sau mới lấy h́nh con người.

         Chín kiếp nầy chia ra làm 3 giai đoạn:

GIAI ĐOẠN THỨ NHẤT

         Làm thú ở dưới nước như cá.

         Kế đó làm thú có lưỡng tánh, ở dưới nước được, ở trên bờ được là con rùa.

         Cuối cùng làm thú ở trên bờ là heo rừng.

GIAI ĐOẠN THỨ NH̀

          Hết kiếp thú, đầu thai làm người.

Đầu tiên là người sư tử, tức là làm người nhưng c̣n giữ thú tánh rất hung hăng.

         Kế đó là người lùn, người lùn không phải là người có tác thấp, mà là người chưa đủ trí khôn, như đứa con nít.

         C̣n người khổng lồ là người dùng sức mạnh khuấy rối kẻ khác.

         Rama là người lư tưởng. Ấy là một vị vua Ấn Độ lập ra ḍng Nhật Hoàng (Dynastie solaire).

GIAI ĐOẠN THỨ BA

         Những vị Siêu Phàm

         Krishna là hóa thân của Thượng Đế Vishnou, Sư Phụ của Arjuna 5000 năm trước.

         Kalki [[10]] là Đấng Cứu Thế. Ngài sẽ cởi con ngựa trắng mà đến. Ngài đem hạnh phúc khi hết đời Mạt Kiếp.

 

ĐỜI MẠT KIẾP LÀ ĐỜi G̀?

 

         Theo lịch Ấn cũng gọi là Thời gian biểu hay là Niên biểu th́ con người phải trải qua 4 Thời Đợi – 4 Du-ga (4 Yougas).

         1)- Krita Youga cũng gọi là Satya Youga: Thời Đợi Hoàng Kim (Âge d’or) được 1.728.000 năm.

         2)- Treta Youga: Thời Đợi Bạch Ngân (Âge d’argent) được 1.296.000 năm.

         3)- Dvapara Youga: Thời đợi Hoàng Đông (Âge d’airain) được 864.000 năm.   

         4)- Kali Youga : Thời đợi Sắt Thép ( Âge de Fer ), Ấy là Thời đợi Hắc Ám, Đen Tối cũng gọi là Đời Mạt Kiếp, được 432.000 năm.

ĐỜI MẠT KIẾP

 

         Theo Thánh Kinh Ấn th́ hiện giờ nhân loại đang ở vào Thời đợi Mạt Kiếp.

         Chốn chốn sanh linh đồ thán, loạn ly, giặc giả, chiến tranh nổi lên khắp nơi, hạn hán, lụt lội, đói rét, cang thường đảo ngược, đạo đức suy đồi.

 

THỜI ĐỢI MẠT KIẾP KHỞI SỰ HỒI NÀO?

 

         Kinh Thánh nói rằng: 5.000 năm đầu của Thời đợi Mạt Kiếp chấm dứt năm 1897, cách đây 77 năm (1974). Thế th́ Đời Mạt Kiếp khởi sự năm 3103 trứơc Tây lịch kỷ nguyên, tới nay 1974 đă được 5077 năm rồi.

 

MỘT ĐẠI KIẾP

 

         Một Du-ga (Youga) là một Tiểu kiếp.

         Bốn Du-ga (Youga) nhập lại làm một Đại Kiếp (Maha Youga) được 4.320.000 năm.

 

NHIỀU CHU KỲ NHỎ CỦA ĐỜI MẠT KIẾP.

 

Không phải trọn Thời Đợi Mạt Kiếp đều xấu xa, đen tối. Nó chia ra nhiều chu kỳ nhỏ, cũng có cái tốt đẹp vậy. Tỷ như trong ṿng 600, 700 năm nữa Giống Dân Thứ Sáu sẽ ra đời. Giống dân nầy mở Bồ-Đề Tâm và tiến rất cao, hướng về đường tinh-thần mặc dầu ở vào đời Mạt Kiếp.

 

BỐN THỜI ĐỢI (YOUGAS) GIỐNG NHƯ BỐN MÙA

 

Ta có thể so sánh 4 Thời Đợi ( Du-ga ) với 4 mùa.

Krita Youga, Thời Đợi Hoàng Kim giống như mùa Xuân.

         Treta Youga, Thời Đợi Bạch Ngân giống như mùa Hạ.

         Dvapara Youga, Thời Đợi Hoàng Đông giống như mùa Thu.

         C̣n Kali Youga, Thời Đợi Sắt Thép, Hắc Ám giống như mùa Đông lạnh lẽo.

         Tuy rét mướt, song chúng ta phải mặc đồ ấm đi làm lụng, chớ không phải là tối ngày trùm mền măi. Như vậy ta sẽ chết đói.

         Bây giờ ta hăy thử nghĩ điều nầy:

         Ta đi trên chiếc ghe mà gặp gió ngược, nước ngược, th́ phải chèo chống mỏi mệt.

         Ví như ta đi trên chiếc tàu hay là phi cơ th́ gió ngược, nước ngược không thành vấn đề.

         Cũng như trời tối, không lẽ ta ở thầm trong nhà. Ta phải đốt đèn lên.

         Thuở xưa dùng dầu cá, dầu phộng; bây giờ th́ có đèn dầu lửa, đèn măng-sông (manchon), đèn điện. Biết đâu rồi đây ta sẽ dùng được một thứ ánh sáng êm dịu hơn đèn điện mà không nóng nữa. Sự tiến hóa không biết đâu là bờ bến. Nó không có giới hạn.

         Nói cho đúng, mọi việc đều do tự nơi ta, đừng đổ thừa cho cái chi cả. Chúng ta là Chơn Thần, nếu ta muốn th́ ở vào thời đợi nào ta cũng tiến được cả. Nếu chờ tới Thời Đợi Hoàng Kim mới tu th́ chắc là cho tới ngày nay không có ai thành Chánh Quả cả, không có Phật Thích Ca, không có Đức Bồ Tát Di Lạc, không có các Đấng Đế Quân, các vị Chơn Sư và các Đệ Tử.

 

TẠI SAO CHƠN THẦN PHẢI ĐẦU THAI LÀM THÚ VẬT TRƯỚC KHI LÀM NGƯỜI?

  Điều nầy không có chi là lạ. Tới một ngày kia Chơn Thần sẽ thành một vị Thượng-Đế và sẽ sanh hóa một Thái Dương Hệ giống như Vũ Trụ nầy vậy.

         V́ thế Chơn Thần phải đầu thai từ loài nầy qua loài kia và đi từ bầu Hành Tinh nầy qua bầu Hành Tinh khác để học hỏi và kinh nghiệm. Rồi tiến lên măi cho đến khi trọn sáng, trọn lành và khai mở toàn vẹn những quyền năng tiềm tàng trong ḿnh bằng Đức Thượng Đế. Tới chừng đó mới sanh hóa một Thái Dương Hệ được.

         Thời gian nầy kéo dài có lẽ cả chục tỷ năm chớ không phải nội trong vài chục kiếp mà Pháp Lực Vô Biên.

         Bây giờ xin nói qua Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo.

 

PHẬT GIÁO

 

         Phật đă bảo: “Chúng sanh đều có Phật Tánh. Ta đă thành Phật, c̣n các ngươi sẽ thành Phật”.

         Đây là Ngài muốn nói: “Các ngươi sẽ tiến hóa và sẽ thành Phật như ta vậy”, song Ngài không nói trắng ra.

         Quyển Túc Sanh Truyện ( Lalite Vistara hoặc Jataka Mala ) có thuật 550 kiếp của Đức Thích Ca chia ra làm ba giai đoạn:

         Giai đoạn thứ nhất: Làm thú vật: như Thú ở dưới nước: Vua cá, rồi thú ở trên bờ như: Gà trống, Chim Gơ Kiến, Ḅ U, Nai, Voi.

         Giai đoạn thứ nh́: Làm người . Thoát kiếp thú, đầu thai làm người. Cũng phạm tội như chúng ta bây giờ, vẫn c̣n bị Thất T́nh Lục Dục sai khiến .

         Giai đoạn thứ ba: Vào hạng Siêu Phàm. Tu hành thành Chánh Quả, vào hạng Siêu Phàm, từ Chơn Sư lên Đế Quân, làm một vị Bồ Tát rồi mới thành Phật.

 

KINH PHẬT DẠY LINH HỒN ĐI ĐẦU THAI

TỪ LOÀI NẦY QUA LOÀI KIA

 

          Trong cuốn Phạm Vơng Kinh (Mahavagga VI - 29) có đọan nầy:

         “Linh hồn đi đầu thai từ loài nầy qua loài kia, xuyên qua tất cả những h́nh dáng đá cát, cây cỏ, cầm thú và những người tánh t́nh riêng biệt cho đến khi nó lên đến bậc Toàn Giác là Phật.

                                                           (Phúc Âm của Đức Phật)

                                         (Evangile du Bouddha par Carus page 127)

 

THIÊN CHÚA GIÁO

 

         Thuở xưa, Đấng Christ và các Đệ Tử có dạy về Huyền Bí Học, nhưng đời sau người ta loại ra ngoài những giáo lư cao siêu mà họ không hiểu được.

         Ngày nay, trong quyển “Tân Ước” công truyền c̣n vài chỗ để chứng minh rằng: Con Người là Thượng Đế. Tỷ như mấy câu sau đây:

         Jésus đáp lại với họ rằng: “Trong luật của các ngươi lại đă chẳng viết như thế nầy sao?

                   Ta bảo: Các Ngươi là những Tiểu Thượng Đế.”

          (Jésus leur répondit :”N’est-il pas écrit dans votre loi ?  J’ai dit: Vous êtes des Dieux”)   Jean 10 – 34. 

          Chữ Dieux nầy dịch là Thần, không đúng, phải dịch là Tiểu Thượng Đế mới phải.

         Xin xem những câu sau nầy:

         1-“Các anh không biết các anh là đền thờ của Đức Chúa Trời và Đức Thánh Linh ở trong ḿnh các anh sao?”.

( I -  Cô-ranh-tô III - 16 )

( I -  Corinthiens III - 16 )

2- Chúng ta là ḍng giống của Đức Chúa Trời.

( Công vụ các Sứ Đồ XVII – 28 )

( Actes XVII – 28 )

Con Đức Chúa Trời không phải là Tiểu Thượng Đế hay sao? Hơn nữa trong “Sáng Thế Kư” có câu nầy:

“Chúng ta hăy làm Con Người giống h́nh chúng ta và in hệt chúng ta”.                                                 (Sáng Thế Kư 1-26)

         ( Puis Dieu dit : Faisons l’homme à notre image selon notre res-semblance ).

                                                                    ( Genèse 1-26 )

                                                   ( La Sainte Bible A. Crampon )

         Nếu nói Con Người giống h́nh Đức Chúa Trời và in hệt Ngài tức là Con Người là Tiểu Thượng Đế.

 

HỒI GIÁO

 

          Trong quyển Mesnavi, Kinh Thánh của Hồi Giáo có hai đoạn nầy:

 

- I -

 Linh Hồn trước nhất vô ở trong loài Kim Thạch, rồi qua loài Thảo Mộc. Nó trải qua không biết bao nhiêu thế kỷ trong loài Thảo Mộc, quên phức những sự chiến đấu của nó trong loài Kim Thạch.

         Khi nó đầu thai làm Thú Vật, nó không c̣n nhớ lúc nó ở trong loài Thảo Mộc nữa.

         Rồi Đức Thượng Đế mà các anh đă biết, Ngài đem nó ra khỏi loài Thú Vật, rồi cho nó đầu thai vào loài Người cho đến khi nó thành một sinh vật khôn ngoan.

                                             ( Le Mesnavi – IV Jalal du Diu Roumi )

 

- II  -

Tôi ở trong Kim Thạch, thác rồi thành ra một cái Cây,

Tôi ở trong cái Cây, thác rồi thành ra một con Thú,

Tôi ở trong con Thú, thác rồi thành ra một con Người,

Tại sao tôi lại sợ? Sự chết có làm cho tôi giảm sút chi đâu?

Lần sau tôi bỏ kiếp Người đặng mọc cánh như Thiên Thần.

         Mà tôi cũng t́m cách thoát ra khỏi hạng Thiên Thần, bởi v́ cả thảy đều sẽ bị tiêu diệt trừ ra Ngài.

         Mà tôi cũng sẽ bay đi cao hơn các vị Thiên Thần nữa. Tôi sẽ thành ra cái ǵ mà không thể tưởng tượng được.

         Tôi thành ra hư không và khúc nhạc trổi lên; “Thật sự, chúng ta sẽ trở về với Ngài”.

                                                                             ( Le Mesnavi )

         Chắc chắn tác giả quyển “Mesnavi” có học khoa Bí Truyền, song không tiết lộ ra.

         Đáng lẽ là dùng danh từ “Con Người” mà chỉ nói “Tôi” đặng ít ai đề ư tới, v́ đây là ư kiến riêng của tác giả.

         Hiểu được Cơ Tiến Hóa, Con Người mau hiệp tác với Thiên Cơ [[11]] tức là học hỏi Luật Trời rồi nương theo đó mới tiến mau. Như thế Con Người giúp cho Thiên Cơ được mau thực hiện.

         V́ vậy, hiệp với Thiên Cơ và giúp cho nó mau thực hiện là biến đổi cơi Trần bé nhỏ ra cảnh Thiên Đường Cực Lạc. Thiết tưởng ai ai lại không muốn điều đó và trên đời c̣n có cái chi tốt đẹp, vinh diệu hơn việc nầy nữa chăng?

         Ấy vậy, bởi con người hiểu biết rồi thuận theo lẽ Trời, nên mới cương quyết làm lành và chống chỏi với sự ác, làm việc cho Cơ Tiến Hóa chớ không phải v́ quyền lợi riêng tư của ḿnh .

         Chơn Sư lập đi lập lại cho Alcyone biết rằng: Sự Hiểu Biết và Sự Không Hiểu Biết rất quan hệ đối với đời sống của Con Người, bởi v́ lúc đó Alcyone c̣n nhỏ, chưa đủ trí khôn, chưa kinh nghiệm.

         Xin nhắc lại sự hiểu biết đây là sự hiểu biết Cơ Trời, hiểu biết thật Con Người là ai? Có bổn phận nào phải thực hành tại Thế Gian và tại sao vậy ?

         Không hiểu biết lẽ nầy, Đạo Đức gọi là c̣n Vô Minh.

         Người chí nguyện làm Đệ Tử phải lo Tự Biết Ḿnh trước rồi luôn luôn phải triệt để làm những điều thiện, những điều đem hạnh phúc lại cho kẻ khác, tùy duyên, tùy phận, tùy trường hợp. Chẳng những anh không làm việc quấy, mà anh c̣n phản đối việc ác. Và trước nhất, anh phải diệt cái mầm của sự ác ở trong ḷng anh, tức là anh phải tự trị, tự điều khiển ba thể: Thân, Vía, Trí của anh, v́ chúng là nguồn cội của Tam Độc: Tham, Sân, Si, gây ra muôn vàn tội lỗi và buộc trói con Người vào bánh xe Luân Hồi từ kiếp nầy qua kiếp kia.

         Anh cũng phải khuyên kẻ khác tránh những việc ác và làm những điều phước thiện, đừng bao giờ làm cho kẻ khác phải đau khổ trong thể xác hay trong tâm hồn.

         Người chí nguyện phải “Vị Tha” chớ không được “Hết Sức Ích Kỷ” chỉ biết có những quyền lợi riêng tư của ḿnh mà thôi, chớ không đoái hoài tới sự đau buồn và những nhu cầu của người khác.

         Trong câu nầy có hai chữ nổi bật lên mà độc giả phải chú ư, ấy là hai chữ “Cương Quyết”, bởi v́ vật chất có quyền năng quyến rủ phi thường, nó đưa ra những lư lẽ mà người chưa có kinh nghiệm phải chấp thuận và cho “thật là đúng”. Nhưng chừng thực hành th́ mới thấy ḿnh đă sa ngă và đă mắc vào cạm bẫy.

         V́ thế, muốn làm lành, ư chí phải cứng cỏi như sắt đá và lấy cái “vĩnh viễn, trường tồn làm tiêu chuẩn”, chớ đừng dùng cái“tạm thời”, dù cho sự hành động đem lại cho chúng ta những quyền lợi to tát chăng nữa.

         Nói tóm lại, người hiểu biết Cơ Trời phải nắm nắm, nớp nớp sợ từ tư tưởng, không dám buông lung như người thường, tha hồ muốn tưởng chi th́ tưởng, muốn nói chi th́ nói, muốn làm chi th́ làm. Trước mặt và trong ḷng, người chí nguyện chỉ thấy sự tiến hóa của muôn loài vạn vật, mong mỏi cho ai nấy đều cải dữ về lành đặng mau bước lên Đài Giác.          

         Nếu giúp ích được về phương diện nào th́ thực hành ngay khi đó liền, chớ không chờ đợi sự cầu khẩn của kẻ khác. Dẹp Bản Ngă qua một bên, không mưu cầu hạnh phúc riêng tư cho ḿnh trong khi cả muôn, cả triệu người khác c̣n vô minh nên ch́m đắm nơi Bến Mê, Sông Khổ, đó là Bổn Phận của Người Chí Nguyện.

         Xin nhắc lại quí bạn rằng: Tất cả đều do theo Thói Quen. Hăy tập cho có thói quen tốt như: có thiện cảm, thương người, cứu giúp người tùy khả năng của ḿnh. Lần lần thói quen biến thành Tánh T́nh của ḿnh, sau ḿnh hành động dễ dàng. Trái lại, nếu nuôi dưỡng các tánh xấu th́ không thế tưởng tới điều tốt được. Mà dẫu có nghĩ đến việc lành cũng không thế thực hành được, v́ ta bị thói quen xấu xa đè bẹp rồi. Hăy đề pḥng và cẩn thận từ chút, nếu không muốn hối hận. Thật vậy, ra sức trừ khử thói hư tật xấu c̣n khó hơn gấp muôn lần việc một ḿnh xông ra nơi trận địa chiến đấu với quân địch.

         Người mà thuận theo lẽ Trời tức là một phe với chúng ta, dầu va nói va là người Bà La Môn, người Phật Giáo, người Công Giáo, hay người Hồi Giáo, hoặc va là người Ấn, người Anh, người Trung Hoa, hay là người Nga th́ cũng không hề chi cả.

         Đây là một tư tưởng mà thí sinh trên đường Đạo phải ghi nhớ vào ḷng, không thực hành th́ là c̣n rất xa cửa Đạo.

         Tại ngưỡng cửa Đạo, người ta không hỏi quí bạn giữ Đạo nào, thờ phượng ai, hay là người nước nào, mà chỉ hỏi quí bạn có hội đủ những điều kiện do Luật Trời qui định không? Chỉ cần những đức tánh và những cố gắng mà thôi.

         Xin nhắc lại: Tên các Tôn Giáo là nhăn hiệu bề ngoài, những tín ngưỡng, những lễ bái, những sự thờ phượng không có chi là quan trọng. Chỉ có sự Hành Đạo mới đáng quí, v́ nó dắt con người đến cửa Đạo.

 

BA PHÁP MÔN

 

         Có ba Pháp Môn cũng gọi là ba con đường:

- Con Đường Sùng Tín.

- Con Đường Trí Tuệ.

- Con Đường Hành Động.

         Có người th́ thích sùng bái, có người th́ thích học hỏi, có người th́ thích hành động, tùy theo căn cơ của mỗi người. Miễn là thực hành đúng phép th́ sẽ thành công.

         Giữ Đạo Phật hay giữ Đạo Thiên Chúa, đầu thai làm người da vàng hay là người da trắng th́ không khác nào mang lớp áo, màu sắc khác nhau; những người mặc áo là Linh Hồn chỉ khác nhau là sự tiến hóa cao hay thấp, chớ bản tánh Thiêng Liêng vẫn in nhau.

         V́ vậy, người thuận theo lẽ Trời là một phe với Tiên Thánh, th́ có cần chi cái nhăn hiệu Tôn Giáo hay là sắc da.

         Những người nào thuận theo lẽ Trời th́ biết rằng tại sao họ thuận theo, họ biết bổn phận họ phải làm chi và cố gắng hoàn thành công việc đó. C̣n mấy người khác không biết họ phải làm điều chi, cho nên họ thường hành động như những kẻ ngông cuồng.

         Thuận theo Luật Trời tức là Hành Đạo [[12]]. Một khi hiểu được Cơ Trời th́ biết bổn phận ḿnh phải làm điều chi và cố gắng thực hiện. Tôi xin nhấn mạnh về hai chữ cố gắng, bởi v́ biết bổn phận là một việc c̣n thực hành là một việc khác nữa.

         Chơn Nhơn muốn cho Phàm Nhơn thuận theo lẽ Trời, c̣n Phàm nhơn lại hay nghe theo ba Thể: Thân, Vía, Trí nên ương ngạnh, thường thường không tuân theo mạng lệnh của Chơn Nhơn đưa xuống.

         V́ vậy mới có những trường hợp gọi là bị Lương Tâm cắn rứt.

         Ông Thánh Phao-Lồ (Saint Paul) có nói: “Tôi không làm những điều phải mà tôi muốn, tôi lại làm những điều quấy mà tôi không muốn .”

         Chúng ta hăy tự tỉnh, mới thấy những lời các vị Đạo Sư nói rất đúng. Phải rán sức, miễn là đừng nữa chừng bỏ cuộc th́ cuối cùng sẽ thành công.

         C̣n những người không biết Cơ Trời th́ làm theo ư họ muốn. Có thể nói 99% những việc làm của họ đều pha màu ích kỷ.

         Thế nào là những chuyện ngông cuồng?

         Những chuyện làm ngông cuồng là những chuyện làm trái với Luân Lư Đạo Đức.

         Từ trong gia đ́nh tới ngoài xă hội có không biết bao nhiêu những chuyện ngông cuồng: lớn có, nhỏ có.

         Xin kể sơ lược vài thứ thôi:

         Không có tiết độ là làm chuyện ngông cuồng; cờ bạc, rượu chè, đàng điếm, hút xách, là làm những chuyện ngông cuồng; nóng nảy, giận hờn, đánh đập, chưởi mắng, rủa sả, là những việc ngông cuồng; bày mưu sâu, kế độc hăm hại người, hiếp đáp người, chiếm đoạt của cải thiên hạ, làm những chuyện a hành, ác nghiệt, bất nhân thất đức là ngông cuồng, vân vân . . .; bởi v́ nhân nào quả nấy, gieo nhân th́ gặt qủa.

         Mấy việc nầy, có cái làm cho hao ṃn thân xác, gây ra bệnh hoạn, làm hại ṇi giống, hậu quả truyền tới mấy đời con cháu, có cái kêu tai họa tới cho ḿnh, không kiếp nầy th́ cũng kiếp sau, không phương nào tránh khỏi được.

         Những chuyện ngông cuồng lớn lao, hết sức khủng khiếp là những chiến tranh chủ nghĩa, những chiến tranh Tôn giáo. 

         Hai trận Thế Giới Đại Chiến, 1914 và 1939, làm cho thây nằm chật đất, máu chảy thành sông. Mà kết cuộc đem lại cái chi?

         Toàn là những sự đau khổ triền miên cho nhân loại, măi cho tới ngày nay, mấy chục năm trời qua, mà chưa dứt.

         Ấy là một bài học đau thương cho những kẻ tham tàn nuôi ảo mộng tóm thâu thiên hạ.

         Ngày nay, người ta đă thấy sự tàn phá của nguyên tử lực, mà c̣n có cái cuồng vọng muốn dùng bạo lực để chinh phục thế giới, chà đạp dân chúng dưới gót giày xâm lăng của bọn quân phiệt. Họ dựa vào sức mạnh của cơ khí, không biết rằng: Chỉ có Trời mới thật là mạnh, duy cơ Trời mới định đoạt được số phần của thiên hạ, chớ không có quyền-năng sửa đổi được Cơ Tạo Hóa. 

         Theo phái Duy Vật, họ không tin có Trời, Phật, Thánh, Thần th́ đâu có sợ Luật Luân Hồi, Nhân Quả. Họ làm những chuyện Bội Thiên, Nghịch Địa. Quả thật họ có thể thành công, họ có thể thắng trong một thời gian, tức là lúc ban đầu, nhưng chung cuộc cũng phải bó tay trước định luật. Họ sẽ bỏ mạng.

         Những kẻ háo hư danh, đầy tham vọng từ xưa đến nay như Attila, Tần Thủy Hoàng, Napoléon, Hitler, vân vân . .  , chọc trời khuấy nước, làm cho thiên hạ lầm than, cơ cực, bị muôn đời nguyền rủa, chớ không có ai thán phục và thờ phượng như các vị Giáo Chủ, những Đấng Cứu Thế.

         Tiếc thay! Những gương kim cổ ngông cuồng đó chưa đủ thức tỉnh những người đương sống trong thế kỷ 20 nầy, gọi là đời văn minh, nên họ c̣n toan gây hấn để thống trị hoàn cầu nữa.

         Những điều của họ toan tính có phải là những chuyện ngông cuồng hay không?           

         Họ t́m những đường nào mà họ tưởng rằng chúng nó làm cho họ được vui vẻ chớ không biết rằng: “Tất cả chỉ là một” (vạn vật nhất thể) , bởi vậy hễ cái chi Trời muốn th́ cái đó mới thật làm cho mỗi người đều được đẹp ḷng.

         Nói cho đúng lư, chúng ta đương lần ṃ trong đêm tăm tối. Khi thấy một tia sáng giọi vào th́ mừng rỡ chạy ra ngoài. Chừng ta chạm bàn ghế, đụng vách phên, té lên, té xuống.

         Tia sáng, ấy là hạnh phúc. Tất cả chúng ta đều t́m bóng hạnh phúc như thế đó.

         Con người t́m kiếm những con đường mà họ tưởng là êm đềm, bằng phẳng, vui vẻ, nhưng không dè những đường của họ chọn lựa, thường là những đường dẫy đầy chông gai, hầm hố, không khéo bước th́ sụp té. Những sự hành động của con người thường trái ngược với đạo lư, v́  ít khi chịu suy nghĩ cho sâu xa.

         Ít ai biết rằng: Nhơn loại là một khối duy nhất, những việc làm của một người có ảnh hưởng đến toàn thể. Phải tới bực Siêu Phàm, lên tới cơi Niết Bàn mới thấy rơ là Vạn Vật Nhứt Thể.

         Ở dưới Trần có được bao nhiêu người tin điều nầy là có thật đâu. Nhưng lấy việc Trần mà nói, ngay trước mắt chúng ta, đồng quan Pháp, đồng Anh Kim, hay đồng Mỹ Kim bị phá giá th́ làm xáo trộn nền kinh tế của tất cả các nước trên Hoàn Cầu, chớ không riêng ǵ ở Pháp, ở Anh , hay ở Mỹ.

         Mới đây, sự thiếu hụt dầu hỏa làm tê liệt kỹ nghệ của Thế Giới, nhiều cường quốc bị tổn thất nặng nề. Cả ngàn triệu người lâm vào cảnh khốn khổ, lớp bị thất nghiệp, lớp bị thiếu hụt, lớp bị đói rét v́ giá sinh hoạt tăng lên vùn vụt. Thiên hạ đều rên siết thở than chớ không phải chỉ có Do Thái chịu thiệt hại thôi.

         Bao nhiêu đây cũng đủ chứng minh sự sống của các giống dân đều liên kết mật thiết với nhau về sự suy sụp cũng như về sự thịnh vượng chung.

 

VẠN VẬT NHỨT THỂ

 

         Chúng ta chưa lên được cơi Bồ Đề hay cơi Niết Bàn th́ hăy tưởng tượng như vầy:

         Nhơn loại không khác nào thân ḿnh con người. Mỗi người là một tế bào trong thân nhở máu là sự sống nuôi dưỡng. Nếu lấy kim chích đầu ngón tay th́ khắp cả châu thân đều đau, chớ không phải riêng ǵ chỗ bị chích. Đây có nghĩa là: Tất cả nhơn loại chỉ là Một Người.

         Trong quyển “Ánh sáng trên đường Đạo” có câu nầy nói về Vạn Vật Nhất Thể nơi qui tắc 5:

         “Hăy diệt mọi ư niệm chia rẽ.

         Đừng tưởng rằng con có thể sống riêng biệt với kẻ hung ác hay người điên khùng. Họ chính là con, mặc dù ở vào một tŕnh độ thấp kém hơn người bạn thân của con hay Sư Phụ con. Nhưng nếu con để trong tâm nảy nở cái ư nghĩ rằng con không liên đới với một vật nào hay một người nào, th́ do đó con sẽ tạo một nghiệp quả, nó trói buộc con vào vật đó hay người đó cho đến ngày nào Linh Hồn con nh́n nhận rằng nó không thể sống riêng biệt được nữa.

         Con hăy nhớ rằng tội lỗi và sự nhục nhă của nhân loại là tội lỗi và sự nhục nhă của con, bởi v́ con là một phần tử của nhân loại và nghiệp quả của con dệt chung với Đại Nghiệp Quả của nhân loại, không thể nào gỡ ra được.”

         Người học Đạo khá cao mới hiểu nổi ư nghĩa của câu nầy.

         Chơn Sư là những bậc Siêu Phàm, dùng được những quan năng mà người thường chưa biết. Các Ngài đă thấy nên nói một cách tuyệt đối, c̣n chúng ta ở trong ṿng trần tục, mắt chưa mở sáng nên thường không tin và cũng không chấp nhận.

         Hăy xem ba người kia:

- Một người đứng dưới đất ḍm ra đồng bằng,

- Một người nữa ở giữa triền núi ngó mông,

- Một người nữa đứng trên chót núi quan sát cảnh vật.

         Lẽ tự nhiên, người ở trên chót núi thấy xa hơn người ở giữa triền, c̣n người ở giữa triền th́ thấy xa hơn người ở dưới đất.

         Vậy chỗ thấy của người nào cũng đúng cả—đúng về vị trí của ḿnh. Những điều họ nói đều hữu lư song hoặc lư cao, hoặc lư thấp, chớ không phải hoàn toàn vô lư. Vậy th́ cải cọ với nhau rất vô ích, đă mất niềm ḥa khí mà c̣n gây ra ác cảm. Muốn xét đoán, phải biết trường hợp của mỗi người và tŕnh độ hiểu biết của họ. Hăy kinh nghiệm đi rồi mới thấy lời Tiên Thánh sâu xa và hết sức đúng là thế nào?

 

MUÔN VẬT MỘT THỂ

 

         Nhân đọc quyển hạ “Cổ Học Tinh Hoa” thấy bài thứ 124 “Muôn Vật Một Thể” của Trương Hoành Cừ tức là Trương Tải Tiên Sinh, một nhà văn sĩ trứ danh đời Tống  có những lời dạy đúng với chân lư. Vậy xin chép hai đoạn chót ra đây cho quư bạn xem:

         “Người ta với muôn vật cùng sinh ra ở trong trời đất, thế th́ cái ǵ có h́nh đều là khí của trời đất, cái ǵ có tính đều là lư của trời đất. Vậy người với người là đồng loại, thời ta coi nhau như anh em ruột cả. Trong vạn vật, giống hữu tri, giống vô tri, so với người tuy khác, song cũng tự trời đất sinh ra, th́ ta cũng coi như một bọn với ta cả.

         Phàm người trong trời đất đă là con trời đất hết, th́ vua, ta coi như người anh cả; đại thần, ta coi như người giúp anh cả; cụ già ta kính, là cốt quí bậc tôn trưởng ta; trẻ bé ta thương, là cốt yếu đàn con trẻ ta; bậc thánh là anh em ta mà giống cha mẹ ta, bậc hiền là anh em ta mà giỏi hơn ta; c̣n những người ốm đau, tàn tật, cô đơn, góa bụa đều là anh em ta mà vất vả khổ sở, không biết nương tựa vào đâu vậy.”

                                                                             TRƯƠNG HOÀNH CỪ

 

         Tôi tin rằng nếu ai thực hành đúng như lời khuyên trên đây, sẽ tiến mau và bước lần tới cửa Đạo.

         Thiết tưởng cái chi Trời muốn th́ cái đó làm cho mỗi người đều được đẹp ḷng. Trời muốn cái chi?

         Trời muốn cho con người biết Bản Tánh Thiêng Liêng của ḿnh, thông hiểu Cơ Tiến Hóa, rèn luyện tâm tánh để mau trở nên trọn sáng, trọn lành. Trời muốn cho con người hưởng hoàn toàn hạnh phúc, song tại con người không chịu tuân theo những lời dạy dỗ của các vị Thánh Nhân, Hiền Triết, cho nên mới chuốc lấy những sự đau khổ vào ḿnh, v́ đă làm trái nghịch với Đạo Đức.

         Họ đeo đuổi theo sự mộng ảo thay v́ sự chân thật và nếu ngày nào họ không học cách phân biệt hai việc ấy, th́ ngày đó họ chưa thuận theo lẽ Trời. Bởi vậy sự phân biện là bước đầu tiên phải thực hành.  

         Nhưng vậy, dầu có chọn lựa rồi đi nữa, con cũng phải nhớ rằng sự chân và sự giả chia ra nhiều hạng và con phải biết phân biện cái lành với cái dữ, cái trọng hệ với cái không trọng hệ, cái hữu ích với cái vô ích , cái thực với cái hư, cái ích kỷ với cái vô tư lợi.

         Chơn Sư nhấn mạnh về sự phân biện sự chân và sự giả.

         Xin nhắc lại cái mộng ảo đây là cái có thật, nhưng có cái tan đi trong chớp mắt, có cái c̣n thấy trong vài giờ, vài tháng, vài năm, chớ không phải là không có.

         Trong câu nầy Chơn Sư nhắc lại mỗi bước, mỗi ngày, trong mọi việc phải phân biện luôn luôn. Thật ra ít có người suy nghĩ chín chắn. C̣n biết bao nhiêu điều ta chưa học hỏi, chưa kinh nghiệm, nếu ta hiêu hiêu tự đắc, tưởng ḿnh không lầm lạc, tới khi đụng đầu vào vách mới bật ngữa ra và thấy ḿnh c̣n khờ dại.

         Chúng ta hăy Tự Tỉnh, hăy Tự Biết Ḿnh, hay Tự Khắc Kỷ th́ sẽ tiến mau. Chúng ta c̣n ở trong ṿng Trời Đất, bị luật Luân Hồi, Nhân Quả chi phối th́ tại sao không lo học rành rẽ những luật đó, rồi nương theo chúng nó để tiến tới, mà lại hành động theo ư muốn sái quấy của ḿnh bất chấp Luật Pháp và những sự đau khổ của kẻ khác. Như vậy th́ sẽ mang quả ác. Nếu chưa thấy quả tới liền th́ nên hiểu : Có thứ quả đến mau, có thứ quả đến chậm, tùy theo bản tánh của sự hành động, nhưng sớm muộn ǵ nó cũng phải tới.

         Không phải dễ mà biết liền cái nào hữu ích nhiều, cái nào hữu ích ít, cái nào ích kỷ, cái nào vô tư lợi, bởi v́ mấy điều đó có nhiều mặt khác nhau và cái Trí của chúng ta thật ra cũng chưa được sáng suốt lắm. Phải học hỏi cho rộng sâu, phải cho có nhiều kinh nghiệm, phải giữ chừng luôn luôn, phải cố gắng, phải cẩn thận từ trong tư tưởng, từ trong ư muốn, từ trong lời nói, từ trong việc làm để biết được bản tánh của chúng nó lành hay dữ hầu tránh cái quấy. Được vậy mới có thể ít lỗi lầm hơn trước.

         Quả thật trước khi làm việc chi đều phải suy nghĩ th́ rất mệt mỏi, rất khó nhọc và thấy rất chậm chạp trong sự thực hành. Nhưng nên biết: Khi có thói quen rồi th́  dễ phân biện mau lẹ. Chỉ cần ra công tập luyện lúc đầu thôi. Ta cứ lo mở ḷng Từ Bi, Bác Ái th́ sẽ nhờ ánh sáng của Trực Giác d́u dắt ta lần lần.

         Phải biết cách đổi tánh ích kỷ ra tánh vị tha. 

         Thí dụ, trong sự ăn uống hằng ngày, ta hăy tự nói như vầy: “Cầu xin những thức ăn vô ḿnh tôi biến đổi ra khí lực để tôi dùng đặng phụng sự nhân loại, đặng làm những việc ích lợi cho kẻ khác, chớ không phải tôi mong mỏi được khỏe mạnh để thỏa thích những sự ham muốn ích kỷ và làm khổ cho đời.”

         Như vậy, ta diệt được sự ham muốn ích kỷ trong việc ăn uống. C̣n mấy việc khác cũng nên dùng phương pháp nầy. Ta chỉ sửa đổi mục đích của sự hành động th́ cái dữ sẽ hóa ra cái hiền, cái xấu sẽ hóa ra cái tốt, thói ích kỷ sẽ biến thành tánh vị tha, ḷng Từ Bi, Bác Ái của ta sẽ mở rộng lần lần.

         Không khó chi trong sự chọn lựa sự lành và sự dữ, bởi v́ những người nào muốn theo Chơn Sư th́ đă nhứt định theo sự lành với bất cứ giá nào.

         Người nào quyết theo Chơn Sư  th́ nhất định làm lành, không khi nào làm ác, dầu cho việc đó đem lại cho ḿnh tiền muôn bạc vạn và quyền thế cao sang.

         Trong trường hợp nào cũng phải trung thành với lư tưởng cao siêu, không khi nào làm giảm giá trị của sự Thành Thật. Nếu không chân thật th́ c̣n rất xa cửa Đạo và không hề gặp được Chơn Sư.

         Những câu nầy không phải nói về hạnh kiểm mà thôi, nó cũng áp dụng vào việc thực hành nữa.

         Có người hỏi Đức Leadbeater: “Tôi muốn có  thần nhăn, thần nhĩ, vậy tôi phải làm sao?”. Luôn luôn Ngài trả lời: “Bước đầu tiên là phải làm cho thân thể nhẹ nhàng, phải chọn lựa những món ăn tinh khiết hạp với thể xác tức là trường chay, kế đó là trau giồi tâm tánh cho thật tốt.

          Phải khắc kỷ từ trong tư tưởng, ư muốn cho tới lời nói và việc làm

         Nói tóm lại, phải thanh khiết từ trong tâm hồn cho tới ngoài thể xác”.

         Hăy xem cái máy thu thanh: Cái máy tốt chừng nào th́ những bộ phận của nó càng mảnh mai chừng nấy.

         Nhưng mà con người luôn luôn muốn Bắt Cá Hai Tay: Vinh hoa, phú quí cũng muốn; Thần thông rộng lớn, phép tắc cao cường cũng muốn . Rơ ràng là túi tham không đáy.

         Lánh dữ cũng c̣n một nghĩa khác nữa là: không nên chọn nghề nào mà phải sát hại thú vật và làm hại kẻ khác như nghề hàng heo, nghề giết thú vật lấy da, lấy lông, nhất là lông chim con đặng làm những áo, những khăn choàng, hoặc buôn bán khí giới và buôn bán ma túy.

         Những người nào c̣n ch́u theo sở thích của ḿnh th́ là muốn theo thế tục “đúng mốt thời trang” chớ không phải muốn theo Chơn Sư.

 

II- CÁCH SINH HOẠT CỦA BA THỂ. ( La vie des corps )

 

         Nhưng mà Con Người và thể xác của nó là hai cái khác nhau. Ư chí của Con Người luôn luôn không phù hạp với những sự ham muốn của Xác Thân. Khi Xác Thân con muốn điều chi th́ con hăy ngừng lại và suy nghĩ coi có phải thật là con muốn điều đó chăng?

         Chơn Sư dạy Alcyone phải phân biện Xác Thân và Con Người.

Thật Con Người vốn là Linh Hồn ở trong Xác Thân. Xác thân chỉ là một khí cụ để cho Con Người dùng tại cơi Trần trong một thời gian rồi phải bỏ nó. Đừng nói “Con Người là Linh Hồn” mà phải nói “Linh Hồn là Con Người” mới đúng sự thật .

         Nhưng luôn luôn Con Người cứ đinh ninh rằng: xác thân nầy là ḿnh, tất cả những tội lỗi đều do sự hiểu lầm nầy mà gây ra.

          Nếu mỗi người đều biết xác thân không khác nào một lớp áo của Con Người mặc để hoạt động, th́ chắc chắn cơi Trần không có hỗn loạn như ngày nay, non nước đă thanh b́nh và dân chúng đều an cư lạc nghiệp.

         Cũng ít người biết Xác Thân có những sự ham muốn riêng tư trái nghịch với lẽ phải nên Chơn Sư căn dặn Alcyone phải suy nghĩi kỹ lưỡng coi có phải thật là Alcyone muốn hay không, hầu tránh những tai hại có thể xảy ra.

         Bởi v́ con là Thượng Đế, con chỉ muốn những điều nào Thượng Đế muốn mà thôi. Nhưng con phải đi sâu vào nội tâm của con để t́m Đức Thượng Đế ở trong ḿnh con và nghe lời Ngài. Lời Ngài tức là lời của con vậy.

 

ĐI SÂU VÀO NỘI TÂM NGHĨA LÀ G̀?

 

         Đi sâu vào nội tâm tức là đi từ ngoài vô trong ḷng cho thật sâu. Nói một cách khác là Tham Thiền về Chơn Thần.

         Trong lúc tham thiền phải xem xét lần lượt ba thể: Thân, Vía, Trí, rồi loại ra ngoài từ thể nầy tới thể kia.

         Trước nhất suy nghĩ về Xác Thân, xong rồi th́ nói: “Xác Thân không phải là Tôi”.

Kế đó t́m hiểu cái Vía. “Cái Vía cũng không phải là Tôi”.

        Rồi tới cái Trí. “Cái Trí cũng không phải là Tôi”.

         “Tôi là Chơn Thần trường sanh bất tử. Tôi là chủ chúng nó. Chúng nó là những khí cụ để cho tôi dùng trong một thời gian tại cơi Trần mà thôi. Đúng ngày giờ chúng nó sẽ tan ră. Chúng nó phải tuân theo mạng lịnh của tôi sai khiến”.

         Phải tham thiền như vậy nhiều năm mới mong nghe được “Tiếng Nói Vô Thinh”, tức là tiếng nói của CHƠN NHƠN đại diện cho CHƠN THẦN.

         Chơn Sư bảo Alcyone đi sâu vào nội tâm đặng t́m Đức Thượng Đế và nghe lời Ngài.

         Đức Thượng Đế đây là Chơn Thần, bởi v́ ngày sau Chơn Thần sẽ thành một vị Thượng Đế.

 

CHƠN THẦN Ở TRONG M̀NH TA

 

         Thật vậy, Chơn Thần ở trong ḿnh ta đúng như lời của ông Uddhalaka đă nói trong khi ông dạy cho con biết rằng đâu đâu cũng có Tinh Thần của Thượng Đế. [[13]]

         Có bạn sẽ hỏi: Chơn Thần ở tại cơi Đại Niết Bàn, làm sao ở trong ḿnh ta được?

 

         Đúng vậy, nhưng xin đừng quên 7 cơi Trời ở trước mắt ta và trong ḿnh ta, bởi v́ các chất khí đều thâm nhập lẫn nhau, [[14]] các cơi đều xỏ rế với nhau. Thế nên

trong ḿnh ta vẫn có đủ 7 cơi Trời: Cơi Phàm Trần, cơi Trung Giới, cơi Thượng Giới, cơi Bồ Đề, cơi Niết Bàn, cơi Đại Niết Bàn và cơi Tối Đại Niết Bàn.

         Trái tim ta là khí cụ của sự sống trong con người, cho nên nó vẫn liên  lạc với Phàm Nhơn, Chơn Nhơn  và Chơn Thần nữa.

 

SỰ CẤU TẠO BẢY THỂ CỦA CON NGƯỜI.

 

         Nên biết rằng : Chẳng những 7 cơi Trời ở trong ḿnh ta, mà 7 thể của ta cũng cấu tạo bằng 5 chất khí làm ra 5 cơi: Từ cơi Niết Bàn cho tới cơi Trần.

         Kể từ dưới lên như sau :

1- Xác Thân (Corps physique) cấu tạo bằng ba chất khí thấp làm ra cơi Trần gọi là chất đặc, chất lơng và chất hơi.

2- Cái Phách (Double ou corps éthérique) cấu tạo bằng 4 chất cao làm ra cơi Trần gọi là 4 chất Dĩ Thái Hồng Trần (Ether physique).

3- Cái Vía hay là Tinh Quang Thể cấu tạo bằng 7 chất Thanh khí làm ra cơi Trung Giới hay là cơi Tinh Quang (Plan astral).

4- Hạ Trí (Corps Mental inférieur) cấu tạo bằng 4 chất Thượng Thanh Khí thấp cũng gọi là chất Trí Tuệ (Matière Mentale) làm ra cơi Thượng Giới hay là cơi Trí Tuệ (Plan Mental). Ấy là chất thứ tư, chất thứ năm, chất thứ sáu và chất thứ bảy.

5- Thượng Trí (Corps Mental supérieur) hay là Nhân Thể [[15]] (Corps causal), cấu tạo bằng ba chất Trí Tuệ cao làm ra cơi Trí Tuệ hay là cơi Thượng Giới. Ấy là chất thứ nhất, thứ nh́, thứ ba.

         Con Người cũng có ba Ngôi như Thượng Đế, cho nên kinh sách đạo đức mới gọi Con Người là Tiểu Thiên Địa.

         Học rành rẽ 7 Thể và điều khiển chúng nó được th́ Con Người thành một vị Siêu Phàm, nhập một với Thượng Đế.

         V́ vậy mới có câu nầy khắc trên ngạch cửa của Thánh Điện Delphes:

         “NGƯƠi HĂY BIẾT NGƯƠI RỒI NGƯƠI SẼ BIẾT VŨ TRỤ VÀ CÁC VỊ THƯỢNG ĐẾ”.

         Nhưng mà muốn thấy rơ và hiểu rơ điều nầy th́ phải mở Huệ nhăn, chớ con mắt phàm chỉ để xem những vật ở cơi Trần mà thôi và xin nhớ: Cơi nào, Thể nấy. Vấn đề nầy rất hết sức khó, không biết giải làm sao cho người chưa biết Đạo hiểu được rành rẽ, v́ không thể quan niệm với trí óc cạn hẹp của chúng ta.

         Đừng lầm lộn mấy thể của con với con. Xác thân của con, cái Vía của con, cái Trí của con không phải thật là con đâu. Nhưng mỗi thể đó đều xưng là con đặng đạt được những điều nó muốn.

         Con phải biết chúng nó hết và con phải tự biết rằng con là chủ chúng nó.

         Chơn Sư nhấn mạnh điều nầy để Alcyone nhớ.

         Ngài nói như mỗi Thể là một người riêng biệt, bởi v́ mỗi Thể đều có ư muốn riêng và sự hành động riêng, nó cũng có tánh nết, cũng tốt cũng xấu đâu có khác Con người.

         Cho tới ngày nay và chắc chắn tới mai sau nữa, nếu Con Người không học Đạo, Con Người vẫn lầm lộn chưa phân biệt cái nào thật là ư muốn của ḿnh, c̣n cái nào là ư muốn của cái Vía hay cái Trí.

         Chân Sư dạy cho Alcyone biết tánh nết của ba thể đặng dùng phương pháp chữa trị, làm chủ chúng, sai khiến lại chúng nó.

 

TÁNH NẾT CỦA XÁC THÂN

 

         Khi có một việc phải làm th́ xác thân viện lẽ phải nghỉ ngơi , đi chơi bời, ăn uống. Người chưa hiểu nói trong ḷng rằng: “Tôi cần làm mấy việc đó và phải làm mới được.” C̣n người hiểu biết th́ nói: “Xác thân của tôi muốn mấy việc đó, không phải là tôi đâu, nó phải chờ đợi.” Thường thường khi có việc giúp ai th́ xác thân nói rằng: “Việc nầy làm cho tôi buồn bực quá ! Vậy ai đó hăy làm thế cho tôi.” Mà con người trả lời với xác thân như vầy: “Ngươi ngăn cản không cho ta làm một việc phải sao được.”

         Đoạn nầy trạng tả tánh nết của Xác thân. Trước nhất tánh biếng nhác, không chịu làm việc bổn phận. Nó muốn tự do, thong thả, không bị câu thúc, ràng buộc. Nó muốn cái ǵ đẹp mắt, cái ǵ vui tai, cái ǵ ngon miệng, vân vân . . . Quí bạn suy nghĩ th́ biết, chẳng lẽ nói trắng ra, chớ gọi là sự nhu cầu của xác thịt mà ch́u theo nó.

         Phải tập cho nó có tánh siêng năng, rồi mới giúp đỡ kẻ khác được và không bê trễ trong những công việc hằng ngày.

         Phải bắt buộc nó tuân theo mạng lịnh của ḿnh, phải làm những điều ḿnh muốn và hạp với chánh lư.

         Phải bảo nó làm cái nầy, cái kia cho có thói quen làm những điều lành, điều phải. Nó có thói quen tốt sau mới điều khiển nó dễ dàng. Tỷ như việc công phu mỗi ngày như: tụng kinh, gơ mơ, đánh chuông, thắp nhang đúng giờ khắc vân vân.

         Chúng ta đừng quên điều nầy: Nếu chúng ta không giúp ai th́ chắc chắn không ai giúp chúng ta cả. Ấy là Luật Nhân Quả. Phải t́m dịp giúp người, chẳng những t́m dịp mà phải bày ra cơ hội nữa. Phải có sáng kiến làm những việc phước thiện.

         Thí dụ: Có một ḍng nước nhỏ ngăn cách hai con đường. Hành khách muốn qua bờ bên kia th́ phải dùng xuồng. Vậy ta phải kêu gọi những nhà hảo tâm chung đậu một số tiền để làm một cái cầu bắc ngang qua ḍng nước. Như vậy xe cộ và người bộ hành qua lại rất tiện lợi.

         Một xóm kia, dân chúng đông đúc mà trẻ con không có trường học, ta hăy xin chính quyền mở những lớp dạy chúng nó.

         C̣n thiếu chi việc khác nữa, nhất là ở các công sở, mỗi ngày đều có nhiều dịp giúp người.

         Nếu ta gặp một người đui mù cầm gậy ḍ đường th́ chớ ngần ngại mà không dắt y tránh những cây cối và xe cộ. Hay chạy mua thuốc men cho người cô đơn đang đau, hăy an ủi người buồn rầu nếu ta làm được việc đó

         Ta có đủ phương tiện mà không thực hành những điều nhỏ mọn như thế th́ ta chưa làm chủ được xác thân ta và tánh t́nh ta mà chuyện xả thân độ đời c̣n rất xa xôi đối với ta.

         Chơn Sư có nói với một vị đệ tử của Ngài như vầy: “Giờ phút nào mà con không lo giúp đời th́ giờ phút đó đối với ta, nó đă mất rồi.”

 

CÁCH NUÔI DƯỠNG XÁC THÂN

         Xác thân con vốn là con thú của con nuôi, con ngựa của con cưỡi. Bởi thế, phải đối đăi với nó cho tử tế và phải săn sóc nó cho kỹ lưỡng. Đừng bắt nó làm quá sức, phải nuôi nó cho đúng phép với những đồ ăn tinh khiết và giữ ǵn cho nó thật sạch sẽ luôn luôn, đừng dung dưỡng một mảy bợn nhơ, bởi v́ nếu không có một xác thân tinh khiết và tráng kiện th́ không thế nào con thực hành nổi những công việc khó khăn. Trong lúc tập luyện để được vào đường Đạo, con không chịu đựng nổi những nỗ lực cần thiết và tái diễn măi.

         Vậy th́ thân con phải vâng theo mạng lịnh của con luôn luôn, chớ không phải con ở dưới quyền sai khiến của nó.

         Ta có một con ngựa, muốn cưỡi nó đi xa th́ ta phải nuôi dưỡng nó tử tế. Mỗi ngày cho nó ăn uống no đủ và săn sóc nó kỹ lưỡng. Như thế, nó mới có sức mạnh cho ta đi ngoài trăm dặm trên con đường hành hương dài thăm thẳm.

         Xác thân ta đâu khác con ngựa ta cưỡi, ta phải nuôi nó cho đúng phép vệ sinh và cho nó dùng những đồ ăn tinh khiết.

 

NHỮNG THỰC PHẨM TINH KHIẾT

 

         Ở đây Chơn Sư dùng hai chữ Tinh Khiết chớ không nói là “Bổ dưỡng”.

         Thịt cá bổ dưỡng song người học Đạo không dùng bởi v́ nó chứa những chất độc gọi là purines, nó c̣n đem đường cho nhiều chứng bệnh hiểm nghèo như: ung thư,  đau ruột,  kiết lỵ, dịch tả. Một lẽ khác là máu huyết, xương thịt thú vật đều chứa đựng từ điển và tánh nết của nó. Vô ḿnh chúng ta th́ máu huyết, xương thịt và từ điển thú vật biến thành máu huyết, xương thịt, và từ điển của chúng ta [[16]]. Tánh nết chúng nó sẽ nhiễm tánh nết chúng ta. V́ thế, thân thể chúng ta không được tinh khiết, mặc dầu thịt là đồ ăn bổ dưỡng thật.

 

THỰC PHẨM NÀO TINH KHIẾT

 

         Chỉ có các thứ trái cây, sữa thảo mộc [[17]] và các thứ rau thường dùng mới thuộc về loại thực phẩm tinh khiết. Tuy nhiên nên biết rau trái cũng như các thứ thuốc, có người hạp với thứ nầy, có người hạp với thứ kia.

         Phải ra công học hỏi xác thân coi món nào hạp với nó và loại ra những món nó không ưa thích.

         Điều hay hơn hết là phải ăn gạo lứt và muối đen [[18]] mới đúng phép. Đừng ăn thường gạo trắng quá, mất hết cám là chất bổ dưỡng nhất mà có ngày phải mang bệnh thủng.        

 

MỘT CÁCH NẤU GẠO LỨT RẤT DỄ

 

         Nấu như thường. Nhưng khi cơm sôi th́ lấy đủa bếp quậy cho đều. Phải chịu khó quậy nhiều lần. Chừng cơm chín, hột gạo thật mềm, ăn rất ngon.

 

PHẢI ĂN CHAY

 

         Xét về bộ tiêu hóa, nhất là hàm răng và ruột th́ con người thuộc về loài thú ăn cỏ như trâu ḅ, chớ không phải thú ăn thịt như: cọp, beo, chồn, sói.

         Muốn giữ đúng phép vệ sinh th́ phải ăn chay. Nhưng có một điều nên tránh là:

         Người ăn mặn chớ nên nhạo báng người ăn chay là khờ dại.

         Mà người ăn chay cũng đừng tưởng rằng ḿnh tinh khiết và cao hơn người ăn mặn.

         Ai ăn được cái chi th́ cứ ăn, miễn là lo trau giồi tâm tánh cho thật tốt là điều hay hơn hết. Ngày sau sẽ chọn lựa thực phẩm thích nghi.

 

CHAY L̉NG VÀ CHAY MIỆNG

 

         Có người bảo: Chay ḷng hơn chay miệng. Lời nầy rất đúng, bởi v́ có người chay ḷng mà không chay miệng, có người chay miệng mà không chay ḷng. Nếu chay miệng mà tánh t́nh c̣n xấu xa hung bạo, ích kỷ, [[19]] tật đố, không biết thương xót người nghèo khó, bệnh tật th́ c̣n thua xa những người ăn mặn mà ḷng dạ rất nhân từ, chân chánh, thành thật. Luôn luôn chay miệng và chay ḷng phải đi đôi với nhau, hiệu quả mới hoàn toàn tốt đẹp.

         Quả thật ăn chay [[20]] rất khó và phải biết cách ăn. Khó là tại cả ngàn đời rồi tổ tiên ta dùng thịt cá, chừng sanh ta ra nuôi ta với thịt cá, cho nên trong ḿnh ta máu huyết đă nhiễm mùi thịt cá. Hơn nữa, trừ ra vài trường hợp đặc biệt th́ tất cả nhân loại đều dùng thịt cá. Thế nên không phải dễ đương ăn mặn mà bỏ đi rồi ăn chay liền, trừ ra những người có sẵn căn lành nhiều kiếp trước.

         Không biết cách ăn th́ có thể sẽ yếu đuối, phát đau rồi bỏ chay ăn mặn lại như trước.

         Ư chí phải cứng cỏi, phải cương quyết trường chay và tập lần lần như :

         Một năm đầu: Sớm mai mặn, chiều chay.

         Năm sau: 6 tháng đầu: 15 ngày chay, nữa ngày mặn; 6 tháng sau: 2 tháng chay, nữa ngày mặn.

         Qua năm thứ ba: trường chay được.

         C̣n vài cách khác nữa, tùy tiện.

         Nếu không Tự Giác (tức là ích kỷ) th́ làm sao Giác Tha được. Kẻ đui dắt người mù th́ có bữa cả hai té xuống mương rạch chết hết. Chỉ có sửa đổi mục đích là để quyền lợi lớn lao của toàn thể trên quyền lợi nhỏ nhít của cá nhân th́ tánh ích kỷ sẽ biến thành tánh vị tha và kết một bè Từ đưa con người qua bờ Giác .

         Nói cho tột lư, tất cả chúng ta đều ích kỷ, không nhiều th́ ít, nhưng phải tập tánh ích kỷ cao thượng, bỏ tuyệt thói ích kỷ thấp hèn.

 

SỰ ÍCH LỢI CỦA THỰC PHẨM TINH KHIẾT

         Ta nên biết: Trong Trời Đất vật nào cũng rung động và do sự rung động mà thành h́nh. Hai thứ rung động đồng một bực với nhau th́ rút lại với nhau.

         Thân thể dùng thịt cá có một cách rung động chậm chạp và thu hút những thần lực thấp thỏi hạp với nó.

         C̣n người trường chay th́ máu huyết trong sạch, cho nên có một cách rung động mau lẹ, thu hút được những thần lực thanh cao, đồng bản tánh với nó. Thân thể lần lần trở nên nhẹ nhàng.

         Đây là nói về phương diện huyền bí, nhưng cũng nên biết phải trường chay từ 21 năm sắp lên mới thấy hiệu quả tốt. Tại sao thế?

         Bởi v́ mỗi kỳ 7 năm, da thịt và xương cốt ta mới thay đổi trọn vẹn một lần. Phải 14 năm trường chay th́ tế bào mới bắt đầu đổi ra mới hết.

 

PHẢI CÓ TIẾT ĐỘ

 

         Phải có điều độ trong việc ăn uống. Không nên ép xác, không nên ăn ít quá mà cũng không nên ăn quá sức chịu đựng của dạ dày.

         Bất câu việc nào cũng vậy, đi quá mức trung b́nh th́ có hại. Theo đúng nguyên tắc: đói mới ăn, khát mới uống. Không đói đừng ăn, không khát đừng uống.

 

KHÔNG NÊN HÚT THUỐC VÀ UỐNG RƯỢU

 

         Đừng hút thuốc và phải tránh xa các thứ ma túy, chúng làm hại Xác Thân, cái Phách và cái Vía.

         Rượu, dưới h́nh thức nào cũng đừng uống. Nó làm hại các tế bào trong óc, các dây thần kinh, dạ dày, gan, ruột, phổi. Đáng sợ hơn hết là rượu làm hại hai cục hạch quí nhất ở trong óc, ấy là hạch mũi (Corps pituitaire) và hạch óc (Glande pinéale).

         Sưng hạch mũi,con người mắt mở trao tráo mà không thấy đường

         C̣n hư hạch óc tư tưởng không chuyển di được.

         Phải biết rồi mới sợ và nhất là phải tiết dục, sự giao hợp vô chừng mực hại xác thân thác sớm và bạc nhược.

 

XÁC THÂN LÀ THỂ RẤT KHÓ ĐIỀU KHIỂN

 

         Trong 7 thể của Con Người th́ xác thân là thể được cấu tạo hoàn toàn nhất.

         Nhưng mà, các nhà Huyền Bí Học đều nói rằng nó rất khó điều khiển v́ một mặt phải làm cho nó nhạy cảm, một mặt nó phải lănh đạm với những điều thấp hèn. Hai việc dường như trái ngược nhau. Phải bền chí và cố gắng mới thành công.

 

CÁI VÍA [[21]] HAY TINH QUANG THỂ (Corps Astral)

 

         Cái Vía của con có nhiều sự ham muốn đếm tới cả chục có đầu. Nó muốn thấy con giận hờn, nghe con nói những tiếng nặng nề, nó muốn thấy con ganh gổ, tham lam, thèm muốn của cải người ta và ngă ḷng rủn chí. Nó muốn mấy điều đó và c̣n nhiều việc khác nữa. Không phải nó có ư hại con, song tại nó ưa những sự rung động dữ dội và thay đổi măi măi.

         Trong mấy việc đó con không muốn việc nào cả, bởi vậy con phải phân biệt ư muốn của con với ư muốn của cái Vía.

         Đoạn nầy kể ra tánh nết không được tốt của cái Vía.

         Thiết tưởng chúng ta nên t́m hiểu tại sao cái Vía lại có mấy tánh đó.

         Có thể nói rằng: Cái Vía không có ư hại Con Người, nó không biết Con Người là ai nữa.

 

TIẾNG NÓI CỦA CÁI VÍA VÀ CÁI TRÍ

 

         Cái Vía có tiếng nói ư? Mới nghe qua thật là kỳ dị, nhưng quí bạn hăy thí nghiệm điều nầy:

         Quí bạn hăy ngồi không, đừng suy nghĩ hay tưởng nhớ ǵ cả trong hai phút thôi. Thời gian nầy chưa trôi qua mà quí bạn đă nghe trong ḷng có tiếng nhắc nhở quí bạn muốn cái nầy, cái kia, nhớ những chuyện qua rồi hay lo những việc sẽ tới.

         Tiếng nói đó không phải là tiếng nói của quí bạn, bởi v́ quí bạn không tưởng nghĩ cái chi cả. Tiếng nói đó cũng không phải là tiếng nói của Lương Tâm, bởi v́ quí bạn có làm cái chi sái quấy mà bị Lương Tâm quở trách.

         Tiếng nói đây là tiếng nói của cái Vía hay là của cái Trí tùy theo trường hợp.

         Có kinh nghiệm như vậy mới thấy mấy thể khác hơn Con Người.

 

TẠI SAO CON NGƯỜI ĐỒNG HÓA VỚi CÁI VÍA?

 

         Cái Vía là một Thể, nó có sự ham muốn của nó. Nó cũng quỉ quyệt vậy. Đứng riêng rẽ một ḿnh, nó không làm ǵ được. Nó không đáng sợ. Nhưng nó biết rằng: nếu nó cấu kết được với cái Trí th́ sự ham muốn của nó sẽ được thỏa thích và tăng cường thêm.

         V́ vậy, nó thuyết phục cái Trí, rồi hai Thể nầy xúi giục Con Người thực hành những điều chúng nó ham muốn.

         Nếu Con Người chưa phận biện được điều nào thật là ư muốn của ḿnh, c̣n điều nào là ư muốn của cái Vía hay là của cái Trí th́ sẽ làm theo lời chúng nó xúi biểu. Con Người tưởng rằng điều đó là ḿnh muốn nên mới thực hành.

         V́ vậy mới có chuyện bị Lương Tâm [[22]] quở trách và có sự ăn năn, hối hận.

         Xin hiểu ở đây Con Người là Phàm Nhơn, chớ chưa phải là Chơn Nhơn hay là Linh Hồn, song phải dùng danh từ Con Người để dễ hiểu.

 

TÁNH CON NGƯỜI

 

Tánh Con Người là ǵ ?

         Ấy là thói quen rung động hay là tánh nết của ba Thể: Thân, Vía, Trí chớ không có chi lạ.

Người nầy th́ nói: Tánh tôi hay nóng.

Người kia th́ bảo: Tánh tôi hay buồn.

Nói như thế th́ các bạn đó đồng hóa với cái Tánh của ḿnh.

         Nóng nảy, giận hờn, buồn bực là những cách rung động khác nhau của cái Vía. Mấy tánh không tốt đó làm hại cơ thể Con Người rất nhiều như tim, phổi, gan, thận song ít ai ngờ điều đó.

         Hăy coi người nóng giận có khi đỏ mặt, có khi xanh mặt tùy theo hạng người. Sự hổ thẹn hay sự sợ sệt cũng vậy, làm cho trái tim hồi hộp. Sợ quá trái tim ngừng đập th́ chết liền, mà mừng quá cũng phương hại như vậy.

 

CÁCH TINH LUYỆN CÁI VÍA

 

         Muốn tinh luyện cái Vía th́ phải tập luyện những tánh tốt, song nên nhớ: phải bền chí và phải biết phương pháp.

         Nếu không thành tâm th́ e cho trọn đời cũng không tập được một tánh tốt và diệt trừ được một tánh xấu. Thật đúng là :

Giang san dễ đổi.

Tánh nết khó thay.

         Xin nhắc lại: Nền tảng của Đạo là Đức. Không có Đức không học được Chánh Đạo. Chơn Sư chỉ thâu nhận làm đệ tử những sinh viên hạnh kiểm tốt và lo mưu hạnh phúc cho quần sanh. Dầu cho có tài kêu mưa hú gió, chỉ đá hóa vàng mà không hội đủ những điều kiện do luật Trời qui định th́ không thể nào bước vào Cửa Đạo được.

         Tôi xin đưa ra 12 đức tánh sau đây [[23]] làm kiểu mẫu, quí bạn có thể sửa đổi tùy theo sở thích của quí bạn, nhưng đức tánh đầu tiên là Từ Bi Bác Ái phải tập trước nhất. Bởi v́ không có ḷng Từ Bi Bác Ai th́ mấy tánh kia dầu có đi nữa chúng cũng giống như nước đổ xuống cát bị rút đi mất hết.

                                       12 đức tánh đó là:

              1.- Từ Bi Bác Ái                      7.- Thăng bằng

              2.- Bố Thí                              8.- Thanh Khiết

              3.- Chân Thật                         9.- Tự Tín.

              4.- Kiên Nhẫn                        10.- Can Đảm

              5.- Khoan Dung                     11.- Hy Sinh

              6.- Khôn Khéo                       12.- Phụng Sự

 

         MỖI THÁNG TẬP MỘT ĐỨC TÁNH, TRỌN NĂM HẾT 12 ĐỨC TÁNH. Qua năm sau tập lại như năm rồi. Khởi sự tháng nào cũng được chớ không phải đợi tới tháng giêng mới tập đức tánh thứ nhất.

         Tập được từ 12 năm trở lên mà không gián đoạn th́ hoàn toàn đổi mới và thành một vị Thiện Nhân. Tâm trí càng ngày càng thêm sáng suốt và mở rộng hơn trước. Rồi từ đó, trọn đời, mỗi ngày cứ tưởng đến đức tánh phải tập.

         Mười hai đức tánh nầy biến thành những tánh t́nh của ta. Kiếp sau, khi tái sanh, ta có sẵn những mầm của 12 đức tánh trong ḷng, người ta gọi là Thiên phú.

         Thiên phú không phải là Trời cho như nhiều người lầm tưởng, nhưng chúng do sự luyện tập của Con Người kiếp trước.

         V́ thế cho nên ta mới thấy tánh nết của đứa trẻ nầy khác hơn tánh nết của đứa trẻ kia, nhưng nói một cách tổng quát : tánh tốt th́ ít mà tánh xấu th́ nhiều.

 

PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP

 

         Mỗi sớm mai khi thức dậy, rửa mặt mày xong xuôi th́ ngồi lại trên ghế hay trên ván cũng được, rồi suy nghĩ như vầy:

         Thí dụ : Sao là TỪ BI BÁC ÁI?

                      Tại sao phải có ḷng TỪ BI BÁC ÁI?

                      Tôi phải làm cách nào để giúp đỡ những người đau ốm bệnh hoạn, tật nguyền, đói rét, cô đơn, già yếu, những người thất nghiệp dốt nát, khờ dại, những trẻ côi cút không ai đoái hoài,vân vân .

Rồi tự ḿnh t́m giải đáp mấy câu hỏi nầy.

Mấy tánh kia cũng tập như vậy.

 

THỰC HÀNH

 

       Suy nghĩ đến tánh nết chưa đủ, phải đem nó ra thực hành khi có cơ hội đưa đến.

         Mỗi ngày, thiết tưởng không thiếu chi trường hợp để mở rộng ḷng nhân, chẳng hạn trong lúc ta làm việc tại công sở, tư sở hoặc là khi đi đường.

         Càng có kinh nghiệm th́ càng giúp ích được nhiều và càng trở nên khôn khéo hơn trước. Như trước đây tôi đă nói: chỉ có thói quen. Phải tập cho có thói quen làm những việc cao quí, tốt đẹp, ngày sau sẽ hành động dễ dàng không ngần ngại.

 

SỰ CẢM XÚC Ở TRONG CÁI VÍA

CHỚ KHÔNG PHẢI Ở TRONG XÁC THÂN.

 

         Mấy lời nầy làm ngạc nhiên những bạn chưa học Đạo, vậy tôi xin đem những thí nghiệm của ông Hector Durville ra đây để chứng minh.

 

NHỮNG THÍ NGHIỆM CỦA ÔNG HECTOR DURVILLE

VỀ NGŨ QUAN

         Trong quyển Cái Vía và quyển Đạo Lư Thực Hành tôi có thuật những thí nghiệm của ông Hector Durville về ngũ quan. Ở đây tôi xin tóm tắt câu chuyện đó mà thôi.

 

1- VỀ XÚC GIÁC ( SỰ ĐỘNG DẠNG )

         Ông Hector Durville thâu thần đồng tử rồi cho cái Vía của y xuất ra khỏi xác và ngồi trên cái ghế cách xa đó từ 1 tới 3 thước.               

         Ông làm một cái h́nh nhân bằng sáp để trong cái Vía. Chất Thanh khí làm cho cái Vía dính vô h́nh nhân một ít.

         Bây giờ lấy kim châm chích trong ḿnh đồng tử th́ đồng tử không biết đau. Trái lại, chích h́nh nhân chỗ nào th́ trong ḿnh đồng tử đau chỗ đó.

         Có một lần, viên thư kư của ông Hector Durville bỏ h́nh nhân vô túi, tính đem về nhà để học. Anh nầy để h́nh nhân ngoài cửa sổ rồi quên đi. Lúc đó, nhằm tiết trời đông lạnh lẽo vô cùng. Đồng tử đang ở trong nhà y phát lạnh run, cứ đắp mền và cho uống rượu mạnh cũng không ấm. Trọn 5 ngày đồng tử nằm liệt trên giường. Qua ngày thứ sáu anh bớt lạnh mới lại hỏi ông Hector Durville. Viên thư kư mới sực nhớ anh bỏ quên h́nh nhân ngoài cửa sổ. Ông Hector Durville hối anh chạy về nhà lấy. Chừng anh đem h́nh nhân lại, đồng tử để h́nh nhân trên ngực trong 10 phút, thân ḿnh ấm áp như cũ, v́ cái Vía anh rút hết chất thanh khí đă dính trong h́nh nhân.  

 

2- THỊ GIÁC ( SỰ THẤY ).

 

         Thí nghiệm cuối tháng 10 /1907  từ 5 giờ tới 6 giờ trong tối.

         Cô đồng Edmee xuất vía rồi ngồi trên ghế cách cái xác lối 3 thước.

         Lần thứ nhất ông Gaston Durville đưa sau ót cái vía cô đồng một cái đồng hồ.

         Cô đồng nói: Tôi thấy một vật trắng và tṛn, nó chạy như một cái máy, nó làm ra tiếng. Ấy là tiếng tíc tắc của một cái đồng hồ lớn.

         Lần thứ nh́, ông đưa sau ót cái vía cô đồng một cái bao thơ dán kín.

         Cô đồng nói: Tôi thấy 2 vật tṛn như đồng xu.

         Hỏi: Có phải là tiền không? _ Phải. Màu ǵ? _ Màu vàng, nhưng không phải, ấy là màu vàng đỏ. Có phải là đồng xu không?

_ Không, ấy là vàng. C̣n ǵ nữa? _ C̣n bạc, ấy là những giấy bạc.

         Măn cuộc, người ta mở bao thơ ra trước mặt những người chứng. Người ta thấy 2 tấm giấy bạc và 2 đồng 20 quan bằng vàng.

 

3-  THÍNH GIÁC ( SỰ NGHE )

        

         Cô Marthe  xuất  vía  ra ngồi trên ghế dựa, cách cái xác lối một thước.

         Người ta để cái đồng hồ phía lỗ tai trái rồi phía trên bụng và dưới cẳng cái vía cô đồng. Cô đồng nghe rơ tiếng tíc tắc của đồng hồ chạy.

         Đem đồng hồ kê vào lỗ tai, phía sau ót, phía trên bụng và dưới chân của cái xác th́ cô đồng không nghe ǵ hết.

 

4- KHỨU GIÁC ( SỰ NGỬI )

         Cô Edmée xuất Vía ra.

         Bác sĩ Pau de Saint Martin kê vào lỗ mũi cái xác cô đồng ve nước đái quỉ ( ammoniaque ) gần một phút đồng hồ mà cô đồng không có cảm giác chi cả. Bác sĩ  liền kê ve nước đái quỉ vào lỗ mũi cái Vía th́ cô đồng lấy tay bịt mũi rồi nói: “Nó hôi quá !”

         Bác sĩ bèn cho cái Vía cô đồng ngửi dầu chanh (Bergamote) cô đồng nói: “Mùi nầy thơm.”

         Ông bèn kê ve dầu chanh vô lỗ mũi cái xác th́ cô đồng không biết mùi ǵ cả. Bác sĩ nói: “Tôi cho cô ngửi dầu thơm”, mà cô đồng trả lời: “Tôi không ngửi mùi ǵ cả”.

Lần thứ nh́ thí nghiệm với cái Vía của cô Léontine.

Lần thứ ba thí nghiệm với bà Vix.

Trong hai lần nầy cũng là cái Vía biết mùi, c̣n cái Xác không ngửi mùi ǵ hết.

 

5- VỊ GIÁC ( SỰ NẾM )

Ngày thí nghiệm : 12 Décembre 1907.

Đồng tử xuất Vía là cô Léontine.

         Ông Hector Durville để trong tay cái Xác cô đồng một miếng Lư Hội ( Alcès ) bảo cô đút vô miệng nhai rồi cho ông biết nó ngon không? Cô đồng Léontine nhai rồi nói: “Không có mùi vị chi hết”.

         Ông bèn lấy một vị thuốc đắng tên Quassin. Ông biểu cái Vía cô đồng hả miệng ra, ông đút miếng thuốc đó vô rồi biểu cô ngậm miệng lại. Ông hỏi: “Vị cô ngậm ra sao?”. Cô trả lời: “Nó không ngon, đắng quá!”.   

         Ông để vô miệng cái Vía miếng Lư Hội. Cô đồng nói: “Nó không ngon, nó đắng lắm”. Ông lấy miếng Lư Hội ra, ông cho cái Xác cô đồng ngậm th́ cô đồng nói: “Không có mùi vị chi cả” [[24]] .

 

TẠI SAO NGÀY NAY KHÔNG AI LẬP LẠI NHỮNG THÍ NGHIỆM NẦY?

 

         Đọc đoạn nầy rồi chắc chắn có bạn thắc mắc tại sao ngày nay không có ai lập lại được những thí nghiệm của ông Hector Durville? V́ lư do nào các nhà khoa học giữ thái độ im lặng về vấn đề đó?

         Tôi xin trả lời liền:

         Phải là nhà Huyền Bí Học lăo luyện về phép thâu thần mới làm cho cái Vía xuất ra khỏi Xác rồi hiện h́nh được. Trong lúc nầy phải dùng bùa phép bảo vệ cái Vía và Xác thân đồng tử, bởi v́ khi cái Vía hiện ra rồi, nó bị bịnh chỗ nào th́ Xác thân bị bịnh chỗ đó. Nếu sợi từ khí vô h́nh màu trắng bạc cột dính cái Vía với Xác thịt đứt ngang th́ con người chết tốt, không phương cứu chữa.

         Những bọn quỉ quái ở Trung Giới không ưa bên chánh đạo, họ chực sẵn để hăm hại, v́ vậy phải đề pḥng từ chút. Hiện giờ, ngoài đời khắp hoàn cầu chưa có một ai tài giỏi như ông Durville. Không ai dám mạo hiểm làm những điều quá sức tưởng tượng để rước những sự thất bại và mang tai họa vào thân nếu đồng tử chết ngay trong lúc thí nghiệm.

         Một lẽ khác nữa là các nhà bác học cứ t́m kiếm trong ṿng vật chất, không tin có Linh Hồn là phần Tinh Thần, là sự Sống, cứ đinh ninh Xác thân là Con Người, thác rồi tan ra tro bụi, có chi gọi là Luân Hồi và Nhân Quả. Thuyết Vô Thần là nguyên nhân của những sự hỗn loạn và những sự đau khổ ở cơi Trần hiện giờ.

         Ngày nay, khắp hoàn cầu có nhiều nhà Bác Học khảo cứu khoa Pháp Môn Huyền Bí. Các Ngài thâu thập được nhiều kết quả tốt đẹp song giữ thái độ im lặng, v́ không thế nào trưng ra những bằng chứng cụ thể như những thí nghiệm trong pḥng hóa học.

         Những luật chi phối mấy cơi trên khác hẳn những luật vật lư hồng trần: Không thế cân lường hay đo được; quan sát với con mắt thường th́ lầm ngay, dầu dùng những kiếng hiển vi phóng đại tới cả triệu lần cũng không thấy được những nguyên nhân của những sự vật hiện hữu đó, chúng vốn ở những cơi vô h́nh. Phải dùng mắt Thánh ở trong mấy thể cao siêu hơn xác phàm mới thấy rơ.

         Dầu sao, các nhà Đạo Đức rất cám ơn ông Hector Durville, v́ những sự thí nghiệm của ông chứng chắc những cảm giác, những sự ham muốn, những sự đắm mê, những dục t́nh vốn ở trong cái Vía, chớ không phải ở trong xác thân như bấy lâu nay người ta lầm tưởng.

         Những sự rung động ở ngoại giới theo ngũ quan vô cái Phách, rồi qua cái Vía. Cái Vía mới biến đổi chúng ra cảm giác và truyền qua cái Trí. Cái Trí phân tách, chọn lọc, rồi làm ra một khái niệm.

         Mới nghe qua tưởng là lâu lắm, nhưng ba thể: Thân, Vía, Trí xỏ rế với nhau và liên lạc mật thiết. Những sự rung động từ thể nầy truyền qua thể kia mau như chớp nháng, có thể nói nhanh hơn tốc độ của ánh sáng, tức là hơn 300.000 cây số trong một giây đồng hồ.

         Ai có kinh nghiệm rồi th́ biết: “Thật ta là con người”, ta khác với những thể của ta dùng và nên cố gắng khắc phục chúng nó.

 

CÁI TRÍ ( Corps Mental )

 

         Cái Trí của con vui thích với tư tưởng kiêu căng, chia rẽ. Nó kiếm thế cho nó là cao thượng và coi thường kẻ khác.

         Khi con bắt buộc nó không quan tâm tới những việc trần được rồi th́ nó cũng c̣n rán gom tất cả về cho bản ngă của con; nó giục con chú ư tới sự tiến hóa riêng của con, thay v́ lo nghĩ đến công việc của Chơn Sư và giúp đỡ kẻ khác.

         Khi con Thiền định, nó rán giục con tưởng đến những chuyện khác mà nó cần dùng, nó phá hoại chuyện duy nhất mà con đang lo giải quyết đây. Con không phải là cái Trí đó đâu, mà nó vốn thuộc về của con để cho con sử dụng. Vậy th́ ở đây sự phân biện rất cần thiết, con phải giữ chừng luôn luôn, bằng không th́ sẽ thất bại.

         Chúng ta thường nói: Tôi tưởng cái nầy, tôi tưởng cái kia. Thật ra trong 10 lần, hết 9 lần cái Trí tưởng chớ không phải ta tưởng. Ta tưởng có một lần thôi.

         Phải tập cho được việc kiểm soát tư tưởng mới biết điều mới nói trên đây thật là đúng. Ngày nào ta chưa làm chủ được cái Trí th́ ngày đó, tư tưởng ở ngoài vô Trí ta hồi nào ta không hay, nó ở bao lâu rồi ra đi ta cũng không biết.

         Cái Trí lanh lẹ lắm. Nó giống như con bướm, mới đáp xuống bông nầy rồi th́ bay qua bông kia liền. Nó đâu có khác đứa con nít nhỏ, không ngồi yên một chỗ được lâu. Phải chạy đầu nầy, đầu kia, múa tay múa chân. 

         Tại sao vậy?  Ấy tại chất khí làm ra cái Trí gọi là chất Thượng Thanh Khí hay là chất Trí Tuệ rung động mau lẹ vô cùng. Bởi thế cái Trí rất lau chau.

         Trên Đường Đời hay trong Cửa Đạo, bắt buộc cái Trí và cái Vía vâng theo mạng lịnh sai khiến của ḿnh th́ học hỏi mới mau thông, kiến thức mới mở mang sâu rộng và tâm tánh mới mau trở nên tốt đẹp.

         Muốn làm chủ cái Trí, công việc đầu tiên là phải tập Định Trí. Phải tập trung tư tưởng vào công việc đang lo, dầu cho cái Trí xúi giục ta nhớ tới cái nầy, cái kia, cũng đừng nghe theo nó, đừng làm theo lời nói của nó.

 

                              MỘT CÁCH ĐịNH TRÍ DỄ DÀNG 

 

         Có nhiều cách định trí, nhưng có một cách dễ hơn hết do Trời phú cho ta là: lo lắng công việc hằng ngày. Đừng cho cái Trí xao lăng.

         Nếu ngồi viết th́ cứ lo viết, quét nhà cứ lo quét nhà, rửa chén cứ lo rửa chén, giặt đồ cứ lo giặt đồ, vân vân. Phải chú ư vào công việc đang làm và làm một việc thôi. Xong việc nầy rồi mới bắt qua việc khác. Trong lúc làm việc đừng nói chuyện tầm phào, đừng để cái Trí vẩn vơ.

         Đừng cho việc làm nào đó nhẹ thể, không xứng đáng cho ḿnh làm. Công việc nào cũng thiêng liêng cả. Quả thật tại cơi Trần nầy có việc lớn, có việc nhỏ, tuy nhiên tánh cách làm việc mới là quan trọng v́ nó tăng hay là giảm giá trị con người.

 

NÊN BIẾT NHỮNG PHẢN ỨNG CỦA CÁI TRÍ

 

         Cũng nên biết những phản ứng của cái Trí. Nó rất lẹ làng không ai ngờ được. Khi nó nghe một tiếng động hay thấy một vật ǵ đi qua th́ muốn t́m hiểu tiếng đó hay là vật đó liền.

         V́ thế, nếu chưa định trí được, chưa sửa trị cái Vía được th́ khoan nói tới việc tham thiền.

         Mới vừa ngồi xuống th́ cái Vía đ̣i hỏi những điều nó ham muốn, c̣n cái Trí th́ bắt buộc ta nhớ Đông, nhớ Tây, nhớ Nam, nhớ Bắc, như vậy th́ dầu cho ngồi tới 30 ngày, chớ đừng nói nửa giờ cũng không có kết quả tốt đẹp nào hết.

         V́ mấy lẽ nầy mà Chơn Sư mới căn dặn Alcyone phải đề pḥng từ li, từ tí. Đừng để bị cái Trí lôi cuốn mà quên điều phải thực hành.

         Dầu ở trường hợp nào, sự phân biện cũng cần thiết.

         Phải làm như tên lính canh, mắt ngó 4 phương, tai nghe 8 hướng, không được phút nào xao lảng.

         Đây là ḿnh tự canh chừng ḿnh, chớ không phải giữ ǵn của cải cho ai. Đừng ơ hờ mà sẽ thất bại.

                                 

TÁM GIAI ĐOẠN CỦA RAJA YOGA

 

         Raja Yoga có 8 giai đoạn mà Định Trí Dharana thuộc về giai đoạn thứ sáu.

         Tám giai đoạn nầy là:

1)- Yama: Giới

2)- Niyama: Luật

3)- Asana: Tư  thế

4)- Pranayama: Điều tức

5)- Pratyahara: Kiểm soát giác quan

6)- Dharana: Định Trí      

7)- Dhyana: Tham thiền   ( 3 giai đoạn chót nầy gọi là Samyama)

8)- Samadhi: Đại định     

        

         Trước hết phải giữ  Giới, Luật. Không trau giồi hạnh kiểm, không bao giờ học được Chơn Truyền. Sinh viên tánh nết thật tốt rồi, Đạo Sư mới dạy các Tư thế và Điều tức.

         Tôi xin lập lại một lần nữa là: hơi thở của con người liên quan mật thiết với hơi thở của Thượng Đế, tức là hơi thở của Vũ Trụ.

         Mỗi người, tùy theo Cung Mạng đều có hơi thở khác nhau. Những tế bào trong ḿnh đều theo chiều hướng của hơi thở. Phải là một vị Đạo Sư có Huệ Nhăn mới thấy và biết hơi thở của sinh viên theo chiều hướng nào.

         Sửa đổi sái cách th́ đứt mạch máu ở trong óc, trong phổi, sẽ thành phế nhân hay là bỏ mạng.

         Hăy xem gương của Brahma trong quyển “Ấn Độ Huyền Bí” (L’Inde secrète) dịch là “Đông Phương Huyền Bí” trang 50, anh suưt bỏ mạng v́ coi theo sách luyện tập hơi thở một ḿnh. Tôi nói đây là thở theo Hatha Yoga, c̣n thở theo môn thể dục Âu Tây th́ không hại chi cả.

Phải đi từ chỗ thấp đến chỗ cao, từ chỗ dễ đến chỗ khó.

Nói cho đúng, Yoga là một cách luyện Đạo như tập vơ nghệ.

         Luyện tập Yoga không cần hạnh kiểm. Biết phương pháp và bền chí th́ thành công và rồi sẽ có những quyền năng phi thường.

         Phương pháp đây là phương pháp bí truyền, c̣n những tư thế Yoga vẽ ở trong sách để bán vốn thuộc về công truyền, nhưng có  nhiều tư thế rất nguy hiểm.

 

MUỐN GIÚP CƠ TẠO HÓA TH̀ PHẢI ĐÀO TẠO

THANH NIÊN LÚC C̉N BÉ THƠ

 

         Ta biết rằng: muốn bước vào cửa Đạo, đức tánh đầu tiên phải luyện tập cho kỳ được là Tánh Phân Biện. Phải biết việc nào là lành, việc nào là dữ mới chọn lựa được điều Chánh, bỏ điều Tà.

         Chuyện nầy đâu có phải là chuyện dễ làm, bởi v́ ba thể: Thân, Vía, Trí của ta, mỗi thể đều có một thói quen riêng biệt, làm ra tánh nết của nó, chúng thành cứng đầu, cứng cổ, ngổ nghịch vô cùng, không dễ sửa trị chúng nó trong vài ngày hay vài tháng đâu.

         Vậy muốn giúp Cơ Tiến Hóa th́ điều hay hơn hết là phải giáo dục trẻ em lúc chúng c̣n thơ ấu, v́ những lư do nên biết sau đây:

         Hài nhi không có cái Vía và cái Trí như lúc trưởng thành. Hai thể nầy là hai ṿng hào quang trong trẻo, chưa thành h́nh. Chúng thu hút những ư muốn, tư tưởng, t́nh cảm và lời nói của người như bông đá hút nước.

         Đừng quên rằng: ư muốn và t́nh cảm là đồ ăn nuôi cái Vía, cũng như tư tưởng là đồ ăn của cái Trí. Tiếc thay ! Những đồ ăn nầy thường thường là không tốt, bởi v́ trong số 1.000 tư tưởng, ư muốn và t́nh cảm th́ dám chắc hết 950 thứ rất tồi tệ; 45, 46 thứ vừa vừa, c̣n lại 4, 5 thứ gọi là khá. Họa may trong 100.000 tư tưởng mới có một tư tưởng thật tốt.

         V́ vậy có thể nói rằng: Mầm những tánh xấu trong ḷng đứa nhỏ bị tư tưởng và t́nh cảm đê tiện nuôi dưỡng nên phát triển mau lẹ, c̣n mầm những tánh tốt ít có đồ ăn nên dường như khô héo.

         Như vậy, lớn lên đứa nhỏ làm sao thành một vị thiện nhân được.

         Mầm những tánh nầy ở đâu mà ra? Các bạn sẽ hỏi thế.

         Tôi xin nói: Chúng là kết quả những tánh của con người tạo ra hồi kiếp trước và có ghi bằng những lằn rung động trong ba phần tử sau đây:

         Một là: Hột lưu tánh nguyên tử hay là nguyên tử trường tồn của Xác thân (Atome permanent physique).

         Hai là: Hột lưu tánh nguyên tử hay là nguyên tử trường tồn của cái Vía (Atome permanent astral).

         Ba là: Phân tử trường tồn của cái Trí ( Molécule permanente mentale ou unité mentale ).

         Vấn đề nầy cực kỳ khó khăn, xin quí bạn nhớ hai điểm chánh nầy:

 

ĐIỂM  THỨ  NHẤT

 

         Sau khi con người thác rồi một ít lâu, ba thể thấp Thân, Vía, Trí (Hạ Trí) đều tan ră, nhưng:

         1)- Xác thân để lại một nguyên tử gọi là nguyên tử trường tồn ghi bản tánh tốt, xấu và những sự kinh nghiệm của Xác thân.

         2)- Cái Vía để lại một nguyên tử gọi là nguyên tử trường tồn ghi bản tánh tốt, xấu và những sự kinh nghiệm của cái Vía.

         3)- Hạ Trí để lại một phân tử gọi là phân tử trường tồn ghi bản tánh tốt, xấu và những sự kinh nghiệm của Hạ Trí.

         Ba phần tử nầy xỏ xâu vào một sợi dây làm bằng chất Bồ Đề gọi là Su-trắt-ma ( Soutratma) và vô nằm trong Thượng Trí.

 

ĐIỂM  THỨ  NH̀

 

         Ngày sau, đúng kỳ con người đi đầu thai lại cơi Trần một lần nữa th́ ba phần tử nầy hoạt động trở lại như trước.

         Các Thiên Thần coi theo ba phần tử nầy mà tạo ra ba thể: Thân, Vía, Trí của hài nhi. V́ Luật Nhân Quả mà ba thể mới nầy đồng bản tánh với ba thể kiếp trước. Thế nên trong Đạo Đức mới nói: Kiếp nầy là kết quả của kiếp trước, c̣n kiếp sau là kết quả của kiếp nầy.

         Phải gieo trồng giống tốt kiếp nầy th́ kiếp sau mới gặt hái quả lành.

         Nhưng cũng phải đề pḥng hoàn cảnh, v́ thường thường hoàn cảnh tốt đào tạo đứa nhỏ ra người tốt, c̣n hoàn cảnh xấu đào tạo đứa nhỏ ra người xấu, v́ tư tưởng và t́nh cảm truyền nhiễm [[25]]   

         V́ mấy lẽ trên đây mà phải nuôi dưỡng hài nhi và trẻ con trong một bầu không khí thanh bai, yên tịnh, dịu dàng để mầm những tánh tốt đâm chồi, mọc nhánh mau lẹ, c̣n mầm những tánh xấu khô héo lần lần.

         Chuyện Mạnh Mẫu chọn xóm ba lần cho con ở, nhờ vậy thầy Mạnh mới thành một vị Á Thánh là gương sáng để cho muôn đời sau soi chung.

         Ở đời muốn trị bịnh phải trị tận gốc, nếu trị cái ngọn th́ bịnh có thể hết trong một thời gian, nhưng sau sẽ phát sinh lại như trước.

         Nguồn gốc của các tội lỗi là ư muốn xấu xa của ba thể: Thân, Vía, Trí. Thế nên Chơn Sư mới dạy Alcyone “Đừng lầm lộn các thể của con với con . . . . . . Con phải biết chúng nó hết và con tự biết con là chủ chúng nó.”

 

CỘI RỄ DANH TỪ TAM ĐỘC: THAM, SÂN, SI.

 

         Tiện đây, tôi xin nói vài lời về THAM, SÂN, SI mà Phật Giáo gọi chung là TAM ĐỘC.

         Danh từ Tam Độc không phải do Phật Giáo bày ra nhưng vốn dịch ba chữ Phạn: Raga, Dosa và Moha.

         Raga: Pháp dịch là Désir – Sự ham muốn, Tàu dịch là Tham.

         Dosa: Pháp dịch là Colère, haine – Giận hờn, oán ghét; Tàu dịch là Sân. Có thể dịch là Sân hận.

         Moha: Pháp dịch là Erreur, illusion – Sự lầm lạc, ảo mộng, huyễn tưởng; Tàu dịch là Si, ngu si, mê muội, không thấy lẽ chánh, theo đường tà, tà kiến.

         Tham, Sân, Si ở đâu mà ra?

         Tham, Sân, Si là tánh xấu của ba thể: Thân, Vía, Trí. Người ta cũng gọi những tánh xấu nầy là Tam Bành Lục Tặc.

         Xác thân ham ăn uống, ngủ nghê, ưa chơi bời tục làTham và Si.

         Cái Vía mê sắc, tham tài, ưa nóng nảy, giân hờn, tục là Tham, Sân và Si nữa.

         Cái Trí tánh kiêu căng, phách lối, chia rẽ, không biết phục thiện, không định vào một chỗ cho lâu, bày mưu sâu kế độc hại người, gây ra những quả xấu, tức là c̣n Sân, c̣n Si và c̣n Mê . 

         Ba thể:Thân, Vía, Trí khi c̣n thô tục th́ gây ra muôn vàn tội lỗi cho Con Người. Sau khi Tinh Thần Hóa chúng nó rồi th́ chúng nó là chiếc Bè Từ đưa Con Người qua Bờ Giác.

 

THAM THIỀN ĐĂ CÓ TỪ THUỞ KHAI THIÊN TỊCH ĐỊA

 

         Nhiều nhà tu hành tưởng rằng tham thiền vốn của Phật Giáo bày ra. Không phải thế. Tham thiền không phải phát sanh từ Phật Giáo, Ấn Giáo hay là Ai Cập Giáo. Nó đă có từ thuở Khai Thiên Tịch Địa mà cũng có thể nói trước lúc đó nữa. Bởi v́ trước khi sanh hóa Thái Dương Hệ nầy, Đức Thượng Đế của chúng ta đă suy nghĩ rồi sắp sẵn một bản đồ gọi là Thiên Cơ, trong đó có ghi rơ ngày giờ sanh hóa các Dăy Hành Tinh và nhân vật ở trên mấy dăy đó, từ Thiên Thần, Con Người cho tới các loài khác, cùng là mức độ tiến hoá của chúng.

         Như thế không có cái chi gọi là sự ngẫu nhiên cả. Quí bạn đọc rồi suy nghĩ th́ sẽ rơ. 

         Bằng chứng sự tham thiền có từ thuở Khai Thiên Tịch Địa đă ghi trong quyển “Ánh Sáng Á Đông” ( La lumière de L’Asie ), đoạn Đức Phật thuyết pháp cho vua cha là Tịnh Phạn Vương nghe lúc Ngài trở về Ca-Bi-La Quốc. Tôi xin chép đoạn đó cho các bạn xem.

         “Om ! Amitaya ! Chớ nên ướm thử dùng lời nói mà đo cơi vô biên hay là nhúng dây tư tưởng vào cơi vô tận. Người hỏi cũng lầm mà người trả lời cũng lầm vậy. Đừng nói chi hết.”

         Kinh sách dạy rằng: Trước khi vạn vật sinh ra th́ chỉ có một ḿnh Phạn Vương trầm tư mặc tưởng mà thôi. Nhưng chớ nên suy gẫm đến Phạn Vương hay là một ánh sáng nào cả, cái Trí người phàm cũng không hiểu được. Những màn lần lượt vén lên, cái nầy rồi tới cái kia. Phải có những bức màn và sau những bức màn nầy th́ có những bức màn khác. Các ngôi tinh tú cứ vận hành mà không hỏi han chi cả. Miễn là sự sanh, sự tử, sự buồn, sự vui, cái nguyên nhân và cái hậu quả c̣n lại là đủ rồi.

               

III – ĐIỀU LÀNH VÀ ĐIỀU DỮ (Le bien et le mal)

 

         Khoa Pháp Môn không hề công nhận sự thỏa hiệp giữa việc lành và việc dữ đâu. Với bât cứ giá nào con cũng phải làm việc lành, con không nên làm việc ác, để mặc t́nh kẻ dốt nói cái chi hay tưởng cái chi cũng được. Hăy học hỏi cho sâu rộng những Luật Trời c̣n ẩn tàng [[26]] . Chừng con biết rồi, con hăy tổ chức đời sống của con đúng y như những luật đó và luôn luôn con phải dùng lư trí và lương tri.

         Nếu thành thật xem xét việc đời th́ ta thấy rơ đời sống của con người gồm lành và dữ pha lẫn nhau: lành cũng có, dữ cũng có, nhưng phải công nhận rằng cái dữ nhiều hơn cái lành.     

         Chơn Sư căn dặn Alcyone làm những điều thiện, chớ không nên làm những điều ác. Thật sự, luôn luôn người ta sợ dư luận, dầu biết đó là phải có khi cũng không dám làm, hoặc là làm mà không được trọn vẹn hay là sửa đổi một ít cho hợp với thời thế.

         Ở đây vẫn phải phân biện, đừng hạ thấp lư tưởng cao siêu, phải tiến lần lên từ kiếp nầy qua kiếp kia, nhất là, xin lập lại một lần nữa v́ điều nầy rất cần thiết, ḿnh phải tự biết ḿnh để bồi bổ những chỗ khuyết điểm.

         Trong kinh Upanishad có câu nầy:

         “ Điều lành là một việc, sự vui là một việc khác nữa. Hiền Nhân chuộng điều lành hơn sự vui”.

 

NHỮNG LUẬT TRỜI C̉N ẨN TÀNG

 

         Trong 7 cơi Trời, từ cơi Tối Đại Niết Bàn cho tới cơi Trần, luật Trời vẫn hành động, mà cơi nào Luật nấy.

         Tại cơi Trần, chúng ta khám phá và học hỏi được một số Luật Trời, nhưng chúng ta chỉ mới biết có vài phương diện, c̣n nhiều phương diện khác chúng ta chưa tri ra. Có thể nói tất cả những Luật Trời đều ẩn tàng đối với chúng ta c̣n tai phàm mắt thịt. Phải mở những quan năng cao siêu như Thần Nhăn, Thiên Nhăn, Huệ Nhăn mới thấy sự hành động của Luật Trời.

         Hiện giờ chúng ta thấy nhiều sự việc hiện ra trước mắt, nhưng chúng là hậu quả chớ không phải là nguyên nhân. Nguồn cội phát sanh chúng nó ở cơi nào ta không biết, mà có lẽ có việc đă khởi sự hồi ba, bốn, hay là năm, sáu ngàn năm trước rồi.

         Hoàn toàn bí mật.

         Những Luật Trời ẩn tàng hằng hà sa số. Đối với tŕnh độ tiến hóa hiện thời của chúng ta, chúng ta mới biết chút ít về những luật sau đây:

         1)- LUẬT SANH HÓA               10)- LUẬT TƯƠNG ỨNG (correspondance)

         2)- LUẬT TIẾN HÓA              

         3)- LUẬT TIẾT ĐIỆU               11)- LUẬT TƯƠNG QUAN(rapport mutuel)

         4)- LUẬT CHU KỲ gọi là           

               LUẬT TUẦN HOÀN            12)- LUẬT PHÁT TRIỂN TÂM THỨC

         5)- LUẬT NHÂN QUẢ               

         6)- LUẬT LUÂN HỒI               13)- LUẬT DI TRUYỀN 

         7)- LUẬT HY SINH                 14)- LUẬT THAY H̀NH ĐỔI DẠNG.      

         8)- LUẬT THĂNG BẰNG                                                 

         9)- LUẬT TƯ TƯỞNG                             

         C̣n nhiều nữa, trên đây chỉ là những luật chánh có thể gọi thông thường, tức là ai ai cũng có thể hiểu và học hỏi một cách tổng quát.

          Muốn thật hiểu rành rẽ những luật nầy th́ phải mất mấy chục hay mấy trăm kiếp, chớ không phải chỉ trong một thời gian ngắn ngủi vài chục năm là đủ.

         Muốn tiến mau th́ người chí nguyện phải biết ba điểm chánh sau đây:

         1)- Một là: Mục đích sự sanh hóa Thái Dương Hệ và sự thành lập 7 cơi Trời.

         2)- Hai là: Ḿnh tự biết ḿnh.

                a)- Bản tánh thiêng liêng của Con Người.

                b)- Chơn Thần và 7 thể của nó.

                c)- Sự liên quan mật thiết giữa 7 thể và 5 cơi Trời: từ cơi Niết Bàn xuống tới cơi Trần.

                d)- Phương pháp tinh luyện ba thể: Thân, Vía, Trí.

                e)- Luật Tư Tưởng, Luật Nhân Quả, Luật Luân Hồi, Luật Hy Sinh.

         3)- Ba là: Phụng sự với tấm ḷng Vị Tha không mưu cầu tư lợi.

         Xin nhắc lại: Thuyết Đạo dễ, Hành Đạo khó. Không hành Đạo th́ không bao giờ Đắc Đạo.             

         Phải phân biện việc trọng hệ với việc không trọng hệ.

         Đối với sự lành và sự dữ th́ ḷng con phải cứng cỏi như sắt đá, c̣n những việc ít trọng hệ th́ khá nhân nhường cho kẻ khác luôn luôn. Bởi v́ con phải ở cho dễ thương, tử tế, khôn ngoan, biết điều, ḥa nhă và để cho thiên hạ có quyền tự do bằng quyền tự do mà con yêu cầu cho con vậy.        

         Chơn Sư nhấn mạnh về sự phân biện điều trọng hệ và điều không trọng hệ, v́ đây là một việc hết sức khó.

         Khi ta chưa tiến hóa cao, chưa kinh nghiệm nhiều th́ có những việc ta cho là trọng hệ, nhưng thật sự chúng là việc nhỏ nhoi.

         Tỷ như việc cúng kiến, lễ bái, thờ phượng, tín đồ cho mấy điều nầy là quan trọng, nhưng quên rằng mấy điều đó là h́nh thức bên ngoài, chúng có  lợi ích riêng  của chúng, nhưng không cứu rổi được ḿnh.

         Cách giải thoát cho ḿnh được là Tấm Ḷng Trong Sạch và sự thi hành tất cả những phương tiện đề mưu hạnh phúc cho quần sanh và diệt thói ích kỷ, hại nhân.

         Đối với những nguyên tắc th́ ta phải giữ đúng qui luật, như trường chay, tinh luyện tánh t́nh chẳng hạn. C̣n về những tín ngưỡng th́ phải rộng ḷng khoan dung, ai muốn tin chi th́ cứ tin, cứ tự do. Không phải ta lănh đạm, nhưng v́ bởi không nên đụng chạm tới đức tin của kẻ khác. Luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ khi thấy điều đó cần thiết mà không can thiệp, không gây ra những trở ngại, không kích bác.

         Phải có thiện cảm, phải biết dung ḥa, phải khôn khéo trong sự hành động th́ dắt dẫn kẻ khác rất dễ dàng.

         Chắc chắn trong chúng ta đă có người chứng kiến chuyện nầy:

         “Một anh kia nắm dây dàm kéo một con ḅ, nó dơng đuôi lên tŕ lại. Anh càng kéo, càng đánh, nó càng tŕ và qú xuống. Một người khác thấy vậy bảo anh kia đừng đánh nữa. Y lại ṿ đầu con ḅ, nói ngọt với nó, vài phút sau con ḅ đứng dậy riu ríu đi theo chủ nó”.

         Đây cũng là một bài học cho chúng ta về cách điều khiển. Có lúc nhu thắng cang, nhược thắng cường, phải xử sự cho khéo léo. Tùy trường hợp, có lúc cương, lúc nhu chớ không phải cứng rắn măi.

         Ở vào hoàn cảnh nào, kẻ chí nguyện cũng phải cương quyết làm lành, chớ không bao giờ làm ác; giúp được người th́ giúp, không giúp được th́ thôi, chớ không có hại người bao giờ, dầu người đời cho là ngu dại cũng mặc.

         Hăy t́m kiếm coi việc nào đáng làm và con phải nhớ rằng không nên coi theo giá trị bề ngoài của những sự việc mà xét đoán chúng nó. Thà làm một chuyện nhỏ mọn mà hữu ích liền cho công việc của Chơn Sư c̣n hay hơn làm một việc lớn lao mà thế gian gọi là tốt. Chẳng phải phân biệt cái nào hữu ích với cái nào vô ích là đủ, mà phải biết cái nào hữu ích nhiều với cái nào hữu ích ít.

         Ngoài những công việc bổn phận hằng ngày, t́m một việc đáng làm th́ hết sức khó. Có tiêu chuẩn nào giúp ta biết được việc nào đáng làm, c̣n việc nào không đáng làm chăng?

         Nhưng ta có thể nói rằng: việc đáng làm, việc có ích nhiều là việc lành, làm lợi cho mọi người, chớ thường thường việc nào đem lại cho người ta nhiều quyền lợi vật chất th́ người ta cho là tốt đẹp, dầu tánh cách nó ác độc thế nào cũng mặc. Người đời đánh giá trị của mọi sự việc theo phương diện bên ngoài.

         Trái lại, giảng giải đạo đức cho người ta biết cái chi giúp cho Cơ Tiến Hóa th́ cái đó mới hữu ích cho công việc của Tiên Thánh, bởi v́ các Ngài phụng sự Thượng Đế. Biết được luật Trời, người ta mới tránh được các tội lỗi, v́ vô minh nên hành động không được khôn ngoan.        

          Nuôi kẻ nghèo là một việc tốt, cao quí và hữu ích. Nhưng mà nuôi linh hồn mấy người đó lại c̣n hữu ích và cao quí hơn nữa. Người nào giàu cũng nuôi xác thịt được hết mà duy có một ḿnh người hiểu biết mới nuôi được linh hồn.        

         Đoạn nầy làm cho nhiều người hiểu lầm rằng: Chơn Sư chỉ dạy chúng ta chú trọng đến phần hồn chớ không lo cho phần xác.

         Không phải thế, Ngài đă nói nuôi kẻ nghèo là một việc tốt, cao quí và hữu ích. Ngài không hề bảo ta bỏ rơi những người nghèo khổ, đói khó, tật nguyền, đau ốm, bệnh hoạn, cô độc, không ai săn sóc đoái hoài.

         Chúng ta phải góp phần với chính phủ trong việc lập những dưỡng đường, những cô nhi viện, những nhà dưỡng lăo.

         Về phương diện cá nhân, ta phải bố thí tùy phương tiện, tùy duyên, tùy phận, tùy trường hợp. Ta chia sớt những sự đau khổ của những kẻ xấu số, nạn nhân của những trận thiên tai, băo lụt, hỏa hoạn, chiến tranh, loạn lạc, cướp bóc.

         Phải nói trắng ra, mặc dầu ta không được bỏ qua một việc phước thiện nhỏ nhoi nào cả, nhưng không phải ta chỉ lo lắng có bao nhiêu đó mà thôi.

         Phận sự chánh của Người Biết Đạo là phải lo Khai Sáng cho Đời tức là phải lo mở mang Phần Tinh Thần của nhân loại. Tại sao thế?

         Bởi v́ Con Người không biết Luật Trời, làm những việc chẳng lành, bị những sự phản ứng trả lại gọi là Mắc Quả Báo, cho nên mới chịu đau khổ. Nếu biết Cơ Trời, tuân theo Thiên Ư th́ tránh được những sự rối rắm đưa tới.

         V́ thế, chỉ bảo cho Con Người biết Luật Trời và mở mang Phần Tinh Thần là điều cần thiết nhất.

         Nếu Con Người sanh ra trên Thế để lớn lên, lo lập thân danh, có gia đ́nh rồi chờ ngày nhắm mắt từ giả cơi Trần, và chỉ có bao nhiêu đó thôi th́ cuộc đời không có mục đích ǵ cả.

         Đinh ninh rằng Con Người là xác thân nầy th́ không đúng, bởi v́ sau khi thác rồi, xác thân tan ră mà Con Người vẫn sống, vẫn hiểu biết như hồi c̣n sanh tiền [[27]].  

         Bằng chứng là Hồn Ma hiện ra và người ta chụp h́nh được. Người và Ma cũng chuyện văn thân mật với nhau. Các báo Thần Linh Học khắp hoàn cầu đều có đăng những mẫu chuyện như thế. Không ai chối căi được điều nầy, mặc dầu không dùng Luật Vật Lư Hồng Trần cắt nghĩa được sự hiện h́nh của Hồn Ma.

         Bây giờ ta hăy thử nghĩ: Nếu có Ma th́ xác thân nầy không phải thật là Con Người rồi.

         Vậy th́ Con Người là ai?

         Và tại sao cũng đồng loại là Con Người với nhau mà có những sự khác biệt lớn lao về nhiều phương diện như: H́nh Vóc, Tâm Tánh, Tri Thức và Thân Thể nữa?

         Mấy vấn đề nầy cực kỳ quan trọng mà cũng cực kỳ khó khăn. Chúng thuộc về những Luật Vô H́nh gọi là Luật Tiến Hóa, Luật Luân Hồi, Luật Nhân Quả và Bản Tánh Thiêng Liêng của Con Người.

         Giải quyết được chúng cho đúng lư th́ thức tỉnh được Sự Sống Thiêng Liêng trong Con Người, nói một cách khác cho dễ hiểu là Con Người tự biết ḿnh là Chơn Thần ( hoặc nói ḿnh là Linh Hồn hoặc là Chơn Nhơn cũng được), c̣n xác thân chỉ là khí cụ để cho ḿnh dùng mà thôi.

         Hiểu như thế th́ mới phá tan được bức màn vô minh đă án mắt Con Người không cho thấy rơ sự thật, biết rơ sự thật.

         Bức màn Vô Minh là những ảo ảnh do vật chất hóa ra.

         Chỉ tới chừng đó thôi, người ta mới biết: Nuôi Linh Hồn Con Người mới cao quí hơn nuôi xác thịt và duy có sự hiểu biết Cơ Tiến Hóa mới nuôi được Linh Hồn của người nghèo khổ cũng như Linh Hồn của người giàu sang vậy.

         Đây là chữa bệnh con người ngay cái gốc chớ không phải chữa cái ngọn.         

         Nếu con hiểu biết rồi th́ bổn phận con phải giúp kẻ khác giác ngộ. Nhưng dầu con đă khôn ngoan thế mấy đi nữa, con cũng c̣n nhiều điều phải học hỏi trong đường Đạo. Bây giờ đây c̣n thiếu chi điều con phải học hỏi. Vậy th́ con phải phân biện và chọn lựa cho thật kỹ càng điều nào đáng ra công học hỏi; sự hiểu biết nào cũng hữu ích và một ngày kia con sẽ hiểu biết tất cả. Mà khi nào con biết có một phần th́ con phải giữ ǵn làm sao cho phần đó hữu ích hơn hết. Đức Thượng Đế vốn Minh Triết và cũng là Từ Bi: Hễ con càng được Minh Triết nhiều chừng nào th́ Ngài càng dễ hiện ra nơi con nhiều chừng nấy. Vậy th́ con phải học hỏi nhưng mà trước hết con tua học hỏi môn nào để giúp cho con hữu ích với thiên hạ hơn hết.

         Khi ta sáng suốt rồi, bổn phận ta phải giúp cho kẻ khác được sáng suốt như chúng ta vậy. Phật đă dạy: “Tự giác nhi giác tha.”

         Hăy xem xóm ta ở. Chỉ có một cái nhà của ta có đèn thắp sáng rỡ, c̣n mấy nhà khác có đèn, có dầu mà không có lửa nên ở trong tối. Ta hăy đem đèn của ta mồi đèn cho nhà kế cận, rồi nhà kế cận mồi đèn cho những nhà khác. Chẳng bao lâu, cả xóm đều sáng không c̣n ai ở trong chốn tối tăm nữa.

         Đây là sự giúp đỡ về phần tinh thần cũng như sự giúp đỡ về phần vật chất.

         Chơn Sư đă nói: “Tại sao lại ích kỷ nếu có những điều có thể học được, thấy được và cần ích cho tương lai của Con Người th́ tại sao không cho kẻ khác có dịp may như con.”

         Ở đây Ngài dạy Con Người phải diệt tánh ích kỷ.

         Đạo là gia tài thiêng liêng, của chung của nhân loại, tới một ngày kia ai ai cũng biết Đạo. Cũng như Thần Nhăn, ngày sau, khi nhân loại tiến đến mức độ khá cao th́ ai cũng có Thần Nhăn, chớ hiện giờ, trên thế gian, người có Thần Nhăn rất hiếm.

         Thật là biển học vô biên [[28]]. Càng học chừng nào mới càng thấy ḿnh tối tăm, dốt nát chừng nấy. Trong mỗi địa hạt: Văn chương, Khoa học, Mỹ thuật đều chia ra nhiều môn. Chỉ học một môn thôi, e cho trong đời cũng chưa thấy thật là giỏi. V́ thế, Chơn Sư mới dặn Alcyone học môn nào mà hữu ích nhiều hơn hết. Tôi tưởng môn đó là Khoa Bí Truyền tức là Minh Triết Thiêng Liêng, bởi v́ nó khai mở Tâm và Trí một lượt. C̣n các khoa học khác mở Trí mà không mở Tâm, cho nên thập phần nguy hiểm như việc chế ra những hỏa tiển, những bom nguyên tử, bom khinh khí và các loại vũ khí mới khác mong kềm hăm Thế Giới trong Bàn Tay Sắt của bọn hiếu chiến.

          Khi học Đạo rồi mới thấy sự thông minh ở ngoài đời thuộc về vật chất, khác hơn sự sáng suốt trong đường Đạo thuộc về Timh Thần. Sự thông minh ở ngoài đời cũng cần thiết song một ḿnh nó chưa đủ, phải có sự sáng suốt của Tinh Thần điều khiển nó. C̣n không biết bao nhiêu điều cần phải học hỏi trong đường Đạo mới phá tan được bức màn vô minh.        

         Tỷ như sự sanh sản các tế bào trong ḿnh con người.

         Tại sao các tế bào hiệp lại để làm một cơ thể mà cơ thể nầy khác hơn cơ thể kia và phận sự ai nấy làm? Tại sao tất cả lại chung sức làm ra một thân ḿnh, trong khi đó trái tim nhảy điều ḥa, đưa máu chạy khắp châu thân để nuôi dưỡng xác thân? Thật là hoàn toàn bí mật.

         Hăy tưởng tượng coi: một tinh trùng và một noăn châu hiệp lai thành một người, nam hay nữ, từ lời ăn tiếng nói, tóc tai cho tới màu da tánh t́nh, ngu độn hay khôn ngoan đều khác nhau; người nước nào lại nói tiếng nước nấy. Thử hỏi: trên thế gian có một người nào đủ tài thực hành nổi việc nầy không?

         Nếu có một cái đồng hồ chạy đúng giờ khắc mà nói không có anh thợ làm ra cái đồng hồ th́ là một điều rất phi lư, không thể chấp nhận được.

         Trước đây tôi đă nói: Chỉ trong Đường Đạo mới dạy đúng với thực tế sự sanh hóa Thái Dương Hệ và các loài vật, c̣n ở ngoài đời chỉ đưa ra những giả thuyết mà thôi.

         Thật ra, hiện giờ chúng ta đang học một cách bất toàn những ǵ mà Đức Thượng Đế đă tạo ra 6, 7 ngàn triệu năm trước và c̣n tạo thêm nữa.

         Chúng ta thâu thập được nhiều kết quả, nếu so sánh với mấy thế kỷ trước, th́ chúng rất tốt đẹp.

         Nhưng mà 6, 7 trăm năm sau, chắc chắn cháu chít chúng ta sẽ cho chúng ta c̣n vụng về, v́ khoa học ngày nay càng phát triển. Chưa biết tới chừng nào nó mới nói: “Đây là mức cuối cùng của sự tiến hóa”.

         Dầu sao chúng ta cũng cần phải học hỏi Sự Sống hay là Tinh Thần, v́ Sự Sống mới thật có quyền năng sanh hóa và c̣n măi với thời gian. Trái lại, vật chất và h́nh hài tới một ngày kia sẽ tan ră. Cát bụi phải trở về với cát bụi. Đừng quá tŕu mến nó mà làm mất thăng bằng là Luật Điều Ḥa của Vũ Trụ. 

         Phải bền ḷng chăm chú vào sự học hỏi của con, không phải để cho kẻ khác tưởng con là khôn ngoan, mà cũng không phải ư muốn được hưởng hạnh phúc v́ đă khôn ngoan, nhưng mà bởi v́ người khôn ngoan mới có thể giúp đời một cách khôn khéo. Dầu con có chí lớn giúp đời thế mấy đi nữa, nếu con dốt nát th́ chắc sao con cũng sẽ làm hại nhiều hơn là làm lợi.

         Lời khuyên bảo nầy rất hữu ích. Chúng ta phải lo học hỏi, dầu tới tuổi nào cũng cần phải học để mở mang kiến thức. Có học hỏi rộng sâu mới biết phân biện sự lành và sự dữ, sự phải và sự quấy, điều nào là Chân lư, điều nào là dị đoan.

         Nên đọc những sách và báo chí nói về khoa học, triết học và mỹ thuật để coi Chân lư hiện ra cách nào trong ba môn đó và nếu có thể th́ đưa ra những sự phát minh mới mẻ của khoa học để chứng minh rằng những lời dạy của Huyền Bí Học vẫn đúng với sự thật. Tỷ như dùng thuyết Nguyên Tử giải hai chữ “SẮC KHÔNG” của Phật Giáo.

         Có người bảo: Chớ nên xem sách Tôn Giáo khác, v́ sợ làm mất đức tin của ḿnh.

         Tôi lại nghĩ khác:

         Nếu sách của Tôn Giáo ḿnh giải toàn là Chân Lư th́ dầu cho ḿnh đọc cả ngàn quyển sách của các Tôn Giáo khác cũng không sợ đức tin của ḿnh bị lay chuyển, v́ không có chi phá tan Chân Lư được. Tỷ như luật Luân Hồi, Nhân quả. Đây là hai Đại Chân Lư c̣n măi đời đời kiếp kiếp. Không ai sửa đổi chúng nó được, mặc dầu chúng nó cũng như mặt trời có thể bị mây mù che lấp trong một thời gian, song chẳng bao lâu cũng chói sáng lại như cũ.

         Trái lại, nếu những kinh sách của Tôn Giáo ḿnh nói những chuyện dị đoan, phi lư, ép buộc tín đồ vào một khuôn khổ và nhắm mắt tin càn kinh điển th́ lẽ tự nhiên những tà thuyết sẽ bị chánh lư đánh đổ. Đức tin mù quáng sẽ bị phá vỡ, chẳng kiếp th́ chầy, không thể nào tránh khỏi.

         Thật ra, ta nên xem những sách giải về Chân Lư mà thôi, nhưng ở Việt Nam hiện giờ, những sách thuộc về loại nầy rất hiếm.

         Ở Ấn Độ có những sách do những nhà Hiền Triết hay là những Cao Đồ Chơn Sư viết bằng Phạn Ngữ hay Anh Ngữ giải thích những Chân Lư cao siêu. Một số lớn sách Phạn Ngữ đă được dịch ra Anh Ngữ c̣n những sách Anh Ngữ cũng được dịch ra Pháp Ngữ và vài thứ tiếng nước khác như Đức Ngữ, Ư Ngữ . . . .

         Phải thông thạo Anh Ngữ hay Pháp Ngữ mới xem những quyển đó được. Tuy nhiên cũng cần có một vị Sư Huynh giải rơ những chỗ khó khăn mới hiểu nổi. Nếu tŕnh độ văn hóa thấp thỏi [[29]], kiến thức eo hẹp, không hiểu được ư nghĩa của những Thánh Kinh th́ sự hành động sẽ không được khôn ngoan, sáng suốt; như vậy không thế giúp ích cho các bạn mến Đạo được.

         Đáng sợ hơn hết là sự mê tín, sau sẽ biến thành cuồng tín, nếu không chận đứng kịp thời th́ hậu quả sẽ vô cùng khốc hại.

         Chơn Sư dạy Alcyone phải hiếu học, v́ người thông minh mới giúp ích được một cách khôn khéo, chớ không phải để cho người ta khen ngợi ḿnh là siêng năng, giỏi giắn. Ở đây Chơn Sư muốn ngăn ngừa tánh kiêu căng của con người, thường khoe rằng ḿnh giỏi hơn, ḿnh hay hơn kẻ khác . Phải sợ cái Trí, nó rất quỷ quyệt, nó có đủ những lư lẽ để thuyết phục con người nghe theo nó.

         Nhưng c̣n một điều nữa nên giữ chừng là khi hiểu được những Chân Lư cao siêu th́ chớ nên khinh bạc sự học hỏi c̣n bị giới hạn của thế tục. Những sự hiểu biết nầy là một mặt của Chân Lư hiện ra tùy hoàn cảnh và thời gian. Chúng rất hữu ích cho những người c̣n cần dùng chúng nó. Nhưng cũng đừng tưởng rằng Vật Chất thực tế hơn Tinh Thần vốn vô h́nh. Cho nên phải trọng nó và loại ra những ǵ mà giác quan không nhận thức được. Điều nầy là một sự lầm lạc đáng tiếc v́ Vật Chất và Tinh Thần mỗi thứ đều có sự hữu ích riêng của nó. Cả hai đều nương tựa lẫn nhau. Vật Chất là H́nh Thể c̣n Tinh Thần là Linh Hồn, là Sự Sống. Không có Sự Sống th́ H́nh thể sẽ tan ră, c̣n không có Vật Chất làm một lớp áo bao ḿnh th́ Tinh Thần không thể hiện ra.        

         Sự Sống tạo ra H́nh Thể và Vật Chất [[30]], mà H́nh Thể không tạo ra Sự Sống hay là Linh Hồn được.

         Phải biết sử dụng một cách khôn khéo Vật Chất và Tinh Thần th́ mới tiến mau.

 

IV - PHẢI HẾT SỨC NGAY THẬT (Sois absolument vrai)

        

         Phải biết phân biệt Sự Chơn với Sự Giả, phải làm sao cho hết sức đúng đắn trong tư tưởng, lời nói và việc làm.        

         Chơn Sư nhấn mạnh về việc phân biện Sự Chơn và Sự Giả bởi v́ luôn luôn tại ta không suy nghĩ cho chính chắn điều nào phải, điều nào quấy, nên mới bị lỗi lầm.

         Muốn biết Sự Chơn Thật trọng hệ là dường nào th́ hăy xem gương sau đây:

         Ta lấy một cây gậy thọc vô một châu nước. Ta thấy h́nh như cây gậy bị găy ngang chỗ nó chui xuống nước. Sự thật có phải như vậy hay không? – Không phải, ấy là tại con mắt ta bị sự thay đổi hoàn cảnh gạt gẫm. Ta thấy không đúng với sự thật.

         Quả thật là chúng ta đang sống trong một hoàn cảnh nửa giả dối, nửa chân thật. Ta thấy mọi vật một cách tréo ngoe, chúng ta nh́n xem tất cả xuyên qua một bầu không khí nửa đúng nửa sai. Thật là cực kỳ khó khăn.        

         Trước nhất là trong tư tưởng. Điều nầy không phải dễ đâu, v́ trong đời có biết bao nhiêu tư tưởng lầm lạc, có biết bao nhiêu sự dị đoan phi lư, hễ người nào để cho chúng nó chi phối th́ không bao giờ tiến hóa được. Bởi vậy cho nên chớ khá gọi một ư kiến nào là đúng đắn bởi v́ tại nhiều người đă cho nó là đúng đắn, hay là tại thiên hạ đă xét đoán nó mấy thời đại rồi, hoặc là thấy nó ở trong một cuốn sách mà người ta gọi là sách Thánh.

         Con phải dùng sự xét đoán riêng của con và con phải tự xét coi ư kiến đó có hữu lư không.

        

         Trong đời có không biết bao nhiêu tư tưởng lầm lạc, những sự dị đoan phi lư, không phải dễ mà sửa đổi đâu.

         Không những có những sự dị đoan mê tín trong tôn giáo mà trong địa hạt nào cũng có sự mê tín cả, cho đến khoa học cũng thế – khi cứ đinh ninh rằng khoa học vạn năng – bởi v́ khoa học c̣n quá chú trọng về vật chất, chưa công nhận có tinh thần, chưa truy ra được lư do sanh hóa các loài vật trên Địa cầu.

         Trong Thông Thiên Học cũng vậy, khi chúng ta nói: “Đức Bà Blavatsky nói như thế nầy, Đức Bà A. Besant và Đức Leadbeater nói như thế kia, hay là trong bộ Giáo Lư Bí Truyền đă viết như vầy nên tôi tin.” th́ không khỏi mang tiếng là tin dị đoan, bởi v́ chúng ta chưa kinh nghiệm được mấy điều đó.

         Tuy nhiên, chúng ta có thể tin được các Ngài v́ chúng ta biết các Ngài vẫn thành thật. Các Ngài tŕnh bày những điều các Ngài hiểu biết, nhưng không hề bảo ai tin cả.

         Đức Leadbeater có nói: “Tôi thấy Đức Thái Dương Thượng Đế của chúng ta, những vị Tinh Quân (Esprits planétaires), những Sứ Giả ở những Thái Dương Hệ khác tới viếng Thái Dương Hệ chúng ta, v́ có mục đích nào đó mà chúng ta không biết được.

         Người ta sẽ hỏi tôi: “Ông là ai mà nói những chuyện như thế? Nhưng tôi đă thấy, tôi phạm tội khiếp nhược nếu từ chối sự chứng nhận của tôi. Hỡi thế nhân! Dầu các anh đồng thinh phủ nhận sự hiện hữu của Ngài đi nữa, tôi cũng bỏ các anh mà giữ lấy Đức Tin của tôi.”

         Quả thật có nhiều Đại Chân Lư phải tin mới được. Như sự sanh hóa các cơi Trời, những thể của Con Người, sự liên quan giữa các thể và những cơi Trời, Luật Tư Tưởng, Luật Luân Hồi, Nhân Quả và Hy-Sinh.

         Cũng như bảng cửu chương, không học, không tin th́ làm sao làm toán nhơn được.

         Người học Đạo cũng như các sinh viên, ban đầu phải học những lư thuyết, sau lần lần lên bực cao rồi mới thí nghiệm được.

         Tin những lư thuyết nầy không phải là Mê Tín hay Tin Dị Đoan. Cũng đừng quên rằng: Sự Tin Dị Đoan ăn sâu vào bản tánh của con người. V́ vậy, sau khi được Điểm Đạo lần thứ nhất rồi, vị Đệ Tử phải lo trừ tuyệt thói Mê Tín và Tin Dị Đoan mới được Điểm Đạo lần thứ nh́.

         Trong sự giao thiệp hằng ngày, ta gặp nhiều bạn tu hành tánh t́nh rất tốt. Họ vui vẻ, nhân từ, sốt sắng làm những việc phước thiện, không quản công lao nhọc nhằn. Nhưng họ lại quá quí trọng sự thờ phượng, cúng kiến, lễ bái, tụng kinh, đọc kệ, không t́m hiểu ư nghĩa của mấy việc đó và cho rằng: “Chúng rất cần thiết cho sự Đắc Đạo.”

         Họ tiến về mặt công đức, mà không tiến về mặt tinh thần. Tục rằng: Họ tu Phước chớ không tu Huệ.

         Chơn Sư không hề nói: Những người c̣n tin dị đoan không tiến hóa được. Ngài bảo: “Đối với những người nào bị sự dị đoan chi phối mới không có sự tiến bộ.”

         Chi phối đây là hoàn toàn tin tưởng vào những chuyện dị đoan. Không chịu nghe chánh lư.

         Quí bạn suy nghĩ th́ thấy, không nên nói trắng ra. 

 

CHÁNH KIẾN

 

         Ngày nay, Chơn Sư lập lại đoạn văn nói về Chánh Kiến của Phật dạy những người Kalama 2.500 năm trước và có ghi trong bộ Kinh Tăng Nhất A Hàm (Kalama sutta de l’Anguttara Nikaya).

         Tôi xin tóm tắt những lời của Phật nói cho quí bạn nghe:

Khi xưa, những người Kalama tới đănh lễ Phật rồi hỏi: “Bạch Phật! Những người Bà La Môn và những người giáo phái khác thuyết cho chúng tôi nghe những giáo lư của họ. Ai ai cũng nói những điều của họ nói toàn là chơn lư cả. Bạch Phật! Chúng tôi rất bối rối, không biết phải nên tin hay bác bỏ, xin Phật dạy cho.”

         Phật bèn đáp: “Các ngươi không nên tin điều nào mà các ngươi chỉ nghe lập lại mà thôi; không nên tin những tục lệ di truyền từ đời nầy qua đời kia; không nên tin những sự đồn đăi; không nên tin những bài mà người ta cho là vốn của những vị Thánh Hiền thuở xưa viết ra; không nên tin những sự định dẹo; không nên tin những điều mà các người có thói quen quí chuộng; không nên tin những lời nào đó vốn của Thầy các ngươi hay là Sư huynh các ngươi đă nói.[[31]]

         Nhưng sau khi xem xét, kinh nghiệm và suy nghĩ chính chắn rồi mà thấy thuyết nào hợp với chánh lư và hữu ích cho mọi người th́ hăy công nhận nó và sống với nó.”

         Chí lư thay những lời Phật dạy trên đây! Nếu đem áp dụng vào lúc xem kinh kệ th́ sẽ mở trí phân biện và sẽ tránh được những điều mê tín dị đoan.

         Người học đạo, người chí nguyện lâu lâu nên kiểm soát những sự hiểu biết của ḿnh như vầy:

         Một là: những điều mà ḿnh thật hiểu biết v́ ḿnh đă học hỏi và kinh nghiệm.

         Hai là: Những sự hiểu biết của kẻ khác mà ḿnh nhận lấy làm của ḿnh.

         Ba là: Những điều mà ḿnh chưa biết.

         Chắc chắn những điều ta thật hiểu biết rất ít, những điều mà ta nhận lấy của kẻ khác rất nhiều. C̣n những điều mà ta chưa biết có thể hằng hà sa số, không kể xiết.

         Nếu ta thường kiểm soát những sự hiểu biết của chúng ta như vậy đó, th́ ta có thể hạ bớt tánh kiêu căng, tự phụ. Người học đạo luôn luôn thấy nhiều người khác thua ḿnh rất xa v́ họ ít khôn ngoan và không hiểu biết bằng ḿnh. Nếu không khắc kỷ th́ tánh ngạo nghễ càng ngày càng tăng. Thay v́ phải thương yêu họ và dạy dỗ họ để họ mau trở nên sáng suốt như ḿnh, th́ anh lại khinh khi họ. Đây là dấu hiệu của sự vấp ngă.

         C̣n về những nghi thức, những y phục phải mặc trong các ngày lễ, chúng ta phải tuân theo phong tục, đừng phản đối, chớ nên gây ra những điều phiền năo vô ích.        

         Con hăy nhớ rằng dầu cho cả ngàn người đồng tán thành một vấn đề nào đó đi nữa, nhưng mà nếu họ không biết cái chi trong đó hết th́ ư kiến của họ vẫn vô giá trị.        

         Những bạn nào có kinh nghiệm những việc xảy ra trước mắt hằng ngày, những bạn nào đă học qua lịch sử chiến tranh và suy nghĩ về những tín ngưỡng của các Tôn Giáo đều thấy rơ mấy lời của Chơn Sư nói rất đúng với sự thật. Không ích chi bàn rộng ra mà phải đụng chạm.        

         Người nào muốn đi trên đường Đạo th́ phải tập tự ḿnh tư tưởng, bởi v́ thói dị đoan là một trong những tai hại lớn hơn hết trên thế gian, một trong những chướng ngại phải hoàn toàn trừ khử mới được.        

         Nên biết rằng ngày nào ta chưa làm chủ được cái Trí, th́ ngày đó ta c̣n lấy tư tưởng của kẻ khác làm tư tưởng của ḿnh.

         Chơn Sư dạy vị đệ tử phải tự ḿnh tư tưởng hầu tránh những sự mê tín dị đoan. V́ tin dị đoan mới gây ra những sự khốc hại kéo dài ra măi, cái nầy sanh ra cái kia, rồi cái kia sản xuất ra cái nọ, cứ tiếp tục như vậy chưa biết tới chừng nào mới chấm dứt.

         Điều nào con suy nghĩ cho thiên hạ cũng phải đúng thật. Con không nên tưởng cho kẻ khác điều nào mà con không biết rằng: “Quả có thật”.        

         Thường thường ta nghe người nầy nói: “Ông X như thế nầy”, c̣n người kia nói: “Ông Y như thế đó”.

         Khoan vội tin. Biết đâu người nói về ông X hay ông Y chỉ nghe kẻ khác thuật lại, chớ thật sự anh chưa gặp ông X hay ông Y lần nào, chưa giao thiệp mà cũng không thấy những việc làm của ông X hay ông Y ra sao nữa.

         Như thế, sự xét đoán về ông X hay ông Y không hoàn toàn đúng với sự thật.

         Ta phải thấy sự hành động của ông X hay ông Y, không phải chỉ có một lần, mà phải nhiều lần mới có thể xét đoán được phần nào về tánh t́nh của ông X hay ông Y.

         Thế tục thường t́nh là:

Khi thương nước đục cũng trong,

Khi ghét nước chảy giữa ḍng cũng dơ .

         Chơn Sư dặn ta xét đoán hoàn toàn đúng với sự thật, điều nầy hết sức khó làm, bởi v́ ta chưa trọn sáng, trọn lành. Tốt hơn là: Tự ḿnh luôn luôn xét đoán ḿnh, chớ đừng xét đoán ai cả để sau ḿnh khỏi bị kẻ khác xét đoán lại, v́ Luật Nhân Quả Báo Ứng.

         Ḿnh tự xét đoán ḿnh th́ mới tự biết ḿnh. Mà tự biết ḿnh rồi mới có thể tiến mau.

         Hăy coi tai hại của tánh đa nghi. Người có tánh đa nghi là người mang kiếng màu để xem hoàn cảnh. Vạn vật đều thay đổi màu sắc. Người đa nghi cứ cho ḿnh là phải, c̣n người khác là quấy.Thấy cái trắng cũng cho là cái vàng hay là cái đen, gặp cái hay cũng cho là cái dở, vân vân. Không bao giờ thấy đúng sự thật. Không biết phục thiện, không biết nhận lỗi ḿnh. Ngày nào không phá vỡ lớp vỏ thành kiến nầy th́ ngày đó khó gặp Chân Lư.         

         Con đừng tưởng tượng rằng thiên hạ hằng nghĩ tới con luôn luôn. Nếu một người kia làm một việc ǵ mà con ngỡ là có hại cho con hay là nói một chuyện nào dường như có can hệ tới con th́ con chớ vội nghi rằng: “Người đó có ư nhục mạ tôi”. Có lẽ đúng hơn, là người đó không tưởng đến con chút nào, bởi v́ mỗi linh hồn đều có việc lo lắng riêng và thường thường chỉ lo cho một ḿnh ḿnh mà thôi.

         Nếu có một người nào nói với con giọng quạu quọ, nóng giận, th́ con chớ tự nói rằng: “Ngưới đó ghét tôi và muốn nhục mạ tôi”. Có lẽ thật, tại một người nào hay là một việc chi đó làm cho va giận và bởi tại va gặp con nên va mắng xối con cho đă nư giận. Người đó làm chuyện điên cuồng, bởi v́ sự giận hờn nào cũng là sự điên cuồng cả, nhưng không phải v́ cớ đó mà nghi quấy cho va.        

         Thiên hạ cứ tưởng tới cá nhân ḿnh luôn luôn. Họ ở tại trung tâm của một ṿng tṛn do những tư tưởng và t́nh cảm của họ tạo ra. Họ xét đoán kẻ khác do theo sự phản ứng của những tư tưởng và t́nh cảm nầy. Họ đi tới đâu, họ mang theo lớp vỏ nầy tới đó. Bởi họ quá ích kỷ nên tưởng ai ai cũng đều nghĩ đến họ cả.

 

ĐỨC LEADBEATER BỊ NGHI OAN

        

         Tôi xin thuật chuyện Đức Leadbeater bị nghi oan cho quí bạn nghe.

         Đức Leabeater nói:

         “Hồi tôi c̣n làm Linh Mục ở Anh Quốc Giáo Hội, một bữa, tôi thuyết cho tín đồ nghe những tai hại có thể đem đến cho những thợ thuyền và những tá canh nếu họ hành động theo những dục vọng tới cám dỗ họ. Nói xong th́ có một anh tá canh đứng lên la lối om ṣm trong pḥng giảng. Anh hằn học hỏi tôi: “V́ cớ nào ông đem tôi ra làm đề tài của bài thuyết đạo.”

         Thật sự tôi không hề nghĩ rằng anh đă phạm lỗi đó, mà những lời tôi nói lại trúng vào nhược điểm của anh, nên anh nổi xung. Tôi chắc cho tới ngày nay anh cũng c̣n đinh ninh rằng: “Tôi phân biệt anh trong đám người tới dự thính nên chỉ trích ngay anh.”

         Trường hợp của Đức Leadbeater đă xảy đến cho nhiều người rồi và thường lắm. Sự nghi ngờ người ta bêu xấu ḿnh, chê bai ḿnh, mà chỉ là sự nghi ngờ thôi chớ thật không có điều đó, sanh ra oán hận rồi đưa tới việc trả thù, lo mưu kế hăm hại nhau cho đă nư giận. Thật là oan, Thị Kính không thế giải bày. Chỉ có Trời biết thôi.

         Người học Đạo không nên ngờ vực điều chi cả th́ trong ḷng mới yên tịnh để tu hành. Chớ nên gây nhân chẳng lành mà sau phải gặt quả cay đắng.

 

SỰ NGỜ VỰC Ở NGOÀI ĐƯỜNG

        

         Một thí dụ khác nữa. Ta đi ngoài đường, ta ḍm người nầy, ngó người kia, đó là lẽ tự nhiên. Có người không nói chi, mà cũng có người tưởng là ta có ư muốn không tốt: hoặc tọc mạch, hoặc trêu ghẹo, hoặc chọc tức hay khinh khi, vân vân. Sự ngờ vực nầy lắm lúc sanh ra những chuyện rắc rối to tát. Chuyện nhỏ bằng mũi kim, không đáng chi cả, lại làm lớn ra bằng cái nhà, thật là đáng tiếc vô cùng. Mà nguyên nhân chỉ là “Ngờ Vực” thôi. Hăy nghĩ coi: Đi vô chợ mua đồ, cả trăm người chen lấn nhau, đụng chạm nhau, đó là lẽ thường không thể tránh khỏi được. Ai ai cũng có việc lo riêng, không lẽ khi bị người khác vô t́nh lấn một cái rồi đứng lại gây gổ, đă mất ngày giờ vô ích mà có khi phải tới c̣ bót thêm mệt trí vô cùng.

         Chơn Sư căn dặn chúng ta đừng nghi quấy cho ai cả v́ hai lẽ:

         Một là: Ta phạm tội nghi oan cho kẻ khác.

         Hai là: Khi tập cho cái Trí có thói quen ngờ vực th́ bất câu việc ǵ nó cũng nghi ngờ cả, như vậy làm sao ta học hỏi được Sự Thật và c̣n tin cậy ai nữa. Ta không tin cậy người th́ người tin cậy ta sao? Ta sẽ ở trơ trọi một ḿnh, không ai làm bạn với ta lâu được, v́ thiên hạ không thích tánh t́nh của ta.

 

SỰ NÓNG GIẬN LÀ SỰ ĐIÊN CUỒNG

 

         C̣n tại sao sự nóng giận nào cũng là sự điên cuồng cả? 

         Bởi v́ trong lúc nóng giận cái Vía nổi những quầng đen có vành đỏ và đầy những lằn đỏ nhọn xẹt ra như lằn chớp nháng thấy phát sợ. Lúc nầy con người không c̣n tự chủ được nữa, không c̣n sợ ǵ hết, dám làm tất cả những ǵ làm được để đă nư giận: Liệng bàn ghế, đập đồ đạc, chưởi mắng, rủa sả, thậm chí dám cầm dao đâm chém người. Chừng nguôi ngoai rồi th́ hối tiếc những điều đă thực hành, song đă muộn.

         Vậy hăy tập cho được tánh b́nh tĩnh, thản nhiên, tức là không cho cái Vía ứng đáp với những rung động của sự nóng giận th́ mới có thể tránh được nhiều sự phiền năo. [[32]]        

         Chừng con làm đệ tử của Chơn Sư rồi, con có thể thấy được tư tưởng của con đúng đắn hay không khi con so sánh nó với tư tưởng của Ngài. Bởi v́ Thầy với tṛ vẫn “hiệp nhất”. Miễn tṛ đem tư tưởng đó kề với tư tưởng Thầy th́ sẽ thấy hai tư tưởng có phù hạp với nhau hay không. Nếu không th́ tư tưởng của tṛ đă sai lầm, vậy phải sửa đổi lập tức, v́  tư tưởng của Chơn Sư vốn trọn lành, bởi Ngài thông hiểu hết mọi việc.         

         Trước khi được Chơn Sư thâu nhận làm Đệ Tử th́ phải là người có lư tưởng.

         Có 3 hạng Đệ Tử:

           -  Thứ nhất: Hạng Đệ Tử Nhập Môn  (Elève probationnaire)

           -  Thứ nh́: Hạng Đệ Tử Chánh Thức  (Elève  accepté)

           -  Thứ ba: Hạng Con Của Thầy  (Fils du Maitre)

 

1.- ĐỆ TỬ NHẬP MÔN.

        

         Hạng Đệ Tử Nhập Môn chưa được liên lạc trực tiếp với Chơn Sư.

         Ngài làm ra một h́nh giả của thí sinh  bằng chất Trí Tuệ, Thanh Khí và Dĩ Thái Hồng Trần ( Ether physique ), nghĩa là h́nh nầy có Thượng Trí, Hạ Trí, Cái Vía và Cái Phách. Bốn thể nầy liên lạc bằng từ điển với 4 thể của thí sinh tại cơi Trần. Tất cả những sự hành động, những sự cảm xúc, những tư tưởng của thí sinh đều ghi vào h́nh giả nầy.

         Chơn Sư để h́nh giả nầy trong một chỗ riêng để tiện bề quan sát mỗi ngày.

 

2.- ĐỆ TỬ CHÁNH THỨC. [[33]] 

        

         Thường thường trong ṿng 7 năm, cũng có khi lâu hơn hay mau hơn, thí sinh trau giồi tâm tánh càng ngày càng thật tốt và chỉ lo phụng sự th́ Chơn Sư thâu nhận anh làm đệ tử chánh thức. Ngài cho tâm anh nhập vô tâm Ngài rồi Ngài làm cho h́nh giả tan đi. Từ đây anh liên lạc trực tiếp với Sư Phụ.

         Vị đệ tử chánh thức là tiền đồn của Tâm Thức Chơn Sư. Điều chi làm trước mặt đệ tử là làm trước mặt Chơn Sư.

         Những tư tưởng, ư muốn, lời nói và việc làm của đệ tử đều phản ứng đến Chơn Sư. Ngài hay biết liền. V́ thế, vị đệ tử phải cẩn thận, nhất là trong tư tưởng. Khi vị đệ tử chưa tự chủ được nên nổi nóng th́ Ngài buông một bức màn ngăn Tâm Thức Ngài với Tâm Thức đệ tử, không cho sự nóng giận truyền tới Ngài.

         Sự ngăn cách nầy thường thường không quá 48 giờ. Khi đệ tử biết lỗi, lo sửa đổi cách tư tưởng th́ Chơn Sư vén bức màn lên, Tâm Thức của đệ tử sẽ thông đồng với Tâm Thức của Chơn Sư  như  trước.

          Tốc độ sự rung động của ba thể thấp của đệ tử càng ngày càng lên cao và ḥa nhịp với sự rung động của ba thể thấp của Chơn Sư. V́ thế, vị đệ tử tiến rất mau.

 

3.- CON CỦA THẦY .

        

         Tới một ngày kia, khi Chơn Sư thấy Tâm của đệ tử  đă được trong sạch, không c̣n đáp ứng với những tư tưởng và ư muốn thấp hèn th́ Ngài cho Tâm của đệ tử nhập vô Tâm của Ngài thân mật hơn trước.

         Đây là giai đoạn thứ ba: Vị đệ tử làm Con của Thầy.

         Tới giai đoạn nầy, Chơn Sư không c̣n buông bức màn ngăn cách Tâm Ngài với Tâm của đệ tử nữa.

         Một thời gian sau, Ngài đem vị Đệ Tử tới Quần Tiên Hội xin Điểm Đạo cho anh.

         Hiểu điều nầy, tôi xin nói rằng: Phải làm Đệ Tử Chánh Thức mới biết phương pháp đem tư tưởng ḿnh so sánh với tư tưởng của Chơn Sư. C̣n vị Đệ Tử nhập môn không làm được việc đó.

 

TẠI SAO CHƠN SƯ THÔNG HIỂU HẾT MỌI VIỆC?

        

         Tâm Thức của Chơn Sư thường trực ở tại cơi Niết Bàn hay Đại Niết Bàn. Lên tới cơi nầy, Ngài ḍm xuống Hồng Trần th́ tất cả những ǵ xảy ra trên thế gian đều hiện ra tỏ rơ trước mắt Ngài, không khác nào việc chúng ta ngồi xem phim hát bóng. V́ vậy Ngài thông hiểu hết mọi việc.

         Tục ngữ : “Đừng lấy vải thưa che mắt Thánh” rất đúng.          

         Những người nào chưa được Ngài thâu làm Đệ Tử Chánh Thức th́ không thể làm như vậy, song nếu họ thường tự hỏi như vầy th́ họ sẽ được giúp đỡ nhiều lắm: “Thầy sẽ tưởng việc nầy làm sao?  Gặp trường hợp nầy Ngài sẽ nói hay sẽ làm như thế nào? Bởi v́ không nên làm, nói hay tưởng điều nào mà theo ư ḿnh, Thầy không làm, không nói, hay không tưởng như thế được”         

         Mặc dầu Chơn Sư đă căn dặn như vậy, chắc chắn người ta không hề nghe theo đâu. Họ cho là làm như vậy rất mệt trí và mất hết th́ giờ.

         Thường thường cái Trí và cái Vía của con người phản ứng mau lẹ cho nên có nhiều việc người ta làm mà không suy nghĩ kỹ lưỡng. Đọc đoạn nầy cũng có người sẽ nói:

         “Nếu trước khi tưởng hay nói mà tôi làm như lời dạy th́ chắc là trọn ngày tôi không nói được bao nhiêu tiếng và thực hành được bao nhiêu việc đâu”.

         Lời nầy hữu lư khi lấy theo quan điểm của thế tục, nhưng nếu suy xét cho chí lư th́ biết: Khi ta luôn luôn nuôi dưỡng trong tâm trí những tư tưởng cao siêu, tốt đẹp, chân thật, từ bi, th́ tự nhiên ta ít nói sai lầm và không làm những việc bất nhân, thất đức, ngoại trừ những trường hợp vô tâm, nhưng mà ta vẫn giải quyết mau lẹ những vấn đề khác chớ không phải chậm chạp.

         Phải biết Chơn Sư dạy như thế là muốn cho con người nhắm vào chỗ trọn sáng, trọn lành. Điều nào đáng tưởng mới tưởng, điều nào đáng nói mới nói, việc nào đáng làm mới làm.

         Người học Đạo phải tiến hơn bực trung b́nh và càng ngày phải càng lên cao. Quyển “Dưới Chơn Thầy” rất hạp với những người đă tu hành nhiều kiếp, người ta gọi là có căn lành. C̣n người thường dầu không thể áp dụng tất cả những lời dạy trong đời sống hằng ngày đi nữa, cũng phải coi theo đó để tập rèn tánh nết, ban đầu ít, sau nhiều. Hiện giờ đă có những biến cố lớn lao xảy ra, người ta mới thấy tánh t́nh thật quan trọng là dường nào.         

         Phải nói cho đúng với sự thật, rơ ràng và không khoác lác, phóng đại.        

         Lời nói có một năng lực phi thường. Ấy là quyền năng sanh hóa.

         Xin nhắc Kinh Thánh Cựu Ước nói:

         Đức Chúa Trời phán: “Hăy có ánh sáng th́ ánh sáng hiện ra”.

         Tánh con người thường hay khoe khoang để cho người ta khen ḿnh. Khi thuật lại một câu chuyện đă nghe hay là việc ḿnh đă chứng kiến th́ thường nói không đúng với sự thật, hoặc thêm, hoặc bớt những chi tiết.

         Nói phóng đại th́ phạm tội Vọng Ngữ.

         Người chí nguyện, trái lại, phải thật đúng đắn từ trong tư tưởng cho đến lời nói và việc làm. Mới xem qua th́ thấy điều nầy quá sức của con người, nhưng chúng ta phải tập lần, chúng ta sẽ thành công.

         Tôi thường nhắc nhở các bạn tu hành rằng: trên đường Đạo, chúng ta là đứa trẻ nít mới tập đi, c̣n té lên, té xuống. Nhưng con nít càng ngày càng lớn, th́ ta đây cũng vậy, ta phải bền chí, ta sẽ đạt được mục đích đă nhắm. Đây là vấn đề thời gian thôi.         

         Chớ nên cho kẻ khác có ư muốn cái nầy, cái kia. Duy có một ḿnh Thầy họ biết tư tưởng họ mà thôi. Không biết chừng họ làm như vậy là tại duyên cớ ǵ đó mà con chẳng rơ được. Khi con nghe một câu chuyện nào có hại cho kẻ khác th́ đừng lập câu chuyện đó lại. Có lẽ câu chuyện đó không thật, mà dầu có thật đi nữa, đừng nói đến mới thật là có ḷng nhân từ hơn nữa.         

         Trong đoạn nầy, câu: “Duy có một ḿnh Thầy họ biết tư tưởng họ mà thôi” có nghĩa là Chơn Sư muốn dạy ta cách đối đăi với các bạn đồng đạo; không nên có ư ngờ vực họ. Họ có cách tư tưởng riêng, họ chịu trách nhiệm với Đức Tôn Sư của họ.

         Khi mà chúng ta không biết lư do sự hành động của bạn ḿnh th́ làm sao xét đoán được sự hành động đó. Mà nói cho đúng chúng ta không được phép xét đoán ai cả.

         Chơn Sư cũng dạy không nên lập lại những điều mà ta nghe nói có hại cho ông X hay ông Y. Biết đâu những điều đó không có thật, tại người ta ghét rồi phao vu. Mà dầu người ta có lỗi, người có ḷng nhân từ không nhắc tới lỗi đó, v́  khi xét ḿnh  th́ thấy trước kia ḿnh cũng đă phạm tội như họ vậy. Nếu ngày nay ta được trong sạch về phần nào, đó là tại ta trước kia đă đau khổ v́ nó, bây giờ thấy nó th́ tránh xa, không khác nào việc bị phỏng lửa một lần th́ không dám lại gần lửa nữa.

         Hăy mở rộng ḷng nhân tha thứ cho kẻ lỗi lầm mới thật là người Biết Đạo và Hành Đạo.

 

PHẬT DẠY ĐỆ TỬ LỜI NÓI PHẢI CHÂN CHÁNH.

“TÔI  NGHE  NHƯ  VẦY”

 

         Ở đây tôi tưởng cũng phải giải nghĩa tại sao Phật dạy trước khi giảng kinh Phật phải nói: “Tôi nghe như vầy”, chớ không phải “Phật nói như vầy” .

         Hai câu nầy ư nghĩa khác nhau rất xa.

        “Tôi nghe như vầy” có nghĩa là: Tôi lập lại những điều đă nghe, không biết có thiếu sót điều chi chăng? Các anh hăy suy nghĩ.

         C̣n câu: “Phật nói như vầy” là quả quyết rằng ḿnh lập lại đúng y như lời Phật đă nói, không bỏ sót chữ nào cả.

         Cái Trí con người không phải là cái máy ghi âm, thâu vô bao nhiêu th́ phát ra bấy nhiêu không sai một mảy.

         Trọn 45 năm, Phật thuyết pháp không biết bao nhiêu lần, làm sao các đệ tử nhớ cho hết từ đầu tới cuối được.

         Nếu lập lại không y như lời Phật đă nói mà quả quyết “Phật nói như vầy” th́ phạm tội Vọng Ngữ.

         Phật bảo: “Tôi nghe như vầy” tức là muốn dạy đệ tử lời nói phải Chân Chánh, đúng với sự thật, Ngài muốn tránh cho Đệ Tử khỏi phải mắc tội nói dối nên căn dặn: Bài kinh nào cũng phải mở đầu: “Tôi nghe như vầy” .

         Tiếc thay đời sau vu cáo Phật nhiều lắm.

         Họ nói cái nầy, cái kia rồi hô to: Ấy là Phật Ngôn. Họ luyện cách nầy, cách kia rồi tuyên truyền: Ấy là Phật Pháp.

         Những người chưa biết Đạo tin họ bằng lời. Họ là những người đáng thương hại hơn hết, v́ họ mắc phải tội Vọng Ngữ.

         Phải biết rằng bên Chánh Đạo các Đệ Tử đều Tŕ Trai, Giữ Giới.

         Phép luyện ḿnh là việc riêng của mọi cá nhân. Ông Thầy dạy miệng học tṛ, tức là khẩu khẩu tương truyền. Không có hai người học tṛ nào học chung một Thầy mà luyện tập in như nhau, bởi v́ Cung Mạng của hai người và đường tiến hóa Tinh Thần của hai người vẫn khác nhau.

         Phương pháp Huyền Bí Học đâu có phải như môn thể dục Công khai mà ai ai cũng luyện tập một cách với nhau. Luyện sái một chút th́ bỏ mạng. Nếu không rèn luyện tâm tánh cho thật tốt, xác thân cho tinh khiết th́ không bao lâu sẽ vấp ngă trước những sự thử thách đưa tới mà không chịu nổi. Ai ai cũng phải gặp những chướng ngại nầy. Việc vượt qua khỏi hay không tùy thuộc sức của Con Người. Những sự kinh nghiệm từ ngàn xưa đă chứng chắc điều nầy không bao giờ sai.

         Chớ nên thọc tay vào lửa để coi nó có đốt cháy da thịt hay không. Nên đề pḥng. Và hay hơn hết là mỗi người t́m Đạo nên tự hỏi: Tôi là ai? Tôi được sinh ra ở cơi Trần làm chi đây? Hiểu được mục đích của cuộc đời th́ quí bạn cầm sự tiến hóa của quí bạn trong tay. Quí bạn hăy t́m đọc những quyển sách giảng giải về Đường Đạo th́ quí bạn sẽ biết những việc phải làm để tiến mau mà khỏi bị những tai hại nào cả.

         Tầm Đạo không phải là học những phép Thần Thông, v́ những phép Thần Thông không phải là Đạo. Đạo là Luật Sanh Hóa Trời Đất.

         Quí bạn vẫn biết Đức Phật ra đời dạy Tứ Diệu Đề và Bát Chánh Đạo, chứ không bao giờ dạy cách Xuất Hồn, Xuất Vía, mở Thần Nhăn, Thần Nhĩ chi cả.

         Ngài cấm Đệ Tử dùng những phép Thần Thông để khoe khoang. Việc Ngài đập nát cái bát bằng Bạch Đàn của Đức Ma-Ha-Ca-Diếp lấy đem về Tịnh Xá chứng minh lời tôi nói đây (Xin xem đoạn những phép Thần Thông).

         Trước khi nói, con phải suy nghĩ cho kỹ lưỡng, v́ e không đúng với sự thật. Phải thành thật trong việc làm: Đừng kiếm thế phô trương cái mà con không có thật. Bởi v́ sự giả trá ngăn cản tinh quang của Chân Lư, tinh quang nầy phải xuyên qua ḷng con cũng như ánh sáng mặt trời rọi ngang qua tấm kiếng trong trẻo vậy.        

         Phải biết lúc đó Alcyone c̣n nhỏ chưa thông hiểu Luật Nhân Quả, cho nên Chơn Sư phải lập đi lập lại nhiều lần về sự phân biện, sự chân, sự giả và sự thành thật hầu Alcyone tránh những hậu quả không tốt có thể xảy ra. 

         Khoe khoang những điều ḿnh không thật có, thật biết tức là ḿnh muốn ḷe thiên hạ. Như  vậy ḿnh đă tự dối ḿnh mà c̣n dối người khác nữa.

         Nếu biết th́ nói biết, không biết th́ nói không biết rồi cố t́m học cho thật biết. Có chi là phải hổ thẹn. Chúng ta c̣n dốt lắm. Chúng ta vốn là học sinh, c̣n biết bao nhiêu điều cần phải học hỏi trên đường đời cũng như trên đường Đạo. Chúng ta đang học làm người trọn lành, chớ chưa phải là người trọn lành đâu. Tại sao lại không biết phục thiện?

         Ta hăy thử nghĩ điều nầy: Nếu trí óc ta là những tấm kính màu th́ ánh sáng của Chân Lư rọi qua không c̣n sáng trắng nữa mà là ánh sáng màu vàng, màu đỏ, màu xanh, có khi màu đen nữa, tùy theo bản tánh của trí óc ta.

         Ta nhờ trí óc để học hỏi, nhưng một trí óc như thế làm sao hiểu được sự thật?

         Đừng quên rằng: Đạo là Chân Lư, là Sự Thật Tuyệt Đối. Nếu ta không thành thật th́ Nhân Quả sẽ dạy ta những bài học về sự Chân Thật rất đau thương, không bây giờ th́ cũng vài năm sau. Vậy nên tập tánh Chân Thật ngay lúc nầy đây là điều hay hơn hết.

         Tôi tưởng cũng phải nói trắng ra: Sự  hung ác và sự giả dối cũng giúp cho Con Người tiến vậy. Mới nghe qua thật là sự trái tai, nhưng đây có nghĩa là họ bị Luật Báo Ứng trả lại làm cho họ bị đau khổ nhiều bận. Họ tỉnh ngộ, họ trở nên hiền lương và thành thật.

         Như thế họ tiến, song tiến trong sự đau khổ. C̣n những người nhân từ, những người thành thật tiến trong sự an vui.

 

NHỮNG ĐIỀU HỮU ÍCH CỦA SỰ CHÂN THẬT

        

         Trong quyển số 4 của Bộ Học Cơ Tiến Hóa theo Khoa Minh Triết Thiêng Liêng trang 13 – 26  tôi có bàn về:

                         Tư Tưởng Chân Chánh.

                         Lời nói Chân Chánh.

                        Việc Làm Chân Chánh.

         Tôi xin chép lại 2 đoạn nói về Lời nói Chân Chánh và Việc làm Chân Chánh cho quí bạn xem.

LỜI  NÓI  CHÂN  CHÁNH

         Thế nào là lời nói chân chánh?

         Lời nói chân chánh phải có đủ ba đức tánh nầy:

              -  Một là: có cần thiết không?

              -  Hai là: có đúng với sự thật không?

              -  Ba là: có từ thiện không?

                                  

A – CÓ CẦN THIẾT KHÔNG?

        

         Cần thiết đây có nghĩa là: đúng lúc và hữu ích. Lời nói chỉ có hiệu quả tốt đẹp là khi nào nói có suy xét và cố ư chứ không phải nói suồng să, tầm ruồng, đụng đâu nói đó một cách vô tâm. Lời nói phải từ nội tâm phát ra, âm điệu du dương chỉ có thể nảy sinh trong khi vắng tiếng rầy rà, ồn ào.

         Lời nói chân chánh phải có tính cách giúp đỡ, phá tan những đau khổ, giải quyết những sự khó khăn và đem hạnh phúc lại cho con người. Ngạn ngữ Tây Phương:        

         “Phải uốn lưỡi 7 lần trước khi nói” thật đúng lắm vậy.

         Phải bịt miệng với ba lớp khăn như h́nh người mà Đức Khổng Tử đă thấy trong một cổ miếu. Phải thủ khẩu như b́nh mới sống yên trong đời loạn lạc được.

         Từ xưa đến nay, lời nói vô ư thức đă gây ra nhiều tai họa mà ít ai nghĩ tới việc cẩn ngôn, cẩn hạnh.

 

B – CÓ ĐÚNG SỰ THẬT KHÔNG?

        

         Trong  Đạo Bát Chánh của Phật Giáo, Chánh Ngữ tức là lời nói chân chánh được sắp vào hàng thứ ba sau Chánh Kiến (thấy chánh hay là phân biện), và Chánh Tư Duy (tư tưởng chân chánh).

         Muốn cho lời nói chân chánh th́ phải nói cho thật đúng, hết sức thật đúng. Chớ thật đúng một cách tầm thường như người ngoài đời th́ chưa thật là đủ, song được bao nhiêu đó cũng đă khá lắm rồi.

         Người đệ tử phải nói hết sức đúng với sự thật. Phải nói thật một cách tuyệt đối.

         Đây là một đức tánh cần thiết hơn hết cho những ai muốn đi theo con đường Huyền Bí Học.

         Phải thật đúng trong khi nhận xét.

         Phải thật đúng trong khi tường thuật lại mọi việc.

         Phải thật đúng trong tư tưởng.

         Phải thật đúng trong lời nói, trong việc làm, trong lúc hành động.

         Nếu không ngớt t́m kiếm sự thật, nếu không chí quyết để trở thành một người tự ḿnh đúng với sự thật th́ không thể nào đi theo con đường Huyền Bí Học được.

         Huyền Bí Học sẽ là một sự nguy hiểm, một sự sa ngă mà thôi. Sự sa ngă nầy càng đáng sợ, càng đau thương khi sinh viên càng lên cao. Tại sao thế?

         Bởi v́ đối với nhà Huyền Bí Học, sự thật đúng vừa là một người chỉ đường, đưa lối, một người hướng đạo, vừa là một bộ áo giáp để che chở họ.

         Sự thật đúng là người hướng đạo v́ nhờ đó mà nhà Huyền Bí Học có được Trực Giác, khiến anh có thể phân biệt được con đường chân chánh và con đường sai lầm: Chánh Đạo và Tà Đạo. Nó là một bộ áo giáp, v́ nếu nhà Huyền Bí Học không mặc bộ áo giáp Chân Thật đó th́ không thể nào tránh khỏi cạm bẫy của kẻ nghịch đưa ra. Anh sẽ là nạn nhân của những ảo ảnh và những h́nh thù quái đản của những cảnh giới mà anh phải đi qua.

         Áp dụng Sự Thật Đúng trong Tư Tưởng, Lời nói và Việc Làm sẽ Lần Lần Thức Tỉnh Được Cái Trực Giác Tinh Thần. Nó Chọc Thủng Tất Cả Những Tấm Màn Ảo Tưởng Và Không Khi Nào Bị Một Thế Lực Ǵ Ở Đời Lừa Dối Được.

 

NHỮNG TẤM MÀN CHE MẮT GIĂNG KHẮP NƠI.

        

         Trong cơi đời ảo tưởng nầy, những h́nh dáng giả dối từ tứ phía nổi lên, cho đến ngày nào mà Trực Giác Tinh Thần với tia mắt nh́n thẳng thắn và không sai lầm của nó đi xuyên qua được mặt nạ che giấu sự vật th́ ngày đó nhà Huyền Bí Học mới vững bước trên con đường đầy chông gai nầy.

         Ta không thể đạt được Trực Giác đó nếu không tập luyện để có được Sự Thật Đúng trong Tánh T́nh, Sự Thật Đúng trong Trí Năo, Sự Thật Đúng trong sự Hành Động.

         Không có Sự Thật Đúng, ta sẽ thất bại, ta sẽ lầm lạc. Không bao giờ tránh khỏi điều nầy được.

         Về Sự Thật, Đức Leadbeater nói cho chúng ta biết rằng những danh từ chính xác và cụ thể cái nghĩa của Sự Thật trong ngôn từ là:

         Đúng Đắn, danh từ chọn lựa kỹ lưỡng, rơ ràng, không chuốt ngót.

         Trong Ấn Độ Giáo có một quan niệm rất quen thuộc với chúng ta là: Âm thanh tạo lập vũ trụ. Âm thanh đây có nghĩa là: mỗi thứ rung động. Đó là lư do khiến người ta qui cho nó một năng lực đặc biệt. Khi chúng ta nói, chúng ta phát ra một cái ǵ đó mà không thể thay đổi được nữa. Lời nói của chúng ta làm tượng trưng cho tất cả những kết quả do chúng ta gây ra và những động tác, hành vi đủ hết các thứ. Theo nghĩa tổng quát nầy chúng ta phải tập sao cho mỗi khi nói làm vang lên âm điệu trong trẻo và đích xác thật đúng điệu. Đó là một lư tưởng cao thật, nhưng trong khi hoài băo những lư tưởng của chúng ta và gắng sức làm cho đời sống của chúng ta phù hợp theo đó, ta không nên “quên nghĩ đến Sự Thật”. Đừng để có sự thỏa hiệp với khuynh hướng tŕ độn ngăn trở sự cố gắng và giảm bớt sự hy simh của chúng ta.

 

C –  CÓ TỪ THIỆN KHÔNG ?

        

         Quyển “Ánh Sáng Trên Đường Đạo” đă dạy:

         “Trước khi được nói trước mặt Chân Sư, lời nói phải mất năng lực làm thương tổn”.

         Nói một cách khác dễ hiểu, lời nói phải dịu dàng không nhục mạ ai, không làm đau ḷng ai. Sự dịu dàng và sự thật đúng không có chống đối nhau như người ta thường lầm tưởng. Lời nói có thể thật đúng trọn vẹn mà hết sức dịu dàng, nhă nhặn và từ ái. Và khi nó càng thật đúng bao nhiêu th́ nó càng phải dịu dàng bấy nhiêu, mà chính ngay trong Trung Tâm của sự vật, Chân Lư và ḷng Từ Bi vẫn hằng sống đời đời bên cạnh nhau.

         V́ bởi lời nói phải phản chiếu cái tinh hoa sâu kín nhất của Vũ Trụ th́ không nên vô cớ làm mích ḷng người hay sanh ra một chút ngờ vực nào cả. Vậy lời nói phải thật đúng và phải dịu dàng, nhă nhặn. Đó là sự khắc kỷ về lời nói, sự thiệt thọ hăm ḿnh trong ngôn ngữ, sự hy sinh mà mỗi người Chí Nguyện phải thực hành.

         Quí bạn sẽ hỏi: Nếu phải cảnh cáo hay khiển trách th́ phải làm như thế nào?

         Nếu cảnh cáo hoặc khiển trách là những điều có khi phải cần đến th́ kết quả của nó phải có phần bổ ích. Nó phải thức tỉnh, khuyến khích, sửa đổi, đừng làm cho người có lỗi ở trong t́nh trạng ngă ḷng rủn chí, buồn bực.

Một đôi khi Chân Sư có thể tỏ ra nghiêm khắc trong lời nói, nhưng như thế là Ngài muốn cho đệ tử hiểu lỗi đă phạm một cách rành mạch và rơ ràng hơn. Đồng thời Ngài cũng làm cho tâm hồn đệ tử được thêm phần mạnh mẽ và đầy nghị lực.

 

CHỚ NÊN HIỂU LẦM SỰ NÓI THẬT ĐÚNG.

 

         Tuy nhiên, chớ nên hiểu lầm sự nói thật đúng với sự nói hành.

         Không phải phanh phui những tật xấu của thiên hạ hay là mắng xối trên đầu người ta rồi viện lẽ rằng: “Ḿnh nói sự thật”. Không nên đem những sự bí mật trong nghề nghiệp, trong gia đ́nh, trong xă hội, trong nước nhà nói trắng ra để tỏ ra ḿnh là tay thạo đời, là ḿnh thành thật.

         Điều đó là khờ dại, là đần độn và chuốc lấy tai họa vào thân. Trong trường hợp nầy không nói ra tất cả những sự thật là khôn ngoan, kín miệng.

         Phải sáng suốt, phải biết phân biện, phải thận trọng từ chút, v́ có nhiều việc dầu biết rơ cũng phải giữ thái độ im lặng. Đó là điều hay hơn hết để tránh những phiền phức về sau có thể xảy ra.

 

VIỆC LÀM CHƠN CHÁNH

 

         Việc làm chân chánh (chánh nghiệp) đứng vào hàng thứ tư của Bát Chánh Đạo.

         Nếu tư tưởng chân chánh và lời nói chân chánh th́ lẽ dĩ nhiên việc làm cũng sẽ thành chân chánh vậy.

         Cái nhân đă như thế th́ cái quả cũng sẽ như thế chớ không sao khác được. V́ sự hành động tức là sự biểu lộ của sức mạnh nơi tâm và khi nào tư tưởng đă trong sạch, khi lời nói đă thật đúng và ngay thẳng th́ sự hành động tất nhiên sẽ cao thượng.

         Phát nguyên từ ngọn suối êm đềm, ngon ngọt th́ ḍng nước cũng phải êm đềm, ngon ngọt chớ không thể nào khác hơn được. Phát sanh từ một tấm ḷng và một khối óc tinh khiết th́ sự hành động chỉ có thể là chân chánh và từ thiện mà thôi.

         Tư tưởng chân chánh, lời nói chân chánh, việc làm chân chánh là ba sợi dây liên kết người Chí Nguyện một mặt với nhân loại trong việc phụng sự cao siêu, một mặt với Sư Phụ anh. Ba sợi dây nầy không thế nào cắt đứt được.

         Trong các Tôn giáo lớn, ba sợi dây nầy là dấu hiệu của sự hoàn toàn tự chủ: tự chủ về tư tưởng, lời nói và việc làm.

         Và sau hết th́ mọi sự sẽ ra sao? Về ngôn ngữ con người thật là bất lực, không sao miêu tả được đoạn chót của sự lập hạnh nầy. Những màu sắc tối tăm của Trái Đất không sao miêu tả nổi cái vẻ mỹ lệ của lư tưởng hoàn toàn ấy mà chúng ta hy vọng một ngày kia sẽ đạt được và chúng ta biết rơ rằng một ngày kia sẽ thành tựu được. Có bao giờ lư tưởng nầy đă hiện rơ ra với chư huynh trong lúc lặng lẽ không? Chư huynh có bao giờ trông thấy cái phản ảnh của nó trong sự an tịnh của trái đất cũng như trong sự tịch mịch của bầu trời không?

         Chư huynh đă bao giờ trông thấy các vị Tiên Thánh c̣n sống và hoạt động không? Các vị trước kia đă là người và bây giờ đă vượt qua tŕnh độ của con người, đă trở thành những vị Siêu Nhân cao cả, oai nghiêm. Sau nầy nhân loại cũng sẽ được như các Ngài, tuy bây giờ chưa đi đến tŕnh độ ấy, trừ ra những người ở những ṿng trong của Thánh Điện.

 

CÁC TÔN GIÁO ĐỀU TRỌNG TÁNH CHÂN THẬT

 

         Tôi xin kể những lời dạy của các Tôn Giáo về tánh chân thật cho quí bạn nghe.

 

1 – ẤN GIÁO.

 

         Chân Lư là Thượng Đế, vĩnh cửu. Vạn vật đều dựa vào Chân Lư.

                     (Mahâbhârata Anoushâsana Parva CLXII – 5)

         Sự khổ hạnh, ḷng quảng đại, sự công b́nh, ḷng nhân từ, sự chân thật, đó là những sự hy sinh.

                      (Chândogya Dupanishad, I I , XVI I , 4) 

          Hăy nói điều chi có thật . . . . . . . .  đừng ra ngoài Chân  Lư.

                         (Taittiriya Dupanishad , I , II , 1)

 

2 -  BÁI HỎA GIÁO (ZOROASTRISME)

BA TƯ GIÁO.

 

         Người ta nên biết rằng, thật là phẩm hạnh đều do Chân Lư mà ra.

         Đúng thật, những người cứu trợ nhân loại tốt hơn hết là những người ưa thích Chân Lư, họ thấy xa và họ vâng lời Đức Thượng Đế, Ngài biết tất cả.

                                                   Dinharo (Vol. VII. p. 452)

         Điều thứ năm.  Đừng bao giờ nói dối, e cho danh giá và sự vinh quang phải bị hoen ố .    

                                                   Ibid  ( p. 492 )

 

3 -  DO THÁI GIÁO (JUDAISME) .

 

         Đức Thượng Đế, Ngài muốn sự Chân Thật ở trong đáy ḷng.

                                                   Thi Thien  51 – 8  ( Psaume 51 – 8 )

         Những lời của kẻ hung ác là những cạm bẫy làm cho đổ máu.

         Nhưng mà cái miệng của những người ngay thẳng giải thoát cho kẻ khác.

                                      Châm ngôn  12 – (6) “ Proverbes  12 – (6)”

         Kẻ nào nói thật, tuyên bố sự công b́nh, người làm chứng giả dối th́ gạt gẫm.                

                                      Châm ngôn  12 – (17) “Proverbes 12 – (17)”

         Môi chân thật bền vững đời đời, song lưỡi giả dối th́ tồn tại trong một lúc mà thôi.

                                      Châm ngôn  12 – (19)  “Proverbes  12 – (19)”

 

4 -  PHẬT GIÁO.

 

         Song nếu ai biết được điều nào chân là chân, điều nào giả là giả th́ mới hiểu thấu Chân Lư và theo đuổi những ước mơ chánh đáng.

                                       Pháp Cú  1 – (12)  “Dhammapada  1-  (12)”

         Hăy nói thật, đừng giận hờn, tùy theo sức ḿnh mà bố thí, do ba điều nầy mà con người gần được các vị Thiên Đế.    --  Pháp Cú 224.

         Người nào lời nói dịu dàng, hũu ích, ngay thật, không dùng lời nói mà mắng nhiếc ai, người đó, tôi mới gọi thật là người Bà La Môn.

                                                                        Pháp Cú  408

         Người nầy chớ nên gạt gẫm người kia vốn đồng loại với ḿnh.

                                                                        Mettasoutta  6.

 

5 - THIÊN CHÚA GIÁO.

 

         Như vậy, mỗi người trong các anh hăy chừa bỏ sự nói dối, hăy nói thật với đồng bào v́ chúng ta là anh em với nhau.

                                                      Ê-Phê-sô  (Ephésiens)  4  (25)

         V́ cái quả của sự sáng láng ở tại mọi điều nhân từ, công b́nh và THÀNH THẬT.

                                                      Ê-Phê-sô  (Ephésiens )  5  (9)

         Vậy hăy đứng vững, lấy LẼ THẬT làm dây nịt lưng. 

                                                      Ê-Phê-sô  (Ephésiens)  6  (14)

         CHỚ  NÊN  DỐI  NHAU, v́ đă lột bỏ người cũ cùng công việc của nó.

                                                      Colossiens  3  (9)

                              ( Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước  in  lần  thứ 8 )

 

6 -  HỒI GIÁO.

 

         Đừng lấy sự giả dối che đậy sự thật, đừng đánh cắp ánh sáng của nó, anh biết nó rồi.

                                                       Coran II  ( 41 )

         Hăy lường thật đầy và dùng một cái cân thật đúng.

                                                       Coran  6  ( 182 )

         Thật vậy, Thượng Đế ra lịnh cho chúng ta phải công b́nh.

                                                       Coran  XVI  ( 92 )

         Và c̣n nhiều nữa chớ không phải bao nhiêu đó là đủ đâu.

 o      o

o

 

V - T̀NH BÁC ÁI VÀ SỰ SỐNG THIÊNG LIÊNG. ( L’altruisme et la vie divine )

        

         Phải phân biện điều nào là ích kỷ với điều nào là không ích kỷ, bởi v́ sự ích kỷ có nhiều h́nh trạng lắm. Khi con tưởng trừ được tật ích kỷ trong một h́nh trạng nào rồi, th́ nó lại tái sanh trong một h́nh trạng khác cũng mạnh bạo như trước vậy. Nhưng lần lần con mảng lo giúp đỡ kẻ khác cho đến đỗi trong trí con không c̣n chỗ nào và giờ phút nào tưởng tới con nữa.        

         Tánh ích kỷ ăn sâu vào tâm trí con người cả trăm triệu năm rồi. Không phải dễ mà trừ khử nó đâu. Nó có thiên h́nh vạn trạng. Chơn Sư đă nói: Dầu diệt nó dưới một h́nh thức nào rồi th́ nó tái sanh dưới một h́nh thức khác cũng mạnh bạo như vậy.

         Tánh ích kỷ không khác nào Con Rắn Bảy Đầu Hydre de Laerne (ở trong hồ Laerne tại Argolide là miền ao hồ của Cổ Hy Lạp). Chặt đứt đầu nầy th́ đầu khác mọc ra. Nó bị Heraclès tức là Hercule chặt một cái rụng hết bảy đầu, không mọc được nữa.

         Muốn trừ tánh ích kỷ th́ phải mở ḷng từ bi thương xót những người cô thế, yếu đuối, lầm lạc và t́m phương giúp đỡ họ với khả năng của ḿnh.

         Phải ra công luyện tập mỗi ngày, trong ṿng  3- 4 mươi năm mới mong thấy ḷng vị tha của ḿnh mở rộng.

         Phải làm sao trong trí ta chỉ chứa có một điều là mưu hạnh phúc cho đời th́ ta không c̣n th́ giờ tưởng tới cá nhân ta nữa.

         Ta gặp nhiều người than phiền: “Thật là đáng buồn, đáng phiền, anh X không tưởng đến tôi trong khi tôi vẫn lo lắng cho anh. Sự than phiền nầy tỏ ra người nói c̣n tánh  ích kỷ.

         Phải nói trong ḷng như vầy: “Tôi cứ lo làm những việc lành, những việc phải. Điều đó mới thật là trọng hệ. C̣n việc người ta biết hay không biết những hành động của tôi, không có chi là quan trọng. Bổn phận tôi luôn luôn phải thi ân bố đức, nhưng mà không đ̣i hỏi cái chi cho tôi cả.

         Như thế th́ quí bạn sống một đời cao thượng, thanh bai và được thiên hạ mến yêu.

                  

         Con c̣n phải phân biện một cách khác nữa, phải tập phân biện Đức Thượng Đế trong ḿnh các loài, các vật dầu chúng nó thật xấu xa hay là dường như có vẻ xấu xa cũng vậy.

         Con có thể giúp người anh em con luôn luôn là nhờ con với y có đồng chung sự sống Thiêng Liêng trong ḿnh. Hăy học cách thức tỉnh sự sống đó trong người y. Hăy học cách kêu gọi sự sống đó trong người y. Như vậy con mới cứu y khỏi bị tai hại.        

         Trên Trời, dưới Đất, trên không trung, trong ḿnh các loài vật, từ loài Tinh Chất, Kim Thạch, Cầm Thú, Con Người và các hạng Thiên Thần đều có sự sống Thiêng Liêng, sự sống của Đức Thượng Đế.

         Ông Duddâlaka có đưa ra một sự thí nghiệm để chứng minh đâu đâu cũng có Thượng Đế. Câu chuyện như sau đây:

 

CÂU CHUYỆN ÔNG DUDDÂLAKA DẠY CON

HAY LÀ ĐÂU ĐÂU CŨNG CÓ ĐỨC THƯỢNG ĐẾ.

 

         Ông Duddâlaka bảo đứa con trai bỏ muối vào một chậu nước. Bữa sau, ông nói với nó: “Con hăy kiếm muối cho cha”. Đứa con trai trả lời: “Con t́m không ra”.  Ông nói: “Hăy nếm nước ở trên mặt b́nh nước. Đứa con vâng lời, rồi nói: “Nước mặn lắm”.

            -  Hăy nếm nước ở phần giữa cái b́nh.

            -  Nó cũng mặn.

            -  C̣n nước ở dưới đáy?

            -  Nó cũng mặn nữa.

         Ông bèn giải cho nó biết: Muối đă tan hết trong nước nên không thấy nó, không gặp lại nó. Cũng thế đó, Hồn của Vũ Trụ là Brahman, Đức Thượng Đế thâm nhập vô tất cả các loài. Đâu đâu cũng có Ngài, Ngài vô sở bất tại, trường tồn bất diệt, Ngài là một, song vẫn khác trong những lớp vỏ đă mang để hiện ra. Tất cả những cái quanh ta đây, nhờ Đấng độc nhất vô nhị là Ngài ban cho sự sống nên mới sống được. 

         Rồi ông mới nhấn mạnh: “Ấy là Đại Hồn của Vũ Trụ, ô Sveteketu! Ngài là Cái Đó (Tu es Cela).

         Này con! Đây là cái cầu của chúng ta. Con là Atman, Atman là Bản Ngă của Con Người; mà Atman với Brahman, Đại Ngă của Vũ Trụ chỉ là một. Trong tâm của Con Người có một lỗ hủng [[34]], ấy là chỗ trú ngụ của Đức Thượng Đế Brahman, người ta có thể gặp Ngài ở tại đó.

         Bài nầy cũng chứng minh mấy câu nầy trong Minh Tâm Bửu Giám:

1 -  Nhơn hữu thiện nguyện, Thiên tất tri chi.

                                              ( Tây Sơn Chân Tiên Sinh )       

             - Người có ư nguyện lành, Trời ắt biết.

2 -  Nhân gian tư ngữ, Thiên văn như lôi; ám thất khuy tâm, Thần mục như điện. ( Huyền Đế )

           - Ở thế gian lời nói riêng tư, Trời nghe như sấm. Ở trong nhà, với ḷng xấu tưởng quấy, mắt Thần thấy rơ như chớp.

        Những người chỉ biết vật chất, không tin có tinh thần th́ coi những lời nói trên đây là phi lư, để lừa trẻ con. Đối với họ, đó chỉ là khoảng trống rỗng trên không gian mà thôi. Tự do tín ngưỡng.

         Nên biết rằng: Dù cho Vũ Trụ, đừng nói chi là Con Người, cũng phải tùy thuộc Luật Nhân Quả. Nên nhớ rằng Luật Nhân Quả là Luật Động và Phản Động; nó cai quản Vũ Trụ Càn Khôn không có loài nào thoát khỏi ảnh hưởng.

 

BA ĐIỂM CHÁNH TRONG CON NGƯỜI VÀ CÁC LOÀI VẬT

 

         Trong con người và các loài vật đều có ba điểm chánh sau đây:

1- H́nh thể.

2- Bản tánh của h́nh thể.

3- Sự sống Thiêng Liêng trong ḿnh.

         Khi ta gặp một con sâu rọm ḅ dưới đất, lông lá h́ hợm làm cho nhiều người phát sợ, ta hăy tự nói: Con vật nầy cũng có sự sống Thiêng Liêng như ta, nhưng nó đang ở vào một tŕnh độ thấp kém hơn ta, nó có sự tiến hóa riêng của nó. Ta hăy để cho nó được tự do như ta muốn được tự do vậy.

         Ta không nên giết nó. Chỉ trong trường hợp sâu bọ phá hoại mùa màng, cây trái, ta phải ra tay trừ khử. Đây là trường hợp bất khả kháng. Ta phải trọng sinh mạng của Con Người hơn là sinh mạng của sâu bọ.

         Ngoại trừ trường hợp phải tự vệ, ta không được phép sát hại những loài vật của Trời sanh.

 

SAO LÀ THỨC TỈNH SỰ SỐNG THIÊNG LIÊNG?

 

         Sự sống Thiêng Liêng ngủ mê trong ḷng Con Người hay sao mà phải thức tỉnh nó ?

Đây là lời nói bóng dáng.

Sự Sống Thiêng Liêng tức là Chơn Thần.

         Thức tỉnh Sự Sống Thiêng Liêng là phải làm sao cho Con Người tự biết ḿnh là Chơn Thần, một Điểm Linh Quang của Đức Thượng Đế.

CON NGƯỜI PHẢI TỰ BIẾT M̀NH LÀ CHƠN THẦN.

         Xin nhắc: Cũng như Đức Thượng Đế Con Người có ba Ngôi:

         Ngôi thứ nhất: Chơn Thần ( Monade ).

         Ngôi thứ nh́: Chơn Nhơn ( Ego – Individualité – Soi supérieur )

         Ngôi thứ ba: Phàm Nhơn ( Personnalité – Soi inférieur ).

 

1 - CHƠN  THẦN   

     

         Chơn Thần vốn là Con của Đức Thượng Đế ở tại cơi Đại Niết Bàn, đồng cảnh với Ngôi thứ nh́ của Thượng Đế là Vishnou.

         Khi con thú tiến hóa tột bực cao rồi th́ Chơn Thần xuống cơi Bồ Đề biến đổi hồn thú ra Thượng Trí và sanh ra Chơn Nhơn.

 

2 - CHƠN  NHƠN

 

        Chơn Nhơn là một phần nhỏ nhít của Chơn Thần. Chơn Nhơn hoạt động ở ba cơi: Niết Bàn, Bồ Đề và Thượng Thiên.

         Chơn Nhơn đang ở vào thời kỳ phát triển mà thôi, cho nên các Chơn Nhơn có những tŕnh độ tiến hóa khác nhau.

         Ta có thể nói, mặc dầu ở chung với các Đại Thiên Thần Vô Sắc Giới, có những Chơn Nhơn già và những Chơn Nhơn trẻ. Những vị có tuổi tác phải thông hiểu và kinh nghiệm nhiều hơn mấy vị c̣n trẻ và sinh sau. Dầu sao, đời sống của Chơn Nhơn cũng rộng lớn, phong phú và cao siêu hơn đời sống Hồng Trần của Phàm Nhơn.

 

3 - PHÀM  NHƠN

 

         Chơn Nhơn  sanh ra Phàm Nhơn để học hỏi và kinh nghiệm ở ba cơi dưới là: Hạ Thiên, Trung Giới (Dục Giới) và Hồng Trần. Phàm Nhơn là một phân thân của Chơn Nhơn.

 

PHÀM NHƠN RA SAO ?

 

         Kinh sách Đạo Đức nói theo cách tượng trưng như vầy: Phàm Nhơn là một người màu vàng lớn bằng ngón tay cái ngự tại trái tim.

Đức Leadbeater và nhiều vị đệ tử  khác thường thấy Phàm Nhơn như là một ngôi sao sáng rỡ.[[35]] 

         Có người th́ ngôi sao nầy ở tại Luân Xa giữa hai chân mày; có người th́ ngôi sao nầy ở tại Luân Xa của yết hầu, có người th́ ngôi sao nầy ở tại Luân Xa gần rún, v.v. . . Điều nầy vẫn tùy thuộc Cung mạng và ḍng giống của con người hay là sắc tộc.

         Phàm Nhơn là đại diện của Chơn Nhơn trong ba cơi: Hạ Thiên, Trung Giới và Hồng Trần.

         Nhưng Phàm Nhơn thường quên cội rễ và coi ḿnh như một cá nhân riêng biệt v́ nghe theo lời xúi biểu của ba thể: Thân, Vía, Trí.

 

SỰ LIÊN LẠC GIỮA BA NGÔI: CHƠN THẦN, CHƠN NHƠN VÀ PHÀM NHƠN

 

         Có đường giao thông giữa Chơn Thần với Chơn Nhơn và giữa Chơn Nhơn với Phàm Nhơn.

         Đường giao thông giữa Chơn Nhơn với Phàm Nhơn gọi là Antakarana. 

         Nhưng đường giao thông nầy thường bị nghẹt v́ sự hành động xấu xa, quấy quá của con người từ trong tư tưởng, ư muốn, cho tới lời nói và việc làm mỗi ngày. Con người cứ đi theo con đường cũ đă vạch sẵn.

 

TẠI SAO CHƠN SƯ BẢO ALCYONE PHẢI ĐI SÂU VÀO

NỘI TÂM ĐỂ T̀M ĐỨC THƯỢNG ĐẾ VÀ NGHE LỜI NGÀI ?

 

         Ở đây, Đức Thượng Đế là Chơn Thần. Chơn Thần vẫn đồng bản tánh với Đức Thượng Đế và ngày sau sẽ thành một vị Thượng Đế.

         Chơn Sư không bảo phải t́m Chơn Nhơn, v́ Chơn Nhơn chưa sáng suốt, chưa Thánh Thiện, chưa Thiêng Liêng như Chơn Thần.

         Khi được Điểm Đạo lần thứ nhất th́ Phàm Nhơn nhập một với Chơn Nhơn. Lúc nầy Chơn Thần xuống Phát nguyện.

         Tới khi được Điểm Đạo lần thứ năm, Chơn Nhơn nhập một với Chơn Thần. Con Người thành một vị Siêu Phàm.

         Chơn Nhơn không c̣n nữa. “Dưới Chơn Thầy” dạy một cách tuyệt đối, không có những biện pháp lưng chừng.

 

MUỐN THỨC TỈNH NGƯỜI, M̀NH PHẢI TỰ THỨC TỈNH M̀NH TRƯỚC.

 

         Chơn Sư đă bảo: Phải thức tỉnh Sự Sống Thiêng Liêng trong Con Người th́ mới cứu y khỏi bị tai hại.

         Thật sự, muốn dạy dỗ người, muốn thức tỉnh người th́ trước nhất ḿnh phải tự dạy dỗ ḿnh, tự thức tỉnh ḿnh th́ kết quả mới có phần tốt đẹp.

 

PHƯƠNG PHÁP TỰ THỨC TỈNH

 

         Dưới đây là phương pháp tự thức tỉnh ḿnh.

         Mỗi ngày 4 lần :

1 - Sớm mai khi mới thức dậy rửa mặt mày xong xuôi.

2 - Trưa 12 giờ hay 1 giờ.

3 - Chiều  6 giờ.

4 - Tối trước khi đi ngủ.

         Ngồi trên ghế hay chỗ nào cũng được, nói trong ḷng hay là nói nho nhỏ trong miệng câu nầy ba bận:

       “Om ! Tôi là Atman [[36]], Chơn Linh cao cả, toàn năng, toàn thiện, toàn  giác.  Ḷng Từ Bi, Bác Ái của tôi bao la bát ngát vô tận, vô biên.[[37]]

Tôi là một với Vạn Vật. Tôi thương yêu tất cả.

Tư tưởng tôi trong sạch.

Lời nói tôi trong sạch.

Việc làm tôi trong sạch.

         Xác Thân, Cái Vía và Cái Trí là ba thể của Trời sanh để phục vụ tôi. Tôi là chủ chúng nó. Chúng nó tuân theo mạng lịnh của tôi sai khiến. Om !”

Nên học thuộc ḷng những câu nầy

Nếu mỗi giờ mỗi niệm 1 , 2 câu th́ càng hay.

         Quí bạn hăy thực hành liên tục, từ 2 năm trở lên th́ thấy cái Trí bớt lao chao và Tâm của quí bạn bắt đầu trở nên sáng suốt. Sau nhiều năm tập luyện, quí bạn sẽ phân biện được dễ dàng điều nào lành, điều nào dữ, điều nào tà, điều nào chánh. Quí bạn sẽ ít lỗi lầm.

 

CÁCH THỨC TỈNH SỰ SỐNG THIÊNG LIÊNG

 

         Có 2 cách :

Một mặt: Đưa kinh sách Đạo Đức cho người ta xem để biết Bản Tánh Thiêng Liêng của Con Người và v́ sao Con Người là Tiểu Thiên Địa.

- Một mặt: Khi gặp bất câu là ai, già hay trẻ, nam hay nữ, hoặc khi bắt tay ai th́ nói trong ḷng như vầy:

         “Om ! Chị (Anh hay Em) là Atman, Chơn Linh cao cả, toàn năng, toàn thiện.

         Cầu xin ân lành của các Đấng Thiêng Liêng ban xuống cho Chị (Anh hay Em).     Om !”

         Câu nầy c̣n sự hữu ích khác nữa. Nó ngăn ngừa được t́nh dục không cho dấy lên khi đứng trước một sắc đẹp quyến rũ .

         Quí bạn Đạo, quí bạn thanh niên, học sinh, sinh viên, quí bạn hăy nhớ hai câu nầy rồi thực hành, quí bạn sẽ thấy hiệu quả tốt đẹp trong một thời gian sau. Nhưng xin quí bạn hăy bền chí.

         Cũng như mỗi buổi sớm mai mỗi tập thể dục thân thể mới trở nên tráng kiện, th́ ở đây cũng vậy, phải thực hành điều nầy mỗi ngày, v́ luôn luôn có cơ hội đưa đến.

         Tôi xin nói thêm: Muốn Hoàn Toàn Thành Công th́ trước nhất, quí bạn phải Diệt Tánh Ích Kỷ, Chia Rẽ, điều nầy thuộc về sự Phân Biện.

         Khi quí bạn gặp những người hung dữ, mê muội, xấu xa, ngu độn, dốt nát, khờ dại th́ quí bạn hăy tự nói trong ḷng:

        “Họ cũng là những Chơn Thần như tôi vậy, nhưng họ c̣n mắc vào ṿng tục lụy. Tới một ngày kia, họ cũng sẽ đi đến tŕnh độ tiến hóa của tôi hiện thời và họ cũng sẽ thành Chánh Quả. Vậy tôi phải t́m những phương tiện thích nghi giúp đỡ họ để họ mau trở nên sáng suốt.”

         Nói rồi cầu xin ân lành ban xuống cho họ.

         Sự hành động của quí bạn tạo ra một luồng từ điện êm đềm, ḥa nhă, cảm hóa được tất cả những người mà quí bạn gặp gỡ. Quí bạn sẽ được thiên hạ mến yêu và quí bạn sẽ làm cho ai nấy đều được đẹp ḷng.

o        o

o

THIÊN THỨ NH̀

 

ĐỨC TÁNH THỨ NH̀  -  Phạn ngữ là VAIRAYGA dịch là DÉTACHEMENT : ĐOẠN TUYỆT.

 

                    ĐOẠN TUYỆT gồm 5 khoản:

    1 -  DỨT TUYỆT SỰ HAM MUỐN.

    2 -  DUY CÓ MỘT ĐIỀU HAM MUỐN TỐT HƠN HẾT.

    3 -  NHỮNG PHÉP THẦN THÔNG.

    4 -  NHỮNG SỰ HAM MUỐN NHỎ NHEN.

    5 -  HĂY LO LẮNG VIỆC NÀO CÓ CAN  HỆ VỚI M̀NH.

 

1 - DỨT TUYỆT SỰ HAM MUỐN. (LA SUPPRESSION DU DÉSIR)

 

         Đối với nhiều người th́ Đoạn Tuyệt là một tánh tốt khó tập được, bởi v́ họ tưởng rằng những điều ham muốn làm ra người họ và nếu những điều ham muốn riêng tư, những thiện cảm và những bất thiện cảm của họ dứt hết rồi th́ họ không c̣n cái chi cả.

         Đoạn Tuyệt là một tánh hết sức khó tập cho tất cả mọi người. Sự ham muốn bắt đầu từ lúc ta mới sanh ra cho tới khi ta lớn khôn, càng ngày càng tăng thêm nhiều và đủ thứ ham muốn. Có hai loại ham muốn: Ham muốn tốt và ham muốn xấu.

         Luôn luôn con người đồng hóa với cái Vía nên cứ nói là: Tôi muốn, chớ thường không chịu ra công suy xét cho sâu xa coi sự ham muốn đó có chánh đáng không, có hạp lư không?

         Nếu muốn mà không được toại nguyện th́ đau khổ, than thở, tức tối, cho rằng ḿnh vô phước nên không đoạt được mục đích.

          Muốn thắng sự ham muốn, việc đầu tiên phải làm là: Luôn luôn quả quyết ḿnh là Chơn Thần chớ không phải là cái Vía. Cái Vía thường ham muốn chớ không phải thật là ḿnh muốn. Cứ nhớ như vậy rồi trước khi thực hành điều ḿnh muốn phải suy nghĩ và phân tách coi điều nào hữu ích nhiều, điều nào hữu ích ít th́ chắc chắn những sự lỗi lầm, những sự thất vọng sẽ giảm đi rất nhiều.

         Việc nầy như tôi đă nói: Lúc ban đầu thấy thật là mệt nhọc, thật là chậm chạp, nhưng chớ nên ngă ḷng; khi tập tánh chân thật cho có thói quen rồi th́ trực giác sẽ mở lần lần, sự phân biệt sẽ rất mau lẹ. Điều chi ban đầu thấy khó khăn, sau đều hóa ra dễ dàng, khi ta mỗi ngày mỗi cố gắng luyện tập.

         Nhưng họ chưa gặp Chơn Sư, chớ một khi đứng trước Thánh Dung hào quang rực rỡ th́ sự ham muốn nào cũng tiêu tan hết, chỉ trừ việc muốn sao được giống như Ngài vậy thôi. Nhưng mà trước khi có hạnh phúc đối diện với Ngài, nếu con thật chí quyết th́ con có thể tập tánh đoạn tuyệt được .

         Sự ham muốn không khác nào một cái cây có nhiều nhánh. Chặt nhánh nầy th́ c̣n nhánh khác. Phải chặt đứt ngang cây và đào hết gốc rễ th́ mới mong cây không c̣n phương nào tái sanh.

         Quả thật, khi ta được hữu phước đứng trước mặt Chơn Sư rồi, ta không c̣n ham muốn điều chi nữa, ngoại trừ việc: làm sao được giống in như Ngài vậy.

         Nhưng mà, tôi nói nhưng mà, hăy cẩn thận, khi trở lại cơi Trần, những sự cám dỗ ào tới lung lạc ta. Nếu không biết giữ ḿnh th́ ta thích sự giàu sang, quyền thế hơn là Địa Vị Người Đệ Tử. Ta bỏ con đường Đạo mà bước qua con đường vinh hoa, phú quí của Trần Tục. Từ xưa đến nay, ở xứ nào và ở thời đại nào cũng đă xảy ra những trường hợp như thế.

         Thiết tưởng, cũng nên biết tại sao đứng trước mặt Chơn Sư chúng ta không bao giờ tưởng quấy được?

          Bởi v́  lúc đó hào quang của Chơn Sư chói sáng rực rỡ, xinh đẹp vô cùng, nó bao phủ ta, che chở ta, không có một tư tưởng xấu nào ở ngoài xông vô hào quang của Ngài được. V́ thế tâm trí ta rất yên tịnh.

         Nhưng một khi ta xa Ngài rồi th́ cái Trí ta trở lại rung động theo thói quen của nó.

         Lẽ tự nhiên không sao tránh khỏi những tư tưởng không lành đến quấy rối ta. Ta quên lần lần những điều đă thấy.

         Thế nên ta phải luôn luôn nuôi trong trí những tư tưởng cao thượng, thanh bai, nhân từ v́ như thế th́ mới tránh được những tư tưởng thấp hèn đến cám dỗ. Chúng ta phải cương quyết như lời Chơn Sư đă dạy th́ sẽ tập được tánh Đoạn Tuyệt.

         Tánh Phân Biện đă chỉ rơ ràng: Những chuyện của phần đông con người tham muốn quá lẽ như là của cải, quyền thế th́ không đáng nhọc công chiếm hữu chút nào. Song khi nào thật hiểu tại làm sao vậy, chớ không phải nói ra mà thôi, th́ hết ham muốn mấy điều ấy nữa.

         Giàu sang là hạnh phúc ở giữa chốn phồn hoa đô hội, ai ai cũng ham muốn. Đó là lẽ tự nhiên, nhưng chúng chỉ dùng được nội trong một kiếp mà thường bị lạm dụng nên gây ra những khổ năo cho đời và cho cá nhân những người toại hưởng phú quí, vinh hoa.

         Các vị Đạo Sư đă sáng suốt và kinh nghiệm việc đời rất nhiều mới khuyên những ai muốn t́m Chân Lư nên tránh sự ham muốn những ǵ không được vĩnh viễn, trường tồn, chúng thường gây nên thảm họa.

         Nhưng không phải nói: “Tôi không tham vọng” là đủ, phải lo rửa ḷng cho trong sạch, không để cho nó nhiễm trần ai nếu muốn bước vào đường Đạo một cách an toàn .

         Có người bảo: Ham muốn được giàu sang và thế lực một cách chánh đáng để dùng hai phương tiện đó giúp cho nhiều người bớt đau khổ không phải là điều quấy, mà trái lại đáng khuyến khích.

          Có lư lắm. Nếu được đúng vậy th́ rất tốt, nên tán thành. Nhưng chỉ sợ khi nắm Uy Quyền và Tiền Bạc trong tay rồi th́ thay ḷng đổi dạ trở nên gắt gao, ích kỷ, quên hết Đạo Đức và làm những việc bất nhân, bất nghĩa.

         Chúng ta Đừng Tự Dối Ḿnh và phải sợ Luật Nhân Quả, nó luôn luôn hành động trước mắt ta.

 

II -  DUY CÓ MỘT ĐIỀU HAM MUỐN TỐT HƠN HẾT .

( Le seul bon désir )

         Tới đây cả thảy đều dễ, miễn là hiểu th́ đủ rồi. Nhưng có vài người không chịu đeo đuổi theo mục đích trần tục hầu về Thiên Đường hay để riêng ḿnh thoát khỏi đọa Luân Hồi. Con đừng phạm lỗi đó.

         Nếu con thật quên ḿnh con rồi th́ con đâu c̣n nhớ hỏi lấy con chừng nào Linh Hồn con mới được giải thoát, hay là nữa đây nó sẽ về ở cảnh Trời nào. Con hăy nhớ rằng mỗi việc ham muốn ích kỷ [[38]], dầu mục đích cao thượng thế mấy đi nữa, cũng sẽ là một sợi dây xiềng xích và ngày nào con không diệt hết các điều ham muốn th́ ngày đó con chưa thật rảnh rang để lo lắng cho công việc của Chơn Sư đâu.

         Hầu hết những người biết chữ đều có đọc những chuyện Phong Thần, Tây Du, Phong Kiếm Xuân Thu, Đông Du Bát Tiên, nên thích được tiêu diêu tự tại. Nhưng mà nên hiểu: ước ao là một việc, c̣n thực hành được là một việc khác nữa.

         Ngày nay, không thiếu chi người mới bước chân vào đường tu hành th́ mong thành Tiên, thành Phật. Người ta ngỡ rằng: khi hiểu được ư nghĩa vài cuốn kinh th́ đă Đắc Đạo thành Chánh Quả, hay là cứ niệm Nam Mô A Di Đà Phật măi tới ngày lâm chung th́ được rước về Tây Phương ngồi trên ṭa sen làm một vị Phật.

         Tôi tưởng nên hiểu nghĩa mấy chữ Nam Mô A Di Đà Phật và Tây Phương th́ mới biết niệm Phật có ích chi chăng?

         Namo, Nama, hay Naman có nghĩa là kính chào, xưng tụng Công Đức, Tôn Thờ hoặc “Tôi ẩn trú trong” như trong câu:

         Om ! Namo Narayana. Pháp dịch là: Om ! Salutation à Narayana.

         Narayana là Thượng Đế  Vishnou.

         Có thể dịch là:

         Om ! Đănh lễ Đức Thượng Đế Vishnou.

         C̣n câu:

         Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammâsambouddhassa. Pháp dịch là: Louange soit au Seigneur, le Très Saint, Parfait en Sagesse .

         Xin dịch là: Xưng tụng công đức Đấng Chí Tôn, Toàn Thiện, Toàn Giác hay là  Qui Y Phật.

         Niệm Na Mô A Di Đà Phật là xưng tụng công đức Phật A Di Đà hay là qui y Đức Phật A Di Đà.

         Theo phép, qui y với vị Phật nào th́ phải thực hành đúng như lời của vị Phật đó đă dạy.

         Nếu quả Phật chỉ niệm Lục Tự Di Đà khỏi phải tŕ trai, giữ giới, khỏi lo rửa ḷng cho trong sạch, khỏi tu nhân, tích đức, tha hồ muốn làm chi th́ làm, chừng bỏ xác phàm rồi cũng được về Tây Phương ngồi trên ṭa sen th́ đâu c̣n Luật Công B́nh của Trời Đất nữa. Những quả đă gây ra cả trăm kiếp trước c̣n dư lại và những quả tạo ra kiếp nầy tiêu tan cách nào?  Ai trả?

         Thử hỏi có ai đi mời một người mặt mày lem luốc ḿnh mẩy hôi hám, quần áo dơ dáy vô trong một Đạo Viện trang nghiêm lên ngồi trên cẩm đôn ngang hàng với các vị Đạo Sư  y phục toàn là lụa trắng viền chỉ vàng không?  Chắc chắn là không rồi. Cũng thế đó, trên những cảnh giới cao siêu và thiêng liêng như Tây Phương là một th́ luật lệ c̣n nghiêm khắc hơn ở Trần Thế cả trăm lần.

         Nếu ta suy nghĩ một chút th́ thấy Đức Thích Ca c̣n thua xa vị bày ra Pháp Môn nầy, bởi v́ xưa kia Ngài không biết niệm Phật nên không truyền cho các Đệ Tử cách tu hành như thế đó.

         Nói theo kinh sách, kiếp nầy Đức Bồ Tát [[39]] là Đức Thích Ca phải vào rừng sâu tu luyện trong 6 năm mới thành Phật. Sau khi Đắc quả Vô Thượng [[40]] Chánh Đẳng, Chánh Giác Ngài mới ra độ đời. Trong ṿng 45 năm Ngài đi thuyết Pháp từ thành nầy qua thành kia bên Ấn Độ. Tới đâu Ngài cũng chỉ cho chúng sanh biết con đường giải thoát là Đạo Bát Chánh. Ai bền ḷng noi theo đó mà đi tới th́ sẽ được nhập vào Niết Bàn.

         Đức Phật đă hy sinh v́ hạnh phúc của nhân loại.

         Trái lại nếu chỉ lo cho một ḿnh ḿnh được về Tây Phương Cực Lạc, tiêu diêu, tự tại, bỏ mặc chúng sanh trong biển trầm luân khổ hải, chưa biết ngày nào mới thoát ra khỏi chốn lầm than cơ cực, th́ là c̣n tánh ích kỷ, tham vọng, chưa xứng đáng làm Đệ Tử Chơn Sư, nói chi là tới việc thoát đọa luân hồi và lên tới bậc Toàn Giác.

         Phải chăng v́ muốn phấn khởi ḷng sùng tín của Tân Tín Đồ mà người ta đưa ra h́nh ảnh của một giấc mơ tốt đẹp vô cùng.

         Nhưng mà nói rằng tu Tịnh độ như thế mà thành Phật, ai tin được cứ tin.

         Tôi không quan niệm điều đó được, tôi xin giải bày ra sau đây:

         Theo ngôi thứ trên Thiên Đ́nh th́:

      1)- Cấp bậc thứ nhất là Tu Đà Huờn được một lần Điểm Đạo.

      2)- Cấp bậc thứ nh́ là Tư Đà Hàm được hai lần Điểm Đạo.

      3)- Cấp bậc thứ ba là A Na Hàm được ba lần Điểm Đạo.

      4)- Cấp bậc thứ tư  là La Hán được bốn lần Điểm Đạo.

      5)- Cấp bậc thứ năm là A-Sơ-Ca (Aseka) hay là Atila (Chơn Tiên) được năm lần Điểm Đạo.

      6)- Cấp bậc thứ sáu là Đế Quân (Chohan) được sáu lần Điểm Đạo.

      7)- Cấp bậc thứ bảy là Bồ Tát (Bodhisatva) được bảy lần Điểm Đạo. Ngài là vị Chưởng Giáo, Huấn Luyện Sư của các vị Thần, Tiên trên Địa Cầu.

      8)- Cấp bậc thứ tám là Phật Đà (Bouddha) được tám lần Điểm Đạo.

         Như thế, không biết vị Tu Đà Huờn phải tu trong bao nhiêu kiếp mới trải qua 7 cấp bâc để làm một vị Phật.

Tôi xin đưa ra một bằng chứng cụ thể cho quí bạn xem.

Muốn thành Phật th́ trước phải ở ngôi vị Bồ Tát.

         Đức Thích Ca sau khi thành Phật rồi Ngài giao Ngôi Bồ Tát lại cho Đức Di Lạc (Seigneur Maitreya).

         Tới ngày nay, 2.500 năm đă trôi qua, Đức Di Lạc vẫn c̣n ở Ngôi Bồ Tát chớ chưa thành Phật. Vậy th́ từ cấp bậc Bồ Tát lên cấp bậc Phật khó khăn là dường nào. Có đâu dễ như trở bàn tay như người ta tưởng.

         Tôi phải giải rành rẽ ra đây cho quí bạn thấy việc tin rằng một người thường chưa được vào bậc Tu Đà Huờn, chỉ có niệm Lục Tự Di Đà mà thành Phật về Tây Phương là cơi của Đức A Di Đà ngự trị, có đúng với sự thật hay không?

         Chúng ta phải có đức tin, nhưng mà đức tin phải sáng suốt chớ không phải đức tin mù quáng, đụng đâu tin đó. Khi nghe nói kinh Phật th́ tin liền, không dám xem xét coi có hữu lư hay không?

         Tôi biết nhiều bài ca Tiên đọc nghe rất hay, rất êm tai, làm cho ḷng người phơi phới, muốn lánh xa ṿng tục lụy.

         Tỷ như bài sau đây:

Chốn Bồng Lai là nơi thanh tịnh,

Thú chiều ưa trăng cảnh, nước ngời.

Gió thanh quét sạch bụi đời,

T́nh trong sơn thủy, cuộc ngoài Càn Khôn.

Lần qua khỏi chốn Hồng Môn,

Công danh biệt loại cầm tôn như nhàn.

Gậy lê ḍ chốn Quảng Hàn,

Dấu Kiều c̣n tạc Minh Hoàng thuở xưa.

Hội Đào một tiệc say sưa,

Mê man chẳng thấm, ngàn thừa xuân thu.

Trường sanh có thuốc nhiệm mầu,

Hỏa vàng sẵn nấu một bầu đơn sa.

Nghêu ngao vui thú yên hà,

Sớm vào biển Thánh, tối ra non Thần.

Trải qua một cuộc phong vân,

Tay nâng bầu cúc, chân lần đám mây.

Ṭng reo v́ gió lung lay,

Hơi đờn thấp thoáng bên tai đưa vào.

Ḍ lần khỏi chốn ba đào,

Cuộc cờ vô sự anh hào cũng mê.

Mượn chưng huê thảo làm đề,

Tiếng vàng nấm đất thêm ghê anh hùng.

Mây giăng mấy khúc giao long,

Họa đồ cậy có Hóa Công vẽ vời.

Ba non trăng biển của Trời,

Gió ḥa trăng rộng, nước ngời như xưa.

Hoa thơm trăng tỏ, t́nh ưa,

Suối đờn tai đẹp, chim ca ấy nhàn.

Ĺa nơi bệ ngọc đền vàng,

Lánh ṿng Trần Tục, vui đàng Thiên Thai.

Luyện ḿnh chẳng nhiễm trần ai,

Linh đơn giồi luyện, vân đài dựa nương.

Phút chơi đến cảnh Nhạc Dương,

Hềm v́ phong tục không đường lễ nghi.

Biết ai là kẻ tương tri,

Đồng tâm đồng chí có kỳ thảnh thơi. [[41]]

o    o

         Ai đọc bài nầy lại không thích cảnh Tiên và tầm Tiên học Đạo. Nhưng nếu chưa làm chủ được ba thể: Thân, Vía, Trí th́ e cho:

                    Tuy say cơi Tĩnh, chưa tan ḷng Phàm.

         Bài “Cơi Trần, cơi Tiên” [[42]] trong “Bích Câu Kỳ Ngộ” dưới đây mới giải rành cuộc đời và thực tế hơn.

                                     

CƠI TRẦN , CƠI TIÊN

----------

Rằng coi cho thấu cuộc đời,

Dàm danh khóa lợi mấy người thế gian.

Trời thu, mây hợp mây tan,

Ngày Xuân, hoa nở, hoa tàn mấy lăm.

Xem trong tám, chín mươi năm,

Bóng câu cửa sổ dễ cầm măi ru.

Thịt xương gởi đám Diêm Phù,

Sanh sanh, hóa hóa trong ḷ Hồng Quân.

Mấy ai vượt khỏi ḷng trần,

Mê sông ch́m bể, thế nhân đă đầy.

Anh hùng những mặt xưa nay,

Trăm năm nát mấy, cỏ cây cũng là.

Lần lần tháng lụn ngày qua,

Má hồng mấy phút đă ra bạc đầu.

Thôn hoang mấy nấm cỏ khâu,

Ḱa nền Đồng Tước, nọ lầu Nhạc Dương.

Chưa đầy một cuộc tang thương,

Non đồng cũng lở, núi vàng cũng nghiêng.

Sao bằng ngày tháng Cung Tiên,

Vui trong tám cơi, xuân riêng bốn mùa.

Dọc ngang bốn bể, năm hồ,

Khắp trong ba đảo, chín châu mặc dầu.

Ra vào Kim Khuyết, Quỳnh Lâu,

Treo tranh yên thủy, dắt bầu Kiền Khôn.

Đi về Tuyết Điểm hoa thôn,

Thông rền nhịp phách, suối tuôn ngón đàn.

Một ngày trong thú thanh nhàn,

Mấy trăm muôn cảnh nhân hoàn đọ sao?

Khuyên chàng (Tú Uyên) sớm nghĩ  lấy nao,

Gà lồng, hạc nội bên nào là hơn .

x        x

x

Mảng riêng sanh những bàng hoàng,

Tuy say cơi Tĩnh, chưa tan ḷng Phàm.

Trót xưa túi sách, con gươm,

Ví ta Sào Hứa, ai làm Y, Chu.

Thưa rằng: đă đứng trượng phu,

Sự đời vinh nhục chi cho bận ḷng.

Ví tham ngàn tứ muôn chung,

Con chim bay măi cũng trong khuôn Trời.

Làm chi cho bạn Tiên cười,

Ai vui yên hạc, ai chơi yên hà.

Vởn vơ trong đám phồn hoa,

Ba mươi sáu động, ai là chủ nhân .

x        x

x

         Bài nầy cũng như bài Ca Tiên để riêng cho các bạn nào muốn lánh xa ṿng tục lụy mà theo con đường tắt. Nó không hạp với những bạn c̣n chen lấn trên đường đời.

         Nhưng học Đạo v́ Đạo chứ không nên v́ ích kỷ cá nhân mong thoát kiếp trầm luân làm Tiên, làm Phật. Sự ham muốn ích kỷ dầu mục đích cao thượng thế mấy đi nữa cũng là sợi dây oan nghiệt buộc trói con người vào bánh xe Luân Hồi.

         Cũng có người sợ chết, nên đi tu mong luyện được phép Trường Sinh Bất Tử như trong bài Ca Tiên đă nói.

         Xác phàm của chúng ta chỉ dùng bực trung trong ṿng 100 năm trở lại, dầu có Kim Đơn kéo dài sanh mạng tới một, hai ngàn năm, chung cuộc vẫn phải bỏ nó đặng lấy cái xác mới nhẹ nhàng hơn, tinh tấn hơn. Cũng như một cái xe hơi, ta có thể sửa chữa máy móc, nhưng mà tới một giới hạn kia, ta phải chịu, không c̣n phương nào nữa. Tốt hơn là mua một cái xe mới hạp với năng lực của ḿnh.    

         Ta cũng nên nhớ điều nầy: nếu Tinh thần tiến hóa th́ Vật Chất phải tiến hóa theo cho kịp, như vậy Tinh Thần mới dùng nó được. Nhược bằng Vật Chất c̣n tŕ trệ th́ Tinh Thần phải bỏ nó đặng lấy Vật Chất khác hạp với ḿnh; có thế Tinh Thần mới phô diễn được quyền năng của ḿnh.

         Người biết Đạo không sợ chết, song phải giữ ǵn thân xác cho khỏe mạnh trong nhiều năm đặng học hỏi và giúp người tùy phương tiện.

         Cũng không cần phải hỏi: nữa đây tôi về Thiên Đường ở cơi nào?

         Theo Luật Nhân Quả, Con Người xứng đáng với địa vị nào th́ sẽ được đưa ngay vào địa vị đó, trên Thiên Đ́nh không có sự tư vị, bất công như ở Trần Tục.

         Hơn nữa, vị Đệ Tử thay mặt cho Chơn Sư làm những việc đại hữu ích cho Thiên Cơ. Nếu c̣n ham muốn cái nầy, cái kia th́ phải t́m phương thế thỏa thích cho được sự ham muốn. Như vậy mất nhiều th́ giờ, đâu c̣n rảnh rang đặng lo công việc của Chơn Sư cho được hoàn toàn.

         Thế th́ trong mọi trường hợp phải suy nghĩ kỹ lưỡng đặng Phân Biện và Đoạn Tuyệt những điều thật là không quan trọng hay cần thiết, mà cũng đừng quên rằng tất cả đều vô thường.

         Khi những ham muốn thuộc về Phàm Nhơn con tiêu mất rồi, cũng có thể c̣n một sự ham muốn là thấy kết quả công việc của con làm. Nếu con giúp ai th́ con muốn biết con giúp người đó tới bực nào, có lẽ con cũng muốn cho người đó thấy con giúp và biết ơn con nữa. Điều nầy vẫn là một điều ham muốn và cũng gọi là chẳng có ḷng tin cậy.

         Khi con ra sức giúp th́ tự nhiên có kết quả, dầu con thấy hay là không thấy cũng vậy. Con thạo Luật Trời th́ con biết rằng phải có như thế luôn luôn. Vậy th́ phải làm lành bởi chưng ưa thích việc lành, chớ không phải trông mong được ban thưởng. Phải làm việc v́ chưng ưa thích sự làm việc chớ chẳng phải trông mong thấy cái kết quả. Con phải xả thân giúp đời v́ con thương đời và bởi tại con không c̣n làm cách nào khác hơn được.        

         C̣n ở trong ṿng Trần Tục, ai ai cũng muốn thấy kết quả những việc ḿnh làm, nhưng trong Đạo Đức th́ khác hẳn.

         Chúng ta phải làm việc v́ thương đời, v́ bổn phận và đồng thời phải làm việc cho Cơ Tiến Hóa, chớ không phải trông mong hưởng kết quả.

         Thật sự, khi ta cố tâm làm việc th́ việc nầy mới dứt, việc khác đến rồi. Ta không có th́ giờ xem xét việc đă làm như thế nào, hay là đọc lại quyển sách mới viết xong. Ai đă làm việc và có kinh nghiệm rồi, nhất là các nhà Huyền Bí Học, mới biết những lời nói trên đây là đúng.

         Theo thế thường, khi ta giúp ai th́ muốn cho người đó biết ta giúp hay là khi ta cho ai một món đồ, ta cũng muốn cho người lănh vật ta cho phải tỏ lời cám ơn ta.

         Như thế th́ điều nầy là một cuộc buôn bán, đổi chác, chớ không phải là một sự thi ân .

         Lời xưa có nói:

                                   Thi ân bất cầu báo,

                                   Cầu báo bất thi ân.

         Đấng Christ há chẳng đuổi bọn buôn bán ra khỏi đền thờ và nói với họ rằng: “Các ngươi đừng làm cho nhà của Cha ta biến thành cái nhà thương măi.” (Jean -  11-16).

         Mặc dầu người thi ân không cầu báo, người thọ ân cũng phải nhớ ân người đă giúp ḿnh trong lúc hữu sự.

         Nếu kiếp nầy ta không trả được, xin hẹn lại một vài kiếp sau, đừng để mang tiếng Vong Ân, Bội Nghĩa.

         Về điểm nầy, tôi xin mở một dấu ngoặc để thuật trường hợp của một vị Chơn Sư cho quí bạn nghe.

         “6.000 năm trước, Ngài là một nhà quyền quí cao sang. Xứ Ngài lại bị quân Ai Cập chiếm đóng. Ngài bị bắt làm tù binh. Trong đạo binh sanh cầm Ngài có hai vị ngày nay là Sinnett và Đức Leadbeater.

         Thuở đó, Sinnett là một ông Hoàng Ai Cập thanh thế rất lớn, nhưng cũng phải ra trận như một tên lính thường. Theo tục lệ Ai Cập thuở xưa, tù binh thuộc về cấp bực nào th́ được đối xử ngang hàng cấp bực đó, nếu họ không t́m cách trốn đi.

         Thế nên Ngài được Sinnett trọng đăi. Ngài ở trong nhà Sinnett hai năm. Trong thời gian nầy Ngài rất thích những cuộc lễ bái ở một đạo viện lớn do ông thân của Sinnett xây cất và có rất nhiều uy tín. Nhờ Sinnett giúp đỡ, Ngài được vào đạo viện tu hành. Từ đó cho tới nhiều kiếp sau liên tục, Ngài tiến bộ một cách phi thường trên con đường Huyền Bí Học.

         Hiện giờ, Ngài lên tới địa vị Đế Quân. Khi Ngài muốn t́m người xứng đáng đem phổ biến giáo lư Thông Thiên Học, Ngài ḍm xuống cơi Trần th́ thấy người ơn của ḿnh thuở xưa đầu thai làm Sinnett rất thông minh và chiếm một địa vị quan trọng trong xă hội. Ngài bèn chọn Sinnett, đem Huynh lại gần Ngài để dạy dỗ bằng cách trả lời những câu hỏi của Huynh nêu ra. Những câu trả lời nầy bây giờ đă xuất bản thành sách dưới nhan đề: “Những bức thư của Chơn Sư M. và K.H. gởi cho Sinnett” (dịch ra Pháp ngữ: “Lettres des Mahatmas M. et K.H. à A.P.  Sinnett” có bán tại Editions  Adyar, 4 Square Rapp 75.007 Paris với giá 59 f 75).

         Làm như thế Chơn Sư đă đáp ơn Sinnett trọn vẹn. Nhân quả tạo ra giữa Sinnett và Ngài trong quá khứ đă chấm dứt kiếp nầy.

         Xin nói: Luôn luôn ai giúp Chơn Sư một th́ Ngài trả lại mười.

         Trên con đường Huyền Bí Học, một người chân thành học Đạo không bao giờ quên ơn những vị đă khai sáng cho ḿnh và dắt ḿnh tới Cửa Đạo để tiến đến cơi Trường Sanh Bất Tử hay là đă giúp ḿnh bất cứ về phương diện nào.

         Tôi tưởng cũng phải nói rằng: Xưa kia Chơn Sư không muốn cho phổ biến những bức thư nầy, [[43]] v́ có nhiều câu trả lời cho những việc riêng, đọc giả sẽ hiểu lầm.                                                                                                                  

         Sau khi Huynh Sinnett từ trần th́ không hiểu tại sao lại có việc xuất bản mấy bức thư đó.

         Bây giờ thử hỏi: Ai là người làm việc cho Đức Thượng Đế mà không chịu lănh sự ban thưởng chăng?

         Có chứ, song ít lắm, chỉ có những vị đệ tử chân thành, các nhà Huyền Bí Học cao thâm hiểu được Cơ Tiến Hóa nên sẵn sàng hy sinh v́ hạnh phúc của nhân loại.

         Ngoài đời, những người làm việc phước thiện đều mong mỏi kiếp sau đầu thai lại được an hưởng giàu sang, chớ ít khi nghe nói v́ thương người đói rét mà ra tay cứu giúp.

         Xin nhắc lại: khi ta làm một việc lành mà nhân danh Chơn Sư hoặc Đức Phật, Đức Chúa mà làm th́ công đức đó sẽ nhập vào kho Thần lực của Quần Tiên Hội, Tiên Thánh sẽ dùng để ban rải cho đời. Trong Đạo Đức gọi là trong Hữu vi có Vô vi.

         Thực hành như thế th́ không bị việc làm trói buộc vào bánh xe Luân Hồi, bởi v́ người làm lành hay làm ác kiếp sau cũng phải đầu thai lại để hưởng quả lành hay lănh quả ác của ḿnh đă tạo ra.

         Chung quanh ta là những Luật Trời, chúng hành động luôn luôn, không giờ phút nào ngừng nghỉ và thứ nào theo thứ nấy, dầu ta thấy hay không thấy, biết hay không biết điều đó cũng không có chi thay đổi được chúng hay ngăn cản được chúng.

         Hễ Luật là Luật. Con người đừng vi phạm.

         V́ mấy lẽ trên đây mà Chơn Sư mới dạy Alcyone phải hy sinh bằng cách làm lành v́ ưa thích việc lành chớ không phải trông mong được ban thưởng; làm việc v́ mến sự làm việc chớ không trông mong thấy cái kết quả; xă thân giúp đời v́ thương đời chớ không làm điều chi khác nữa được.

         Trong Trí của Chơn Sư chỉ có một tư tưởng mà thôi: ấy là Phụng Sự.

         Nếu ta muốn được Ngài thâu nhận th́ chỉ có một điều phải làm là: Luôn luôn lo giúp ích cho người mà không bao giờ v́ Tư Lợi.

 

III -  NHỮNG PHÉP THẦN THÔNG ( Les pouvoirs psychiques )

 

         Con đừng ham những phép thần thông, con sẽ có khi Chơn Sư xét đă đúng ngày giờ. Hễ cưỡng bách luyện tập để mở mang mấy phép đó th́ thường mang đủ thứ phiền năo.          

         Khi mới học Đạo người ta thường ham có những phép Thần Thông. Nghe những việc kêu mưa, hú gió, sai thần, khiến quỉ, chỉ đá hoá vàng th́ người mộ Đạo rất thích ư và mong phô trương được quyền năng đó. Nhưng cũng nên hiểu những tai hại do chúng nó gây ra khi sử dụng không đúng phép hay là luyện sái cách.

 

NHỮNG QUYỀN NĂNG NẦY Ở ĐÂU ?

 

         Trước hết ta phải biết những quyền năng nầy ở đâu?

         Chúng ở trong ḿnh ta và cũng ở ngoài ta nữa tức là tự lực và tha lực.

 

TỰ  LỰC

 

Bên Chánh Đạo luôn luôn theo phương pháp Raja Yoga.

Phải tŕ trai, giữ giới, làm chủ giác quan, định trí, tham thiền.

         Phải ra công luyện tập từ kiếp nầy qua kiếp kia. Nếu kiếp nầy mà thành  công  trong vài năm th́ điều đó chứng tỏ mấy kiếp trước đă luyện tập rồi. Ảnh hưởng của kết quả truyền lại kiếp nầy chớ không phải chỉ trong một thời gian ngắn ngủi mà được sáng suốt đâu.

 

THA  LỰC

 

         Tha lực là nhờ sức ngoài. Dùng bùa chú, Chơn ngôn, sai thần khiến quỉ, cũng gọi là Ngũ Hành hay Tinh Linh.

         Thuở xưa, tại Ai Cập có một quyển sách viết bằng màu sắc. Mỗi màu sắc đều có ảnh hưởng đến một loại Tiểu Thần, Tinh Linh. Người nào chép lại mà cho màu sắc sái th́ bị tội tử h́nh.

 

KHOA  LUYỆN  PHÉP  TẮC

        

         Những Phép Thần Thông tiếng Bắc Phạn gọi là Siddhi, c̣n  Nam Phạn gọi là Iddhi.

         Phật Giáo gọi Khoa Luyện Phép Tắc là Iddhi Vidhahâna. C̣n quyển kinh dạy luyện phép gọi là Visuddhi Marga.

         Có hai phương pháp luyện tập:

            Phương pháp thứ nhất là: Lokottara.

            Phương pháp thứ nh́ là: Lankika.

         Theo phương pháp Lokottara phải Thiền Định để mở mang Tâm Thức. Những quyền năng nầy không mất, chúng theo Con Người từ kiếp nầy sang kiếp kia.

         C̣n theo phương pháp Lankika, Hành Giả dùng mùi hương, Ngải nghệ, thuốc men, bùa phép, thần chú . . . . Những quyền năng nầy không được bền bỉ, có khi dùng chưa được nửa đời người mà chúng nó đă tiêu mất rồi v́ Luật Nhân Quả.

 

VÀI PHÉP THẦN THÔNG

 

         Tôi xin kể vài chuyện về phép thần thông và những tai hại có thể xảy ra cho quí bạn nghe trước khi bàn tới chúng nó.

 

CHUYỆN ĐẠO SĨ  SIM  BANDAI  LÀM RA SẤM SÉT

        

         Báo “Echo du Merveilleux” bên Pháp, ngày 15 Novembre 1905 có đăng bài nầy vốn của ông Dina thuật lại.

         Ông Dina nói: “Tại bờ biển phía Tây Bắc cù lao Madagascar, ngay trước mặt cù lao Nossi-Bé, có một vị Đạo Sĩ tên Sim Bandai muốn làm sấm sét giờ nào cũng được.

         Một bữa kia, tôi để một trái bầu ở dưới đất rồi xin Đạo Sĩ cho xem phép mầu của ông. Đạo Sĩ niệm chú, tức th́ một đám mây hiện ra, rồi gió thổi mạnh. Th́nh ĺnh một lằn chớp nháng xẹt xuống ḅ lăng quăng dưới đất trước mặt tôi và nhiều người tới chứng kiến. Tiếp theo đó một tiếng sét nổ vang đánh tan nát trái bầu của tôi, rồi th́ mây tan gió tạnh.”

         Nếu tôi nhớ không lầm th́ trong cuốn  A l’ombre des monastères Tibétains  -  Dưới bóng Thiền môn Tây Tạng  -  ông Jean Marquès Rivière có nói rằng: Ông thấy một vị Lạt Ma (Lama) làm sấm sét giết một đứa bé chăn chiên v́ nó phá ông. Tôi chẳng rơ có một nguyên nhân bí mật nào nữa hay không, chớ nói việc phá phách không phải là tội đáng chết. Dầu sao người tu hành cũng không nên dứt ḷng từ bi.

 

LÀM  MƯA

 

CHUYỆN MỘT NHÀ PHÙ THỦY Ư  SIGNOR B. LÀM MƯA 

        

Trong quyển I, “Lịch sử chính xác của Hội Thông Thiên Học” (Histoire authentique de la Société Théosophique) [[44]] trang 67, Đại Tá Olcott có thuật chuyện một nhà phù thủy Ư tên Signor B. làm mưa trước mặt ông và Đức Bà Blavatsky.

         Đại ư như sau đây :

         “Một buổi chiều mùa thu năm 1875, ngay sau khi Hội Thông Thiên Học mới thành lập, một nghệ sĩ Ư tên Signor B.  mà cũng là một nhà phù thủy, đến viếng bà Blavatsky tại nhà riêng của bà tại New York. Anh nói rằng anh có thể sai khiến Thần Phong Ba làm mưa. Anh trổ tài cho chúng tôi xem.

         Anh mời bà Blavatsky và tôi đi ra bao lơn của pḥng khách ở phía sau, anh căn dặn chúng tôi yên lặng và trầm tĩnh tuyệt đối, dầu có cái chi xảy đến cũng mặc.

         Đêm đó trăng tṛn, không có một chút mây. Anh lấy ra từ trên ngực anh một tấm cạt tông lối 1 tấc 75 bề ngang và 2 tấc 70 bề dài, trên một phía cạnh có những ô vuông, trong mỗi ô có một h́nh Kỷ Hà Học kỳ dị vẽ bằng sơn nước. Anh không muốn cho tôi rờ tới hay là coi h́nh đó.

         Anh cầm tấm cạt tông giơ ngay mặt trăng. Tôi đứng đằng sau anh, tôi thấy lưng anh cứng đơ, dường như nó bị ảnh hưởng của ư chí anh.

         Anh chỉ cho chúng tôi xem mặt trăng. Từ phía đông nguyệt cầu tuôn ra những hơi đen thui dày đặc như những đám mây đen khi trời sắp nổi cơn dông tố, hay nói đúng hơn đó là những khói từ trong ống khói tàu bay lên cuồn cuộn rồi tỏa ra về phía chân trời. Tôi không nín được phải kêu lên một tiếng. Anh phù thủy nắm cứng cánh tay tôi như một cái bàn kẹp, anh bảo tôi “Im đi”. 

         Khói đen giống như chiếc quạt xoè ra, bổng chốc che khuất mặt trăng. Chị Hằng không c̣n chiếu sáng nữa, rồi th́ một đám mưa lớn ào ào rơi xuống làm cho chúng tôi phải vô nhà. Lúc đó không có sấm sét, không có lằn chớp nháng, không có gió, mưa trọn một khắc đồng hồ.

         Dưới ánh sáng của ngọn đèn bạch đăng, tôi thấy anh cắn răng, trên gương mặt anh lộ vẻ hung hăng của những người đang đánh lộn với nhau. Thật vậy, anh phù thủy mới chiến đấu với bọn ngũ hành làm mưa. Anh lật đật từ giă chúng tôi, trời đă khuya, tôi cũng ra về.”

         Anh Signor B. có tài làm mưa, nhưng theo lời của Đại Tá Olcott nói về cử chỉ của anh th́ anh phù thủy Ư nầy c̣n thua những vị Đạo Sĩ bên Tàu. Đạo Sĩ chỉ niệm một câu chơn ngôn tức th́ mây kéo tới mù mịt rồi mưa ào xuống, họ đâu có phải chiến đấu với bọn Ngũ Hành làm mưa.

         C̣n những Đại Lạt Ma bên Tây Tạng tài phép cao cường, một trận băo thổi tới dữ dội, họ vẽ một lá bùa tức th́ trận dông đổi hướng liền. Nhưng hăy cẩn thận. Đừng khoe tài làm nghịch ḷng Trời ắt sẽ mang tai họa, trốn tránh đường nào cũng không khỏi đâu.

         Thật là:

Có tài đừng cậy chi tài,

Chữ tài liền với chữ tai một vần .

 

BÁN  GIÓ

        

         Lối năm 1670, trong thế kỷ thứ 17, Bác Sĩ  Lamartinière có xuất bản 4 cuốn sách nhan đề “Cuộc du lịch ở những xứ miền Bắc” (Voyage des pays septentrionaux).

         Trong đó ông có nói về những tín ngưỡng lạ lùng của những người Lapons [[45]] và những người Islandais mà nhất là “Chuyện những người bán gió” (Les vendeurs du vent).

         Xin tóm tắt câu chuyện Bán Gió ra dưới đây:

         . . . Biết rằng dân chúng trên Bắc Cực và những người tại bờ biển Finische Scher ou mer Finie - Biển cuối cùng, hầu hết là những nhà phù thủy muốn có gió chừng nào cũng được. Chúng tôi cho chiếc tàu ra biển và đi kiếm mua gió.

         Trong một làng kế cận, chúng tôi nói cho vị Đại Pháp Sư ở đó biết chúng tôi muốn đi đến một chỗ kia và hỏi ông có thể cho một trận gió đưa chúng tôi tới Nourmans Koimore không?

         Ông bằng ḷng với giá cả xong xuôi là 10  Kroner tương đương với 20  Livres  tiền Pháp thuở xưa và một cân thuốc lá của chúng tôi cho.

         Họ mới cột tại cánh buồm của cột buồm đàng trước một mảnh buồm có ba gút.

         Ra khỏi bến, thuyền chủ mở gút thứ nhất, tức th́ một trận gió thổi về hướng Tây Tây Nam rất tốt đưa chúng tôi đi 30 dậm cách xa Maelstroom, khỏi mở gút thứ nh́. Kế đó, gió bắt đầu đổi hướng và muốn thổi về hướng Bắc. Thuyền chủ mở gút thứ nh́, một trận gió thuận buồm đưa chúng tôi tới những núi trước Rouxella.

         Khi gần tới mũi Cap th́ gió lặng. Thuyền chủ mới mở gút thứ ba, một trận gió thổi về hướng Bắc Tây Bắc rồi trong giây phút biến thành một trận dông đùng đùng nổi dậy dường như muốn làm cho trời sập đặng đè chết chúng tôi.

         Đức Thượng Đế muốn tàn sát chúng tôi về tội kết liên với bọn phù thủy. Chúng tôi không c̣n nắm dây lèo buồm được nữa, chúng tôi để cho chiếc tàu trôi theo những lượn sóng.

         Qua ngày thứ ba, một trận cuồng phong thổi tàu chúng tôi lên một tảng đá lối 30 dặm phía trên mũi Cap.

         Mỗi người đều la lên: “Cầu xin Thượng Đế vui ḷng tha thứ những lỗi lầm của chúng tôi.”

         Nhờ một sự may mắn lạ thường, tàu chúng tôi chỉ bể một lỗ dưới lườn. Chúng tôi phải bôm nước ra. Tới ngày thứ tư gió yên lặng, thời cơ thuận tiện.

         Chúng tôi mới cho thổ dân ở Varanger rượu mạnh, thuốc lá, xin họ đừng cản trở lúc chúng tôi khởi hành và nhờ họ cho chúng tôi một trận gió tốt. Họ biết ơn chúng tôi cho nên 5 ngày sau, một trận gió êm dịu đưa chúng tôi ra khỏi biển nhỏ nầy.

         (Trích trong quyển Histoire du Spirituellisme expérimental par C. De Vesme page 138).

         Truyện Tàu cũng có nói nhiều người học được phép Tiên nên khi niệm Chơn Ngôn th́ cuồng phong nổi lên làm cho cát bay, đá chạy, cây cối ngă rạp. Đó là những việc có thật, tin cũng được, không tin cũng được. 

 

PHÉP  CẦM  MÁU

        

         Nhà văn sĩ Anh Horace Leap được nhiều người biết tiếng, sau khi đi du lịch bên Na-Uy (Norvège) trở về có viết một bài đăng trong tạp chí Huyền Bí Học Occult Review 1924 nói về phong tục của những người Lepons. Trong đó có chuyện phép cầm máu như sau đây:

         Ông Leap nói: “Ông Karl Tiren người Thụy Điển là một viên quan cao cấp tại xứ Laponie có thuật cho tôi biết rằng những người Lapons có dạy ông một câu Thần Chú để cầm máu.

         Ông có thử nhiều lần thấy nó rất linh nghiệm. Một buổi chiều kia, người ta tới cho ông hay có một người bị xe lửa cán đứt một cánh tay. Người ta chạy đi mời Bác sĩ lại nhưng chắc chắn Bác sĩ không đến kịp để cứu y đâu. Y sẽ chết trong vài phút nữa v́ mất máu quá nhiều. Ông lật đật chạy đến, ông tới vừa lúc nạn nhân con mắt ngó lên, c̣n môi th́ mấp máy. Cánh tay y bị đứt ĺa gần chả vai, máu chảy tuôn như suối.

         Ông bèn để bàn tay sau cổ anh theo phương pháp bí truyền, miệng niệm thần chú, tức th́ máu ngưng chảy. Nạn nhân mở mắt ra nói nhỏ: “Tôi hết đau rồi, trong ḿnh rất khỏe.” Những người tới xem đều kinh ngạc. Khi Bác sĩ tới, họ lấy làm lạ tại sao nạn nhân không chết. Các mạch máu đều đứt hết mà máu không chảy nữa.

         Họ rất khen ông và nói: nếu họ không thấy chuyện nầy ngay trước mắt th́ không bao giờ tin có thật.

         Một lần khác, một người đàn bà bị sừng một con nai rạch một đường từ cùi chỏ tới bàn tay. Máu hết chảy và bà đó hết đau khi ông Tiren đọc câu thần chú theo giọng của người Lapon gọi là “Lap Reading”.

         Chuyện nầy có thật hay không?

        Tôi xin trả lời liền: Có thật.

         Hiện giờ, trong thế kỷ 20 nầy đă có người sử dụng được quyền năng nầy: ấy là một Bác sĩ người Ư tên Carlo Mariani.

 

MÁU TUÂN THEO Ư MUỐN CỦA ÔNG

        

         Đọc báo Nostradam nơi trang 7 (Rất tiếc đă mất cái tít nên không biết xuất bản ngày nào nhưng có lẽ cũng mới vài năm gần đây) có một bài với cái tít thật lớn:

 

LE SANG OBÉIT À SA VOLONTE

           ( Có h́nh Bác Sĩ Carlo Mariani và một cái xe hơi bể nát )

         Trước xe hơi có câu chữ lớn nầy:

         CARLO MARIANI IMPOSE SES MAINS AU-DESSUS DU FLOT SANGLANT L’HEMORRAGIE S’ARRETE ET LA PLAIE SE REFERME.

         CARLO MARIANI XOÈ HAI BÀN TAY ĐỂ TRÊN D̉NG MÁU, MÁU NGƯNG CHẢY,  VẾT THƯƠNG KHÉP MIỆNG LẠI.

         Câu chuyện tóm tắt như sau đây:

         Sáu giờ chiều thứ sáu, Bác sĩ Carlo Mariani lái xe từ Turin về ngôi nhà ở Milan. Ông cho xe chạy chậm v́ không có chi gấp rút.

         Bổng ở đàng sau một chiếc xe hơi Ford chạy tới như dông, bóp kèn qua mặt. Bác sĩ tự nói: “Chạy xe như vậy là điên  rồ.”

         Tới 3 cây số phía đàng trước th́ tai nạn xảy ra. Xe Ford đụng vào một cái cây bể nát .

         Bác sĩ Mariani ngừng xe lại thấy anh lái xe c̣n ở tại tay bánh, mặt mày xanh xao, cặp mắt trợn ngược, miệng trào máu và một mạch máu lại đứt, chỗ đó máu tuôn xối xả. Nạn nhân sắp chết.

         Bác sĩ không c̣n ngày giờ lấy va-li thuốc, ông bèn xoè hai bàn tay để trên ḍng máu, tức th́ máu ngưng chảy, vết thương khép miệng lại, dường như nhờ một phép mầu huyền diệu.

         Tác giả bài nầy là Guido Parlotti nói:

         “Rất khó phỏng vấn Bác sĩ Mariani v́ ông rất dè dặt. Nhưng cuối cùng ông cũng phải nh́n nhận rằng ông có một quyền năng phi thường”. Ông nói: “Tôi khám phá quyền năng nầy trong một cuộc giải phẩu.”

         Một Bác sĩ chuyên khoa về tim, bạn thân của tôi, có mời tôi phụ với ông trong một cuộc giải phẩu ruột dư.

         Bệnh nhân là một người đàn bà đau tim lại mắc chứng máu loảng, khó đặc lại. Đă một lần bà suưt chết sau khi lâm bồn.

         Sau cuộc giải phẩu máu tuôn xối xả. Bác sĩ bạn tôi và các y tá dùng đủ các phương pháp mà vô hiệu quả. Tôi bèn lại gần bà đó x̣e hai bàn tay để trên chỗ máu, tức th́ máu ngưng chảy.

         Giới y khoa chấp nhận một cách lạnh nhạt những hiện tượng mà khoa học không giải thích được. Nhiều lần tôi xin hiến công không, chẳng nhận tiền thù lao mà không bao giờ được tin trả lời.”

         Tác giả viết: “Hiện giờ Bác sĩ Mariani là người duy nhất trên đời có những quyền năng như thế, nhưng mà không có một dưỡng đường nào nhờ đến ông trong những trường hợp tuyệt vô hy vọng.”

         Đúng  vậy, trong khi các nhà khoa học không công nhận có những quyền năng của Tinh Thần  th́ lẽ tự nhiên phải từ khước một sự giúp đỡ như thế. Phải chăng đây cũng là một trạng thái của tánh kiêu căng gọi là chạm ḷng tự ái mà ít người thoát khỏi.

 

CHUYỆN  NGƯỜI  HÓA  SÓI

 

         Đọc những chuyện đời xưa, nhất là những chuyện phù phép, ta thấy Đạo sĩ ở châu Atlantide niệm một câu thần chú th́ con người hóa ra thú vật. Chúng ta cho đó là những điều dị đoan, phi lư.

         Nhưng từ đời Trung Cổ cho tới thế kỷ thứ 19, bên Âu Châu người ta c̣n tin có chuyện con người hóa sói gọi là Lycanthropie (do chữ Lycaon là vua xứ Arcadie bị Zeus biến thành chó sói).

         Đây là chuyện có thật do nhiều người qua ở Phi Châu thấy tận mắt thuật lại, tôi xin kể vài chuyện cho quí bạn nghe.

 

I

         Ông Richard Bagot có đăng trong tạp chí Cornhill Magazine tháng 10 năm 1918 (Octobre 1918) Londres một bài nhan đề “The hyenes of Pirre” nói về Trung Úy F. đă thấy người hóa thú. Khi ông nầy cai quản một nhóm lính tập bổn xứ từ tháng 7 tới tháng 10-1915 tại miền Bắc Nigerie (Nigerie du Nord) ở Phi Châu.

         Trung Úy F. đóng binh gần một cái làng kia mà tŕnh độ thổ dân c̣n thấp kém lắm. Có một bầy chó chóc thường phá hại súc vật rất nhiều.

         Đêm kia, ông xách súng ngồi ŕnh gần bên một con dê làm mồi bị trói lại. Một con chó chóc chạy lại chưa kịp nhảy chụp con mồi th́ ông nổ hai phát súng trúng đầu nó. Chó bị thương nặng nhưng rán chạy trốn thoát.

         25 phút sau, ông nghe trong làng có tiếng trống báo tin một người chết.

         Tới sáng, ông theo dấu chân con thú, thấy nó đi tới đống đất của loài kiến đen vun lên th́ mất, nhưng từ đó tới đầu làng toàn là dấu chân người.

         Vài giờ sau, người ta cho ông hay rằng: Một vị hương chức trong làng mới thác đêm hôm, trên đầu bị một vết thương của đạn súng. Nhưng người ta không cho ông tới xem cái thây.

 

II

Ông Richard Bagot c̣n viết thêm một câu chuyện thứ nh́ nữa như sau đây:                                                                                                                                                                                     

         Đại Úy H.H. Shott cũng đóng binh tại miền Bắc Nigerie (Nigerie  Septentrionale) thuật lai rằng:

         “Ông có bắn trúng một con chó chóc rất lớn. Nó bị thương nơi đầu rồi chạy băng qua đồng trốn, ông và vài người nữa đuổi theo. Được một đổi th́ thấy cái hàm của con chó rớt bên một vũng máu. C̣n dấu chân tới đường ṃn dắt đi vô làng th́ biến mất. Bữa sau dân trong làng cho ông hay ông mới giết vị Phó Tù Trưởng Ne-pha-da (Nefada sous chef) của họ, nhưng họ không tỏ dấu chi thương tiếc cả.

         Họ nói: Phó tù trưởng bị bắn bay một cái hàm. Tù Trưởng có cho họ hay y sắp đi dạo trong rừng. Một chặp nghe tiếng súng nổ, kế họ thấy y trở về lấy áo trùm đầu, đi ngă xiêu, ngă tó như một người bị thương nặng. Ngày mai người ta tới thăm ông th́ thấy ông đă chết, trong nhà không có ai cả v́ sau khi ông về ông đuổi mấy người đàn bà đi hết.

         Phó Tù Trưởng có tiếng là người chó chóc. Lúc ông hiện ra chó chóc th́ quỉ quyệt lắm.

         Ông Shott nói: Tôi là quan vơ, không hề tin dị đoan, nhưng đứng trước trường hợp nầy tôi cũng phải tin rằng dân bổn xứ miền đó có phép lạ lùng.

         Trong báo Echo du Merveilleux xuất bản ngày 1er Novembre 1908 (1-11-1908) có đăng bài nầy của ông Andre Nervin từ Dakar tháng Septembre 1908 gởi về ṭa soạn.

         “. . . Người ta chỉ cho tôi xem thân xác trống rỗng của một thầy phù thủy. Họ nói: Ngài có thể rờ nó, đánh nó, châm chích nó hay là ngồi trên ḿnh nữa và hăy lấy tay để trên trái tim của ông ta, Ngài sẽ thấy nó không nhảy nữa, bởi v́ ông ta đă đem nó theo rồi. Xác ông chỉ là một cái lớp vỏ, ông giao cho vợ ông giữ ǵn v́ sợ những người phù thủy khác ngăn cản ông không cho nhập xác. Khi mấy thầy phù thủy xuất vía ra và đi thơ thẩn trên không th́ họ có thể lấy những h́nh dáng khác nhau và nhập vô ḿnh thú vật.

 

MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ HÓA RA CHÓ SÓI

        

         Tuần báo Nostradamus số 36 xuất bản ngày thứ năm 14 Décembre 1972 nơi trang 5 có đăng chuyện “Chân của một con chó sói biến thành một bàn tay của người đàn bà trong cái túi vải của người thợ săn.”

         Năm 1588, trong một cái làng tại Auvergne, một người thợ săn bị một con chó sói lớn, hung dữ lạ thường tấn công. Anh chống trả mănh liệt và chặt được một cái chân của nó. Nó liền chạy mất. Anh thợ săn bỏ cái chân trong túi vải rồi trở về làng.

         Dọc đường anh ghé thăm người bạn thân của anh vốn là chủ nhân của một ṭa lâu đài cổ, anh mới thuật lại câu chuyện xảy ra cho bạn anh nghe.

         Ông nầy rất thích và xin xem cái chân của con chó sói. Anh thợ săn mới tḥ tay vào túi vải để lấy ra, mà quái lạ thay ! Không phải là cái chân của con chó sói mà lại là bàn tay của một thiếu phụ có đeo một chiếc nhẫn bằng vàng rất đẹp.

         Chủ nhân ṭa lâu đài cổ mới giật ḿnh la lên: “Ấy là chiếc nhẫn của vợ tôi”. Ông bèn đi với anh thợ săn vô pḥng vợ ông. Ông thấy bà nầy mặt mày xanh xao, hốc hác, kiếm thế che dấu cánh tay dưới một cái áo choàng rộng. Ông bèn giật áo ra th́ thấy bàn tay bà bị đứt ĺa tới cườm tay.

         Bị hạch hỏi bà mới khóc lóc thú thật rằng: Chính bà là chó sói tấn công anh thợ săn để ăn thịt v́ bà thèm thịt sống không nhịn được.

         Khi bà biến thành chó sói th́ bà chạy ra đồng kiếm con nít bắt ăn thịt.

         Vài bữa sau bà bị đưa lên giàn hỏa v́ tội thông đồng với ma quỉ.

 

NHỮNG CHUYỆN NGƯỜI HÓA SÓI CÓ THẬT KHÔNG?

 

         Các nhà Huyền Bí Học đều biết rằng: Nhữ