Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lư

 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS


CHƯƠNG HAI MUOI LĂM

THỰC HIỆN CHÂN NGĂ VÀ MƯU T̀M HẠNH PHÚC

Trích Self Culture của I.K Taimni

 

THỰC HIỆN CHÂN NGĂ VÀ MƯU T̀M HẠNH PHÚC

I.K Taimni

 

Chương chót của quyển Yoga Sutras là Chương khó hiểu nhứt, v́ nó chứa đựng một vài quan niệm tinh tế nhứt của nền tảng triết lư và tâm lư của môn Yoga. Trong Chương này, không nói nhiều đến kỹ thuật, trừ ra Dharma-megha Samādhi – loại cao nhứt về Samādhi – nó đặt người hành giả (Yogi) hoàn toàn ra ngoài lănh vực của cái Trí và an trú y vĩnh viễn, không thoái bộ trong lănh vực của Thực Tại.

Trong một Chương trước, chúng ta đă xét qua một trong những khía cạnh của Triết lư Yoga, được gọi là sự nhập thế và tiến hóa của Chơn Thần trong sự biểu hiện, và biểu lộ sau cùng là một cá nhân Tự Nhận Thức, Chơn Ngă có khả năng ở trung tâm lănh vực của Thực Tại, và vẫn hoạt động trong những lănh vực của Tương Đối xuyên qua những thể mà y đă tạo ra, và hoàn thiện hóa để sử dụng trong những khoảng thời gian dài đăng đẳng của cơ tiến hóa, và sự khai mở bản chất thiêng liêng tiềm tàng của y. Tuy nhiên, trọn phần triết lư của Yoga có một tầm thật rộng lớn hơn nhiều, và nó thật sự là một phần của triết lư dễ hiểu hơn của Minh Triết Cổ Truyền, nó đem lại cho chúng ta một vài quan điểm về bản chất của Thực Tại và sự biểu hiện của nó, trong những thế giới hiện tương của Tương Đối. Như vậy, tất cả Học Thuyết Huyền Bí được tiết lộ hay không tiết lộ, là nền tảng của Triết Lư Yoga.

Đương nhiên, tâm lư Yoga liên hệ đến triết lư to lớn này hơn và mặc dầu nó có chỗ khác biệt nhau, tùy thuộc vào trường phái triết lư nào, mà một hệ thống đặc biệt của Yoga là thành phần; ở nét tính chất trọng yếu và h́nh thức bên ngoài, trên thực tế tất cả trường phái về kỷ luật Yoga cũng đều giống nhau. Tuy sự khác biệt của môn Tâm Lư Học tiềm ẩn trong các hệ thống Yoga khác nhau có thể ra vẻ rơ rệt, nhưng thật sự không phải như thế. Chúng nó do những phương pháp tiếp cận khác nhau và những quan điểm khác nhau mà đối với những ai có được một nhận thức trực giác về những điều này, th́ những khác biệt đó không có tánh cách quan trọng.

Chúng ta đă chỉ ra rằng theo bề ngoài của nó, triết lư Yoga có vẻ như đặt nền tảng trên học thuyết Samkhya, và đương nhiên tâm lư của nó cũng hoàn toàn và được diễn tả bằng những thuật ngữ của triết lư Samkhya. Tâm lư này không được bàn luận và tŕnh bày một cách theo hệ thống trong quyển Yoga Sutras, và độc giả phải t́m nó từ những câu Sutras khác nhau ở những khía cạnh của Yoga. Nhưng, đối với người sinh viên cẩn thận đă học qua đề tài một cách thông suốt, phần chánh yếu đại cương của tâm lư học này là rơ ràng phân biệt, và có thể được tŕnh bày như một hệ thống hoàn toàn và tự nó đầy đủ, mặc dầu không chút nào liên hệ với những hệ thống tâm lư hiện đại. Nói chung, môn Khoa học Yoga bàn luận về vũ trụ biểu hiện và Thực Tại mà nó đặt nền tảng. Mặc dầu nó chú tâm đến tất cả hiện tượng của Thiên nhiên, nhưng chánh yếu nó hướng đến những lănh vực vô h́nh của vũ trụ. C̣n ở bên kia, môn tâm lư học hiện đại đặt nền tảng trên những hiện tượng của vũ trụ hữu h́nh mà vũ trụ này chỉ là cái vỏ ngoài cùng, và chỉ diễn tả phần nhỏ những thực tại bên trong. Điều không thể tránh được là môn tâm lư học phải xem xét tất cả những hiện tượng của vũ trụ biểu hiện – hữu h́nh và vô h́nh – cũng như Thực Tại tiềm tàng trong những hiện tượng này, phải có một nền tảng thật to tát hơn và thâm sâu hơn là một môn tâm lư học chỉ xét đến bề ngoài của sự việc, cho đến đổi không dám lặn xuống khỏi bề mặt bên ngoài. Bởi thế, chúng ta không thể chờ đợi bất cứ điều ǵ cùng chung giống nhau giữa hai môn tâm lư học và phải được chuẩn bị xem xét chúng riêng rẽ và độc lập với nhau ở thời gian hiện nay. Chỉ trừ ra khi nào môn tâm lư học hiện đại đi sâu hơn vào trong các hiện tượng của sự sống, và ít nữa, chấp nhận phần nào Học Thuyết Huyền Bí, chừng đó nó mới có thể hi vọng được một thứ liên hệ nào đó với môn tâm lư Yoga. Ở giờ phút này, chúng ta hăy chấp nhận chúng khác biệt nhau, chứ không t́m cách dung ḥa, như một số người vẫn ra sức thử làm.

Không thể nào trong một chương ngắn ngủi này, tŕnh bày – dù là đại cương thôi – môn tâm lư Yoga, hay triết lư to lớn hơn mà nó là một thành phần. Nhưng, có một vấn đề tranh căi quan trọng mà Chương chót của quyển Sutras Yoga đă mang lại một ít ánh sáng, đó là sự mưu t́m chung về hạnh phúc. V́ đây là một câu hỏi có nền tảng trên một kinh nghiệm thông thường của sự sống con người, và có một tầm quan trọng to tát đối với người chí nguyện mà chúng ta sẽ bàn luận qua những câu Sūtras xác đáng đó.

Nếu chúng ta nh́n vào kiếp sống con người nói chung, với sự vô tư và phân tách những nét đặc trưng chánh yếu của nó, chúng ta sẽ thấy những ǵ? Chúng ta sẽ thấy rằng đó là một tṛ đùa liên tục của dục vọng và cái trí, dưới nhiều h́nh thức và hoàn cảnh khác nhau. Tất cả mọi người đều luôn luôn bị dục vọng lôi cuốn để t́m ra hạnh phúc, và cái trí lợi dụng những đường lối khác nhau để cung cấp cho ḿnh những phương tiện, rút ra bất cứ hạnh phúc nào từ những vô số sự việc này là đối tượng của những cuộc theo đuổi của chúng ta. Patanjali bắt đầu từ hiện tượng phổ biến này của con người và cố gắng truy t́m ngược lại nguồn gốc của nó. Ông thử vạch rơ: nơi nào mà dục vọng và cái trí khởi điểm, và đâu là nền tảng của cuộc mưu t́m hạnh phúc vô tận và phù phiếm này cho tất cả nhân loại đắm ch́m trong các ảo ảnh và hạn chế của thế gian này.

Đây là hai câu Sūtras đă mang lại manh mối các hiện tượng phổ biến của sự sống con người:

 

 

 (IV.18) “Những biến đổi của cái trí luôn luôn được vị chúa tể của nó biết, do bản chất bất di bất dịch của Linh Hồn (Purusha).

 

 

(IV.24) “Mặc dầu có những màu sắc khác nhau do vô số những Vasanas (cặp đối đăi), cái trí hành động v́ một kẻ khác (Purusha) bởi nó luôn luôn hành động trong sự kết hợp”.

 

Câu Sūtra đầu muốn nói rằng: tất cả sự khác nhau và biến đổi luôn luôn xảy ra trong cái trí của một cá nhân, đều được thực hiện trong một bối cảnh của Tâm thức Chơn Thần, được gọi là Purusha (linh hồn) trong quyển Yoga Sutras. Bởi thế, mỗi việc ǵ xảy ra trong cái trí, dù ở mức độ nào, đều hiện diện trong tâm thức của nó, nói cách khác, nó đều nhận thức điều đó.

Câu Sūtra thứ hai có nghĩa rằng cái trí luôn luôn hành dộng như là một dụng cụ của dục vọng; nhưng v́ dục vọng luôn luôn thay đổi, thật sự nó không thể hành động v́ dục vọng. Nó phải hoạt động cho một cái ǵ cố định và kết hợp với nó ở mọi lúc. Và câu Sūtra trước đă cho chúng ta biết cái nhân tố bất biến đó là Chơn Thần, hay Purusha. Cho nên, chúng ta thấy rằng chính Chơn Thần mới là động lực thúc đẩy ở phía sau mọi dục vọng và là phần tử chứng kiến mọi biến đổi, hay khác nhau trong cái trí.

Đầu tiên chúng ta hăy xem xét riêng rẽ cái trí và dục vọng, t́m thấy ư nghĩa của chúng trong đời sống con người, trước khi t́m hiểu hoạt động kết hợp và tương tác của chúng trong cuộc mưu t́m hạnh phúc.

Vậy th́ lư thuyết về sự hiểu biết theo môn Tâm Lư Học Yoga ra sao? Cái trí hay là Citta, như được gọi trong quyển Yoga Sutras, hoạt động xuyên qua một h́nh dáng mang tên là thể trí. Chức năng của nó là “biết”. Nhưng theo lư thuyết của môn Tâm Lư Học Yoga, nó không có khả năng “biết”, bởi v́ nó là vô tri vô giác. Khả năng “biết” này, chính là Bồ Đề Tâm ban cho, mà Bồ Đề Tâm là ánh sáng của tâm thức phát sinh do Purusha (linh hồn). Sự hiểu biết xuất hiện trong cái trí trước một đối tượng của sự nhận thức, là do nơi sự hiểu biết vô tận, hay là toàn tri của Linh Hồn. Khi cái trí tiếp xúc với một đối tượng của sự nhận thức nó bị cả hai ảnh hưởng, tâm thức của Purusha hoạt động xuyên qua Bồ Đề Tâm cũng như do nơi một đối tượng được t́m hiểu; và sự ứng đáp của TOÀN TRI hay Purusha để thôi thúc mọi sự vật hạn chế này, là sự hiểu biết của đối tượng do cái trí thu nhận. Điều đó xảy ra như thế bởi v́ Purusha luôn luôn ở nơi bối cảnh, và là toàn tri. Purusha là nhân tố chung cho tất cả mọi tiến tŕnh của hiểu biết, và cũng là cái kho chứa tất cả loại hiểu biết có được xuất hiện trong trí. Như vậy, từ bối cảnh toàn tri, đối tượng gây ra một ứng đáp có giới hạn, và chính sự ứng đáp có giới hạn này được chúng ta gọi là sự hiểu biết. Chúng ta có thể thấu hiểu điều này dễ dàng, nếu chúng ta xem xét bằng cách nào màu sắc xuất hiện ở những vật trong sự hiện diện của ánh sáng trắng. Ánh sáng trắng chứa đựng tất cả các màu sắc trong nó. Khi nó hướng vào những vật khác nhau, nó tạo ra mọi loại màu sắc. Mỗi vật thu hút một thành phần của ánh sáng trắng và từ khước những cái khác. Những phần màu bị từ khước được phản chiếu trở lại và tạo ra cái màu riêng biệt của vật. Cũng như thể ấy, khi một đối tượng nào đó – không cần thiết là rơ ràng – do cái trí mà đối tượng đó hiện diện trước Tâm Thức của Chơn thần, cái trí thu hút một phần của bản chất toàn tri của Chơn thần được kích động do đối tượng riêng biệt, và cái phần được thu hút của cái hiểu biết vô tận và phổ biến của Chơn thần, chính đó là sự hiểu biết bị hạn chế của đối tượng hiện diện trong trí. Phần thu hút từ sự hiểu biết vô hạn của Chơn Thần càng nhiều th́ sự hiểu biết về đối tượng càng thâm sâu hơn. Khi toàn bộ sự hiểu biết thuộc về đối tượng được thu hút từ sự hiểu biết phổ biến của Chơn Thần, đó là sự nhận thức của Thực Tại về đối tượng đặc biệt ấy trong Sabīja Samādhi. Sự giống nhau của cái trí “bị tô màu” do một đối tượng trong Sūtra IV.17, như thế, sẽ thấy đặc biệt thích hợp với văn cảnh này.

Vậy, như là kết quả của lư luận trên đây, chúng ta nhận thấy rằng Chơn Thần là nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, và những đối tượng đă tạo ra, hay kích thích sự hiểu biết trong thể trí, chỉ đóng vai tṛ dụng cụ, bằng cách làm lộ rơ ra “một phần” của sự hiểu biết từ cái hiểu biết “toàn vẹn” của Chơn Thần. Đúng như những đối tượng vật chất bị tô màu, chúng không phải là nguồn gốc của các thứ màu của chúng mà chỉ là vai tṛ dụng cụ, trong việc làm lộ ra ngoài những màu sắc ẩn tàng trong ánh sáng trắng.

Bây giờ chúng ta hăy xem xét dục vọng. Như đă thấy: đời sống chúng ta phần lớn là một tṛ đùa của dục vọng. Hỏi vậy, hiện tượng của dục vọng này là ǵ? Luôn luôn chúng ta đang chạy theo sau các đối tượng do cái trí tạo ra, hoặc cung cấp, do sự xúi giục của dục vọng. Thực ra th́, dường như đây là mục đích chánh của cái trí, được gọi là sự thỏa măn của dục vọng. Hỏi vậy cái ǵ gây ra dục vọng? Chúng ta hăy thử t́m. Để có thể t́m ra nguyên nhân của một hiện tượng phổ biến, bạn phải t́m ra cái nhân tố chung trong tất cả hiện tượng. Do cái trí và dục vọng đóng vai, Purusha là một nhân tố vẫn luôn hiện diện trong tấn kịch này. Purusha là nhân tố không thay đổi hiện diện trong cuộc chạy theo măi những đối tượng thay đổi của dục vọng. Vậy c̣n có những hiện tượng nào khác cùng hợp tác với nó trong việc theo đuổi các mục tiêu khác nhau của dục vọng? Có! Chính là sự mưu t́m hạnh phúc. Sự theo đuổi các đối tượng của dục vọng này xuyên qua dụng cụ là cái trí để mong t́m hạnh phúc, dù có ư thức hay không ư thức. Không bao giờ chúng ta thèm muốn một vật ǵ mà không có lư do để từ đó đạt được ít nhiều hạnh phúc. Bởi thế, nơi đây, chúng ta có một nhân tố liên tục khác, hiện hữu trong đời sống con người chúng ta: sự mưu t́m hạnh phúc.

Vậy đây là tóm tắt được đưa ra trong Yoga Sūtras. Luôn luôn chúng ta ham muốn những sự vật để mưu t́m hạnh phúc. Các đối tượng luôn luôn thay đổi, các dục vọng cũng luôn luôn thay đổi. Trong tấn kịch này, chỉ có một vật không thay đổi và luôn luôn hiện diện: đó là Purusha tại bối cảnh. Phải chăng chính Purusha chịu trách nhiệm về việc chúng ta măi ham muốn? Để trả lời câu hỏi ấy, chúng ta phải xem qua hai sự việc. Trước hết dục vọng không ǵ khác hơn là ư chí; nó hoạt động do ảo ảnh và hạn chế; và ư chí th́ từ trạng thái Sat mà ra, một trong ba khía cạnh của Purusha Thiêng Liêng. Khía cạnh thứ hai của Purusha Thiêng Liêng tam bội là Ānanda toàn phúc. Chính bản chất của Ānanda phản ảnh xuống các cơi thấp thành cảm giác phúc lạc. Khía cạnh thứ ba, đương nhiên là Chit, vốn phản ảnh trong cái trí. Vậy th́ bây giờ chúng ta đă thấy được ư nghĩa của dục vọng và sự măi măi mưu t́m hạnh phúc trong các đối tượng bên ngoài chăng? Purusha – mà chính bản chất là Sat-Chit-Ānanda do kết quả của điều đó, đă hạ ḿnh, bị dấn thân vào sự biểu hiện và mất đi sự ư thức về bản chất thiêng liêng thật sự của nó. Vậy đâu sẽ là hậu quả của việc mất đi ư thức về bản chất thật sự của nó? Nó sẽ t́m kiếm Ānanda ở thế giới biểu hiện, trong các đối tượng hiện diện của thế gian, từ “đối tượng” ở đây được dùng trong nghĩa rộng răi nhứt của nó để chỉ bất cứ điều ǵ có thể thỏa măn dục vọng. Bản chất Sat (toàn năng) của nó, đáng lư t́m cách biểu hiện như là Ư Chí tâm linh thuần khiết, sẽ đổi thay thành dục vọng, do sự kết họp với các ảo ảnh và hạn chế ở các cơi thấp.

Bởi thế, sự mưu t́m hạnh phúc này xuyên qua phương tiện của mọi loại đối tượng trong các thế giới biểu hiện, hữu h́nh hay vô h́nh mà trong đó chúng ta dấn thân vào, không khác ǵ hơn là Chơn Thần đang t́m Toàn Phúc (Ānanda) ở những sự vật bên ngoài nó, do ảo ảnh hay Māyā, trong đó nó hoạt động. Và bởi khía cạnh thứ ba của Chơn Thần là Toàn Tri (Chit) đi t́m sự biểu hiện trong quyền năng tạo h́nh ảnh và sự hoạt động của cái trí, y tạo ra sự sống muôn mặt xung quanh ḿnh, hết h́nh dáng này sang h́nh dáng nọ, hết hoàn cảnh này sang hoàn cảnh kia, để t́m ra cái Ānanda này không có ở đó và v́ thế mà không thể t́m ra được. Nó có thể đạt được phần nào trong cái h́nh dáng phản ảnh như hạnh phúc và cái mức độ của khía cạnh Ānanda (Toàn phúc) của Purusha, mà đối tượng có khả năng kích động trong cái trí, là mức hạnh phúc được gây ra ở đối tượng. Đó là ư nghĩa ẩn tàng của tấn kịch này, trong đó chúng ta dấn thân và được thấy rơ như ban ngày.

Xin để tôi lướt qua một lần nữa trọn ư nghĩa của điều đó. Bản chất thiêng liêng chánh yếu của chúng ta là một bộ ba. Cả ba khía cạnh này được gọi là Sat – Chit – Ānanda, theo từ Phạn ngữ, và được phản chiếu như là Ư Chí, Thượng trí và Hạnh Phúc ở các cơi tâm linh, và như là dục vọng, hạ trí và sự sung sướng ở các cơi thấp hơn. V́ lư do chúng ta dấn thân vào sự biểu hiện, chúng ta mất đi tất cả các thuộc tính thiêng liêng này, và chỉ có thể biểu hiện chúng một phần nhỏ nào thôi ở các cơi thấp, dưới những h́nh thức là dục vọng, trí thức và sung sướng thông thường. Sự biểu hiện phần nào bản chất thiêng liêng của chúng ta mang lại kết quả là ḿnh chạy theo mọi thứ đối tượng trong thế gian, mưu t́m hạnh phúc do dục vọng thúc đẩy và cái trí cung cấp mọi vật phù hợp cho mục tiêu này.

Trọn ḍng đời sống của chúng ta trôi qua như thế ấy và vô cùng chậm răi, càng lúc càng cao hơn thêm, hướng đến Nguồn cội của nó. Dục vọng rốt ráo biến thành Ư Chí, tư tưởng biến thành sự hiểu biết trực tiếp, và các cảm giác sung sướng biến thành hạnh phúc thanh cao. Đây là giai đoạn đầu của cuộc hành tŕnh hướng thượng của chúng ta, như là kết quả của công cuộc thực hiện phần nào bản chất thật sự của minh, và cũng là việc làm nhẹ bớt đi những bức màn của ảo ảnh. Khi con người đi đến được giai đoạn cao này của sự phát triển tâm linh, mỗi sự việc đều biến h́nh và hiện diện dưới h́nh thức tế nhị nhứt của nó. Và chính là sự t́m cách tự thoát ḿnh ra khỏi cái màn mỏng nhứt của ảo ảnh ở cơi Niết Bàn, do Chơn Thần thực hiện, đă được diễn tả trong kỹ thuật Dharma-Megha-Samādhi bàn luận trong Chương 4. Khi mà loại phân biện cao nhứt được đánh thức và nhận thức được ảo ảnh tinh vi vẫn hiện diện ở cơi Niết Bàn, hành giả quyết định lặn sâu lần chót vào trong thế giới của Thực Tại, việc này sẽ mang lại cho y sự hiểu biết bản chất Thiêng Liêng thật sự của y, là Sat – Chit – Ānanda (Toàn Năng, Toàn Tri và Toàn Phúc). Chừng đó, tấn kịch cơ tiến hóa của y mới chấm dứt.

Sự mưu t́m hạnh phúc vĩnh cửu và thật sự trong lănh vực biểu hiện phải kết thúc trong thất bại, bởi v́ Chơn Thần có ư định t́m lại bản chất thật sự của nó, chứ không phải luôn luôn ở măi trong ngục tù của thế giới biểu hiện. Đây cũng là lư do tại sao khổ đau là nét đặc trưng phổ biến của đời sống con người. Đây cũng là tŕnh bày sự việc thấy rằng duc vọng t́m hạnh phúc không thể được thỏa măn trọn vẹn ở thế gian này và không nên tự cho thỏa măn, bởi v́ một định mệnh muôn lần to lớn hơn và lộng lẫy hơn đang chờ đợi chúng ta trong tương lai, trong sự Thực Hiện Chân Ngă. Tại sao chúng ta lại phải buồn phiền, v́ cho khổ đau là một t́nh trạng phổ biến? Tại sao chúng ta lại không biết ơn v́ nó thế ấy, bởi chinh điều này là sự bảo đảm quí báu nhứt cho công cuộc giải thoát rốt ráo con người ra khỏi cảnh nô lệ của ảo ảnh và giới hạn của đời sống thấp kém, và cứu giúp chúng ta khỏi măi măi tự ư lưu đày ḿnh trong đời sống thấp kém này vô thời hạn.

 


 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS