|
|
HOME T̀M HIỂU NHẬP MÔN sách TIỂU SỬ BẢN TIN H̀NH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 NỮ THẦN ISIS
|
|
THÔNG THIÊN HỌC VÀ PHÉP ẨN DỤ https://theosophicalsociety.org.uk/articles
|
|
THÔNG THIÊN HỌC VÀ PHÉP ẨN DỤ
Thông Thiên Học không phải là một hệ thống
công truyền gồm những phát biểu theo nghĩa đen về các sự kiện mà
chúng ta có thể cảm nhận bằng giác quan và hiểu bằng trí óc. Thông
Thiên Học là một mê cung bí truyền của những phép ẩn dụ thi vị về
những chân lư nằm ngoài giác quan và thậm chí cả trí óc của chúng
ta. Thông Thiên Học không thể được kiểm chứng bằng thí nghiệm, thử
nghiệm và luận lư. Thông Thiên Học chỉ có thể được kiểm chứng trong
sâu thẳm trái tim chúng ta bằng sự nhận thức trực giác về những chân
lư vĩnh hằng của nó. Thông Thiên Học đưa chúng ta vượt ra ngoài
những nhận thức thông thường, hạn chế của con người. Thông Thiên
Học mang tính ẩn dụ.
Việc Thông Thiên Học về cơ bản không quan
tâm đến những sự kiện nhỏ nhặt, mà là những chân lư lớn lao được thể
hiện ngầm trong khẩu hiệu của Hội Thông Thiên Học: “Không có
tôn giáo nào cao hơn chân lư”. Trong văn bản gốc tiếng Phạn, mà khẩu
hiệu của chúng ta là bản dịch, từ ngữ mà chúng ta dịch là “tôn giáo”
là “dharma”. “Dharma” có nhiều nghĩa; trong số đó, nó đề cập đến bổn
phận, tôn giáo, luật pháp—thực tế, bất cứ điều ǵ thiết lập một dân
tộc thành một cộng đồng, và do đó bao gồm tất cả những sự kiện nhỏ
là nền tảng của đời sống xă hội chúng ta. Những sự thật nhỏ nhặt ấy
rất quan trọng đối với đời sống cộng đồng của chúng ta, nhưng xét
riêng lẻ hay tập thể, chúng không quan trọng hơn những chân lư lớn
lao của cuộc sống. Và chính những chân lư lớn lao ấy là điều mà
Thông Thiên Học t́m cách khám phá và truyền đạt cho thế giới.
Một vấn đề mà Thông Thiên Học phải đối mặt
là làm thế nào để h́nh dung và truyền đạt những chân lư lớn lao đó
một cách tốt nhất. Chúng ta không thể diễn đạt chúng bằng những câu
nói theo nghĩa đen, bởi v́ những câu nói theo nghĩa đen chỉ hữu ích
cho những sự thật nhỏ nhặt, chẳng hạn như “Trời mưa sáng nay” hoặc
“Hai cộng hai bằng bốn” hoặc “Con người thường có năm ngón tay trên
mỗi bàn tay”. Những chân lư lớn lao, chẳng hạn như “Tất cả các dân
tộc đều là thành viên của một gia đ́nh chung” hoặc “Có nhiều điều
trên trời và dưới đất hơn những ǵ triết học của các bạn có thể
tưởng tượng” hoặc “Linh hồn con người là bất tử, và tương lai của nó
là tương lai của một thứ mà sự phát triển và huy hoàng của nó là vô
hạn”, không thể được diễn đạt bằng những câu nói theo nghĩa đen, mà
chỉ có thể bằng những câu nói phi nghĩa đen—bằng phép ẩn dụ. Tại sao
lại như vậy?
Những chân lư lớn lao không phải là những
điều chúng ta trải nghiệm trực tiếp thông qua các giác quan của
ḿnh, như chúng ta trải nghiệm những sự thật nhỏ nhặt. Những chân lư
lớn lao phải được suy luận, nghĩa là “được mang vào (nhận thức của
chúng ta)” từ bên ngoài các giác quan; và đó là nhiệm vụ của ẩn dụ,
thứ mang (phor) từ bên ngoài (meta) các giác quan của chúng ta. Phần
lớn Thông Thiên Học nằm ngoài kinh nghiệm giác quan của chúng ta,
v́ vậy nó chỉ có thể được diễn đạt bằng phép ẩn dụ. Những sự thật
nhỏ có thể được tŕnh bày bằng văn xuôi; những chân lư lớn lao phải
được ẩn giấu trong thơ ca.
Nếu chúng ta nhầm lẫn những chân lư lớn lao
của Thông Thiên Học với những sự thật nhỏ nhặt—nếu chúng ta diễn
giải các ẩn dụ của nó như những phát ngôn theo nghĩa đen—chúng ta sẽ
không thể nắm bắt được phạm vi rộng lớn tuyệt vời của Minh triết Cổ
xưa và biến Thông Thiên Học thành một tôn giáo khác. Nếu chúng ta
gặp hai phát ngôn theo nghĩa đen khác nhau, mâu thuẫn nhau, th́ một
(hoặc cả hai) trong số đó có thể sai. Nhưng hai ẩn dụ khác nhau,
dường như mâu thuẫn, đều có thể đúng, nghĩa là, những nỗ lực hợp lệ
để h́nh thành một chân lư lớn hơn bất kỳ diễn đạt theo nghĩa đen nào
có thể nắm bắt được. Thông Thiên Học chứa đầy những ẩn dụ khác nhau
và tương phản như vậy, như một vài ví dụ sẽ minh họa.
Một trong những chân lư lớn lao của Thông
Thiên Học là, thế giới là một nơi đa dạng, phức tạp. Chúng ta diễn
đạt chân lư đó một phần bằng cách nói rằng thế giới bao gồm bảy cơi.
Đó là một ẩn dụ. Một cơi theo nghĩa đen là một bề mặt phẳng hoặc
bằng phẳng. Nếu chúng ta hiểu ẩn dụ theo nghĩa đen, chúng ta sẽ nghĩ
về thế giới như một chiếc bánh bảy lớp, một quan điểm sai lầm được
củng cố bởi các sơ đồ của chúng ta cho thấy các cơi nằm trên các
đường thẳng chồng lên nhau. (giống như sai lầm khi nghĩ con Đường
Đạo là con đường. con Đường Trung Đạo là ở giữa LND) Chúng ta có thể
nói rằng các “cơi” đều xuyên thấu lẫn nhau, nhưng đó không phải là
nghĩa đen của từ “cơi”. V́ vậy, người ta đă đề xuất những phép ẩn dụ
thay thế. Một số người tránh dùng phép ẩn dụ “cơi” và thay vào đó
nói về “trường” (như trường hấp dẫn hoặc điện từ). Những người khác
nói về “chiều không gian của thực tại”. Nhưng cả hai đều là phép ẩn
dụ. “Trường” theo nghĩa đen là “một vùng đất trống không có rừng cây
và nhà cửa”. Và “chiều không gian” theo nghĩa đen là “một trong ba
tọa độ xác định vị trí trong không gian hoặc bốn tọa độ xác định vị
trí trong không gian và thời gian”. Không có cách nào để nói cụ thể
về cấu trúc phức tạp của thế giới mà không sử dụng phép ẩn dụ. [Các
"trường" có thể chồng lấn lên nhau trong cùng một không gian (giống
như sóng Wi-Fi và sóng điện thoại cùng tồn tại trong một căn pḥng)
LND].
Một sự thật lớn thứ hai là chúng ta sống
nhiều hơn một kiếp sống trên thế giới này, thuật ngữ thường dùng là
“tái sinh”, một từ mà bản thân nó là một phép ẩn dụ cho “trở lại
thành xác thịt”. Nhưng cả “trở lại” (là sự chuyển động từ nơi này
sang nơi khác) và “xác thịt” đều là những phép ẩn dụ trong thuật ngữ
đó. Và chúng ta sử dụng những phép ẩn dụ khác cho cùng một quá
tŕnh: chúng ta so sánh nó với việc thức dậy vào buổi sáng và mặc
một bộ quần áo mới, hoặc với việc là một diễn viên đóng nhiều vai
khác nhau trong nhiều vở kịch trên sân khấu cuộc đời. Không có cách
nào để nói cụ thể về việc sống nhiều hơn một cuộc đời trên thế giới
này mà không sử dụng phép ẩn dụ.
Một sự thật lớn thứ ba là thế giới là kết
quả của sự pha trộn phức tạp của bảy dạng năng lượng, mà chúng ta
thường nói đến như bảy “cung”. “Cung” là một phép ẩn dụ từ dải màu
sắc của năng lượng ánh sáng, mà theo truyền thống chúng ta chia
thành nhiều đoạn, mặc dù trên thực tế, bước sóng của quang phổ ánh
sáng hợp nhất liên tục mà không phân đoạn. Số bảy th́ khác. Các
truyền thống khác nói về bảy vị thần sáng tạo hoặc tổng lănh thiên
thần. Tính bảy không phải là ngẫu nhiên bởi v́ về mặt toán học, có
đúng bảy tổ hợp khả thi từ ba yếu tố (xin xem giải thích toán học
trong chú thích. LND), và tính ba được coi là nền tảng trong tất cả
các bộ ba của văn hóa và tôn giáo nhân loại. Nhưng “cung” hoàn toàn
mang tính ẩn dụ. Và không có cách nào thuận tiện để nói cụ thể về
bảy dạng năng lượng tạo ra thế giới này mà không sử dụng phép ẩn dụ.
Một chân lư lớn thứ tư là mô thức lặp đi lặp
lại của lịch sử loài người và vũ trụ. Các mô thức được tái tạo ở
khắp mọi nơi. Norbert Wiener, người sáng lập lĩnh vực điều khiển
học, đă từng nói nổi tiếng rằng, “Chúng ta không phải là thực thể
tồn tại cố định, mà là những mô h́nh tự duy tŕ.” Điều tương tự cũng
có thể nói vũ trụ là một cái
toàn thể. Theo Thông Thiên Học, chúng ta nói về chuổi các thế giới,
những ṿng tuần hoàn của
sinh lực trên những dăy đó, các giống dân chánh trên mỗi thế giới,
các giống dân phụ của mỗi giống dân chánh, v.v. Nhưng tất cả đều là
ẩn dụ bởi v́ không có chuổi vật chất nào để sinh lực di chuyển tuần
hoàn; các giống dân (race một thuật ngữ không c̣n được khoa học sử
dụng) không phải là chánh, và chỉ có MỘT chủng tộc người, v.v. Nhưng
với tư cách là ẩn dụ, chúng tŕnh bày một ư tưởng cụ thể về cách
lịch sử vũ trụ tồn tại như những chu kỳ. Không có cách nào thuận
tiện để nói cụ thể về sự tuần hoàn của lịch sử loài người và vũ trụ
mà không sử dụng ẩn dụ.
Trong mỗi ví dụ nêu trên, cũng như trong hầu
hết ngôn ngữ Thông Thiên Học của chúng ta, đều tồn tại hai mối nguy
hiểm. Mối nguy hiểm thứ nhất là chúng ta sẽ nhầm lẫn các phép ẩn
dụ với những phát ngôn theo nghĩa đen và do đó bóp méo những chân lư
lớn bằng cách coi chúng như những sự thật nhỏ nhặt. Điều đó
làm tầm thường hóa Minh triết Cổ xưa và biến Thông Thiên Học thành
một tập hợp các giáo điều tôn giáo khác. Mối nguy hiểm thứ hai
là chúng ta sẽ bắt đầu tranh luận với nhau về phép ẩn dụ nào là
“đúng”, phép ẩn dụ nào đại diện cho “Thông Thiên Học đích thực”.
Ngoài việc làm tầm thường hóa và giáo điều hóa thêm Minh triết Cổ
xưa, những cuộc tranh luận như vậy c̣n phá hủy hạt nhân của t́nh
huynh đệ, vốn là mục tiêu đầu tiên mà Hội hướng tới.
Thay v́ nhầm lẫn các phép ẩn dụ với những
phát ngôn theo nghĩa đen và tranh luận về việc phép ẩn dụ nào là
đúng và bác bỏ những phép ẩn dụ khác là “sai”, chúng ta cần có một
cách tiếp cận hoàn toàn khác. Trước hết, chúng ta cần nhận ra rằng
mọi chân lư vĩ đại của Minh triết Cổ xưa đều giống như những ǵ
Blavatsky nói về mệnh đề cơ bản đầu tiên trong Lời tựa của cuốn Giáo
lư Bí truyền: về điều đó, “mọi suy đoán đều bất khả thi, v́ nó
vượt quá khả năng nhận thức của con người và chỉ có thể bị lu mờ bởi
bất kỳ biểu hiện nào của con người… vượt ra ngoài phạm vi và tầm với
của tư tưởng… ‘không thể nghĩ tới và không thể nói ra’”. Bà
đang nói về sự vô nghĩa của việc chúng ta cố gắng diễn đạt chân lư
vĩ đại nhất bằng ngôn từ khô khan, đến mức nó dường như chỉ là một
sự thật nhỏ nhặt khác.
Thứ hai, nếu
chúng ta muốn nói về những chân lư vĩ đại như vậy, chúng ta chỉ có
thể làm như chính Blavatsky đă làm, đó là bằng cách sử dụng ngôn ngữ
giàu tính ẩn dụ thi ca. Những ẩn dụ trong thơ ca có thể đưa chúng ta
vượt qua những giới hạn của giác quan và (theo John Keats) đóng vai
tṛ như “những ô cửa sổ ma thuật quyến rũ, mở ra trên bọt biển của
những vùng biển nguy hiểm, trong những vùng đất thần tiên hoang
vắng”. Có thể một số người trong chúng ta không nghĩ Blavatsky và
Thông Thiên Học là thi vị. Nhưng hăy xem xét văn bản cơ bản nhất
của Thông Thiên Học, những khổ thơ của Dzyan, bắt đầu bằng câu:
“Người mẹ vĩnh hằng khoác lên ḿnh chiếc áo choàng vô h́nh đă ngủ
yên một lần nữa trong bảy cơi vĩnh hằng. Thời gian không tồn tại, v́
nó nằm ngủ trong ḷng vô tận của sự trường tồn.” Nếu đó không phải
là thơ ca và ẩn dụ, th́ là ǵ? Ẩn dụ thi vị thấm đẫm các văn bản cơ
bản của Thông Thiên Học như Giáo lư Bí truyền, Tiếng nói Vô thinh
và
Ánh
sáng trên Đường Đạo. Hăy thử nghĩ xem những tựa đề ấy sẽ có nghĩa ǵ
nếu được hiểu theo nghĩa đen. Chính tiêu đề, cũng như nội dung, của
các văn bản đều mang tính ẩn dụ thi vị. (Tự Do Đầu Tiên Và Cuối Cùng
của Krishnamurti, tựa đề và nội dung cũng đều là ẩn dụ, LND)
Thứ ba, một khi chúng ta nhận ra rằng các
giáo lư của Thông Thiên Học về cơ bản được tŕnh bày bằng các ẩn dụ
thi ca, chúng ta có thể tránh mọi tranh luận về việc ẩn dụ nào là
“đúng” và ẩn dụ nào không. Ẩn dụ không đúng cũng không sai; chúng
chỉ hiệu quả hoặc không hiệu quả. Và hiệu quả không phải là tuyệt
đối mà là tương đối đối với từng cá nhân và hoàn cảnh sử dụng chúng.
V́ vậy, định hướng ẩn dụ thúc đẩy, thậm chí đ̣i hỏi, không chỉ sự
khoan dung đối với sự đa dạng, mà c̣n là sự đón nhận các biến thể.
Chủ nghĩa giáo điều không tương thích với Thông Thiên Học v́ nó
không tương thích với diễn dịch ẩn dụ. Thay vào giáo điều, chúng ta
có thể đón nhận khái niệm của Trung Hoa về việc “để cho trăm (hoặc
ngàn) bông hoa nở rộ”. Chắc chắn, điều đó không có nghĩa là tất cả
các cách giải thích văn bản Thông Thiên Học đều đúng như nhau. Một
số cách giải thích có thể sai v́ không nhất quán với bản chất
toàn thể của Thông Thiên Học. Nhưng điều đó có nghĩa là
nhiều hơn một cách giải thích có thể hữu ích và do đó đúng. Như một
câu nói cổ xưa, Thông Thiên Học là tất cả, nhưng không phải tất cả
đều là Thông Thiên Học. (Cái toàn thể của các nhà khoa học là cái
toàn thể tổng
hợp, cái toàn thể của TTH th́ không chia chẻ được. Bà Radha Burnier
nói rằng: “Tổng số từng phần không thể là toàn thể.” 10 con số 1
cộng lại bằng 10. 10 có thể chia ra được nên 10 không phải là cái
toàn thể, v́ cái toàn thể của TTH là cái không thể chia chẻ.LND)
Thật không may, những người theo Thông Thiên
Học dường như bị chia rẽ thành các giáo phái đối lập. Một số theo
Blavatsky; số khác theo Judge, Besant, Leadbeater, Tingley,
Purucker, v.v. Hẳn nhiên rồi, bà Blavatsky là người mẹ vĩ đại của
tất cả chúng ta. Thế mà ngay từ đầu, ông Olcott đă đi theo hướng
riêng của ḿnh bằng cách áp dụng Thông Thiên Học vào nhiều truyền
thống tôn giáo khác nhau và vào việc phục vụ nhân loại một cách
thiết thực. Và tất cả các nhà lănh đạo và người dạy học (teacher
không phải Masters. LND) của các nhóm, giáo phái Thông Thiên Học
khác nhau đều đă nỗ lực, mỗi người theo cách riêng của ḿnh, để diễn
đạt lại và áp dụng Minh triết Cổ xưa vào các nhu cầu và điều kiện
đương đại. Mỗi thế hệ cần một tuyên ngôn ẩn dụ riêng về Thông Thiên
Học. Nếu không có quá tŕnh diễn đạt lại liên tục như vậy, Thông
Thiên Học không thể tồn tại như nguồn sinh lực thiết yếu trong cuộc
sống cá nhân và hội (TTH). Việc nhận thức được bản chất ẩn dụ cơ bản
của ngôn ngữ Thông Thiên Học có thể giúp vượt qua chủ nghĩa bè phái
và thúc đẩy sự tôn trọng đúng mực đối với các "giáo phái" khác nhau.
Nhận ra rằng
ngôn ngữ Thông Thiên Học về cơ bản là những ẩn dụ mang tính thi ca
cho những chân lư lớn lao của cuộc sống—chứ không chỉ đơn thuần là
những lời diễn đạt theo nghĩa đen về những sự thật nhỏ nhặt—có thể
mang lại một số lợi ích. Sự nhận thức này có thể dẫn chúng ta đến
thái độ trân trọng đối với những người khác những người ưa chuộng
những ẩn dụ khác với chúng ta, từ đó thúc đẩy sự hiện thực hóa mục
tiêu đầu tiên của Hội. Nó có thể mở rộng tầm nh́n, tâm trí và trái
tim của chúng ta đến những cách nh́n nhận và phản ứng mới mẻ đối với
cuộc sống xung quanh, giúp chúng ta thích nghi và hiệu quả hơn trong
mọi khía cạnh của cuộc sống. Có lẽ quan trọng nhất, nó có thể giúp
chúng ta nắm bắt ư nghĩa và hàm ư của khẩu hiệu của Hội, rằng không
có tôn giáo nào (hay bất kỳ h́nh thức nào khác của con người) cao
hơn Chân lư mà không thể diễn đạt bằng bất kỳ ngôn ngữ thông thường
nào của con người. Như Bhagavad Gita
đă nói:
Om tat sat,
thường được hiểu là: ‘Ừ, mọi thứ vốn là như nó vậy!’”
Ghi chú
1.
Norbert
Wiener, người sáng lập lĩnh vực điều khiển học.
Trong lĩnh vực điều khiển học không hỏi nó được làm bằng ǵ mà chỉ
hỏi nó vận hành ra sao. Nó đặt trên nền tảng feed back, negative
feedback và positive feedback. Phản hồi tiêu cực mang tính duy tŕ,
nóng quá hay lạnh quá liên quan đến duy tŕ hoạt động như máy điều
ḥa. C̣n phản hồi tích cực mang tính phá vở để tiến tới hay xụp đổ.
Hai điều nay giúp ta nghĩ
đến Luật Nhân Quả vừa duy tŕ ṿng chu kỳ của nó vừa phá vở, thoát
ra khỏi cái cũ để tiến hóa.
2.
Tại sao lại là
"Bảy tổ hợp từ ba yếu tố"?
Trong Tân Toán học New Math trước 1975 Nam
Việt Nam chỉ dạy ở lớp 12 từ năm 1969 bây giờ là là môn Thuyết Tập
hợp Set Theory, bây giờ nó được đưa vào giáo dục từ lớp tiểu học với
khái niệm nhóm màu, nhóm trái cây, nhóm số.
Nếu
bạn có 3 yếu tố cơ bản (3 elements) giả sử là A, B, và C, số cách để
bạn kết hợp chúng lại với nhau (không tính tập rỗng, empty set)
chính là 7.
Công thức tính số tập hợp con của một tập
hợp có n phần tử (elements) là 23 - 1.
Với
n=3 (A,B,C)
Ta có 23- 1=
7 (2 lũy
thừa 3 bằng 8. Trừ 1 bằng 7)
Cụ thể, 7 tập hợp đó là:
1.
A
(Yếu tố thứ nhất - đơn lẻ)
2.
B
(Yếu tố thứ hai - đơn lẻ)
3.
C
(Yếu tố thứ ba - đơn lẻ)
4.
A + B
(Sự kết hợp giữa 1 và 2)
5.
A + C
(Sự kết hợp giữa 1 và 3)
6.
B + C
(Sự kết hợp giữa 2 và 3)
7.
A + B + C
(Sự kết hợp của cả ba)
Đúng ra là 8 tập hợp nhưng v́ đó là tập hợp
trống, không có phần tử nào trong đó không kể nên trừ đi 1 c̣n lại
7.
V́ thế con số 3 Ngôi trinity, 3 thể và 7
cung hay 7 cơi không phải là con số ngẫu nhiên mà nó được dựa vào
quy luật. Ngoài ra c̣n một điểm
thú vị khác trong đây là tập hợp trống (empty set) không chứa
phần tử nào cả và bất cứ tập hợp nào cũng có tập hợp trống (không)
và tập hợp trống là tập hợp duy nhất không có cái thứ 2 nên mọi phần
tử đều có chung một tập hợp trống. Từ đó chúng ta nghĩ đến điều từ
‘Không’ mà ‘Có’ ( Cái Tuyệt đối là Không – Vật Thể… Nó không phải là
một vật. Nó là tinh thần vốn là Không tuy nhiên lại là Tất Cả.
GLBT). Ngoài ra, con đường trở về của TTH là buông bỏ. khi buông bỏ
hoàn toàn ta có tập hợp trống (emty set). Phật giáo với bát Nhă Ba
La mật Đa, Sắc bất dị không, vô thường…. C̣n Ấn Độ giáo với linh ngữ
Neti, Neti, không, không, một sự phủ định tuyệt vời.
Ngoài ra, c̣n điều thú vị khác nữa là với 3
element, tập hợp giao của cả 3 ta có tập hợp trung tâm (A,B,C). là
tập hợp toàn thể. Như thế với 3 yếu tố ta sẽ có một tập hợp trống và
một tập hợp trung tâm (toàn thể). Từ đó giúp ta liên tưởng đến cái
Không và cái đại đồng (universal, cái toàn thể) trong TTH. C̣n trong
phật giáo ta có cái vô thường (cái không) và cái Như thị (cái toàn
thể). Và trong Ấn độ giáo th́ có Neti, Neti (cái không) và Giai cấp
(cái biểu hiện, cái toàn thể)
Nói đến Thuyết tập Hợp chúng ta không thể
không nói đến AI v́ AI (trí thông minh nhân tạo) hoạt động dựa trên
xác suất, thống kê. Trước thế kỷ 19, dữ liệu của nó chỉ là con số
đơn giản, bây giờ với thống kê hiện đại nó đặt nền tảng trên Thuyết
Tập Hợp mà Thuyết Tập hợp bao gồm vô vàn lĩnh vực, bất cứ điều ǵ
chúng ta cũng thể đưa vào tập hợp nên AI có một khả năng vô song.
Vậy ta thử t́m hiểu con người và AI có một
sự liên hệ như thế nào?
AI dựa vào
thu thập dữ liệu liệu quá
khứ để hoạt động, con người ngược lại
buông bỏ quá khứ để sống
(sống ở đây cũng là một ẩn dụ) hay nói một cách khác kiến thức thuộc
về AI, Ḿnh triết thuộc con người. Ông Krishnamurti nói về sự buông
bỏ như sau:
Sống chính là
chết. Không có chết th́ không có sống.
Sống trọn vẹn
là chết đi với quá khứ trong từng khoảnh khắc. (Giải Trừ Tri Kiến)
Khi ngày hết,
ấy cũng là cái chết của tất cả ngày hôm qua; và trong cái chết ấy,
một sự tái sinh lại trỗi dậy — không c̣n cái buồn của quá khứ... Sự
sống bỗng trở nên mới mẻ, giữa sự mênh mông của tĩnh lặng.
Krishnamurti (Commentaries on Living)
Đây là câu nói đầy ẩn dụ. Chết là empty là
trút bỏ là buông bỏ. Buông bỏ tất cả quá khứ, buông bỏ sở hữu, thành
quả, được công nhận, buông bỏ kiến thức c̣n lại một sự trống rỗng
như một tập hợp trống không có một phần tử nào mà lại bảo hàm tất cả
như đă nói ở trên và từ sự trống rỗng này mới có sự tái sinh hiểu
theo nghĩa ẩn dụ.
Ông Krishnamurti có một cuốn sách khác nữa
là cuốn Giải Trừ Tri Kiến. C̣n cuốn nói ở phần trên là Tự Do Đầu
Tiên và Cuối Cùng.
Cuốn Giải Trừ Tri Kiến nội dụng là buông bỏ (cái không) và cuốn Tự
Do Đầu Tiên và Cuối Cùng là Như thị, nh́n nó như chính nó, như toàn
thể (Universal). Hai cuốn này thuộc về lĩnh vực triết học và Set
Theory thuộc về lĩnh vực toán học tuy khác lĩnh vực nhưng cùng một
chân lư.
(‘Tự Do Đầu Tiên và Cuối Cùng’ với cái nh́n
‘Như Thị’ không tách ra mà nh́n nguyên như vậy nên Không có cái đầu
và cũng không có cái cuối tách biệt hay phân biệt mà đầu là cuối,
cuối cũng là đầu, “người quan sát chính là vật quan sát” (Tự Do Đầu
Tiên Và Cuối Cùng) khi đó mới có sự tự do hay giải thoát)
HOME T̀M HIỂU NHẬP MÔN sách TIỂU SỬ BẢN TIN H̀NH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 NỮ THẦN ISIS