Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lư

 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS

 SINH HOẠT SAU KHI CHẾT NHƯ THẾ NÀO?

Trích Quyển THỂ VÍA

VÀ CÁC HIỆN TƯỢNG KHÁC CỦA CƠI TRUNG GIỚI

Tác giả: Arthur E. Powell

Bản Dịch: Chơn Như

CHƯƠNG 13

SINH HOẠT SAU KHI CHẾT: CÁC NGUYÊN KHÍ

Ta có thể cứ khăng khăng cho rằng vào lúc con người lâm chung không thấy có bất cứ sự thay đổi đột ngột nào: ngược lại, sau khi chết y vẫn c̣n giống hệt như lúc sinh thời, ngoại trừ việc y không c̣n có một thể xác. Y cũng có loại trí năng, bẩm tính, những đức tính và thói xấu như cũ; việc mất thể xác không khiến cho y biến thành một người khác, cũng chẳng khác nào việc cởi bỏ một cái áo khoác ngoài. Hơn nữa thân phận mà y thấy ḿnh ở trong đó là thân phận mà chính tư tưởng và ham muốn của y đă tạo ra cho ḿnh. Không có phần thưởng hoặc sự trừng phạt nào từ bên ngoài, mà chỉ có kết quả thực sự của điều chính y đă làm, nói và suy nghĩ trong khi c̣n sống trên cơi trần.

Khi ta tiến hành miêu tả sinh hoạt trên cơi trung giới sau khi chêt, ta ắt nhận thấy rằng những sự kiện có thực tương ứng khá chính xác với quan niệm của Công giáo về cơi Luyện tội và Âm phủ hoặc Âm ty của người Hy lạp.

Ư tưởng thơ mộng về sự chết coi đó là việc được dịp cào bằng cho ai cũng giống như ai chỉ là một sự phi lư bắt nguồn từ sự vô minh, bởi v́ quả thật là trong đại đa số trường hợp, việc mất thể xác không gây ra sự khác biệt nào về tính linh hoặc trí năng của người ấy và v́ vậy có biết bao nhiêu biến thể khác nhau của trí thông minh trong đám cái gọi là người chết cũng như trong đám người c̣n sống.

Đây là sự kiện đầu tiên và nổi bật nhất mà ta cần đánh giá cao: sau khi chết không có một sinh hoạt mới mẻ lạ lùng mà vẫn là sự nối tiếp sinh hoạt trên cơi trần như hiện nay trong một vài t́nh huống đă thay đổi.

Trường hợp này kỳ lạ đến nỗi khi người ta bước đầu đến với cơi trung giới sau khi thể xác đă chết th́ y luôn luôn tuyệt nhiên không biết rằng ḿnh đă chết; và ngay cả khi y ngộ ra được điều đă xảy ra cho ḿnh th́ thoạt tiên y cũng chẳng luôn luôn hiểu được cơi trung giới khác với cơi trần như thế nào.

Trong một số trường hợp người ta thường coi chính sự thật ḿnh vẫn c̣n có ư thức là bằng chứng hùng hồn cho thấy ḿnh đâu có chết; và điều này vẫn cứ xảy ra bất chấp việc ḿnh đă tin tưởng và khoác lác rất nhiều về sự bất tử của linh hồn.

Nếu trước kia người ta chưa bao giờ nghe nói tới sinh hoạt trên cơi trung giới th́ y rất có thể bị xáo trộn ít nhiều bởi thân phận hoàn toàn bất ngờ của ḿnh phải cam chịu. Rốt cuộc th́ y cũng chấp nhận thân phận này, mặc dù không hiểu và nghĩ rằng chúng là cần thiết và tất yếu.

Khi nh́n ra ngoài quan sát thế giới mới mẻ, thoạt nh́n có lẽ y thấy nó chẳng khác bao nhiêu và y ắt giả sử rằng ḿnh vẫn quan sát chính cái thế giới ấy giống như trước. Như ta đă biết, mỗi mức độ vật chất trung giới đều bị thu hút bởi mức độ tương ứng của vật chất cơi trần. V́ vậy, nếu ta cứ tưởng tượng cơi trần đột nhiên không tồn tại nữa mà không có sự thay đổi nào khác th́ ta ắt vẫn c̣n có một âm bản toàn bích của nó bằng vật chất cơi trung giới. V́ vậy một người trên cơi trung giới ắt vẫn c̣n thấy những bức tường, đồ đạc nội thất, con người v.v… mà ḿnh vẫn quen thuộc, được phác họa cũng rơ nét như bao giờ bằng cái loại vật chất cơi trung giới thô trược nhất. Tuy nhiên, nếu y khảo sát những vật ấy kỹ lưỡng th́ y ắt nhận thức được rằng mọi hạt đang chuyển động nhanh thấy rơ, thay v́ ta không thấy nó chuyển động như trên cơi trần. Nhưng bởi v́ ít người chịu quan sát kỹ lưỡng cho nên thoạt đầu người chết thường không biết rằng ḿnh đă chịu sự thay đổi nào đó. Vậy là nhiều người, nhất là ở các nước Tây phương thấy thật khó tin rằng ḿnh đă chết chỉ v́ ḿnh vẫn c̣n nh́n thấy, nghe thấy, cảm thấy và suy nghĩ. Việc ngộ ra được điều đă xảy ra có lẽ chỉ ló dạng dần dần khi người ấy phát hiện ra rằng mặc dù ḿnh có thể nh́n thấy bạn bè nhưng không phải lúc nào cũng giao tiếp được với họ. Đôi khi y ngỏ lời với họ thế mà họ dường như không nghe thấy; y cố gắng chạm vào họ và thấy rằng ḿnh không thể gây ấn tượng lên họ. Ngay cả khi đó, thỉnh thoảng y vẫn tự nhủ rằng chắc là ḿnh đang nằm mơ bởi v́ có những lúc bạn bè của y đi ngủ th́ họ lại hoàn toàn có ư thức về y và vẫn nói chuyện với y như cũ.

Dần dần th́ người ấy cũng bắt đầu ngộ ra được những sự khác nhau giữa sinh hoạt hiện thời với sinh hoạt lúc y c̣n sống trên cơi trần. Ví dụ như chẳng bao lâu sau y đă thấy rằng mọi nỗi đau đớn và mệt mỏi không c̣n xảy ra với ḿnh nữa. Y cũng có thể thấy rằng trên cơi trung giới các ham muốn và tư tưởng biểu hiện thành những h́nh thù nh́n thấy được, mặc dù những h́nh thù này bao gồm hầu hết là vật chất tinh vi của cơi ấy. Khi sinh hoạt của y tiếp diễn th́ những thứ này trở nên càng ngày càng nổi bật.

Hơn nữa, mặc dù con người trên cơi trung giới thường không thể nh́n thấy thể xác của bạn bè, thế nhưng y vẫn có thể và nhất định nh́n thấy thể vía của bạn bè cho nên biết được xúc cảm và xúc động của họ. Tất nhiên y không thể theo dơi tỉ mỉ những diễn biến trong sinh hoạt trên cơi trần của họ; nhưng y ngay tức khắc biết được những xúc cảm như thương yêu hoặc thù ghét, ghen tương hoặc ganh tị v́ những thứ ấy ắt biểu hiện qua thể vía của bạn bè.

Vậy là mặc dù người sống thường giả định rằng ḿnh đă “mất” người chết, song người chết chưa bao giờ có cảm tưởng ḿnh đă mất người sống một lúc nào.

Thật vậy con người sống trong thể vía sau khi chết dễ dàng chịu ảnh hưởng sâu sắc của những xúc cảm bạn bè trên cơi hồng trần nhiều hơn khi y ở trên trần thế, bởi v́ y không có thể xác để làm giảm bớt những nhận thức của ḿnh.

Một người trên cơi trung giới thường không nh́n thấy toàn bộ âm bản của một sự vật mà chỉ nh́n thấy bộ phận của âm bản thuộc về cảnh đặc thù mà y đang ở trên ấy vào lúc đó.

Hơn nữa, người ấy tuyệt nhiên không luôn luôn nhận ra được chắc chắn âm bản của thể xác ngay cả khi y nh́n thấy nó. Y thường cần phải có rất nhiều kinh nghiệm trước khi có thể nhận diện rơ ràng được các đồ vật và bất cứ toan tính nào mà y thực hiện nhằm xử trí chúng đều có thể là mơ hồ và không chắc chắn. Ta thường thấy những ví dụ điều này nơi những căn nhà bị ma ám khi có xảy ra việc ném đá hoặc có những chuyển động mơ hồ, vụng về của vật chất trên cơi trần.

Thường thường v́ không ngộ ra được rằng ḿnh đâu cần phải làm việc để kiếm sống, không cần ăn uống, không cần ngủ nghê v.v…; một người sau khi chết vẫn có thể tiếp tục nấu nướng và ăn uống do chính ḿnh hoàn toàn sáng tạo ra qua óc tưởng tượng hoặc thậm chí xây dựng cho ḿnh một căn nhà để ở trong đó. Người ta có ghi chép lại trường hợp một người tự xây dựng cho ḿnh một căn nhà bằng từng viên đá một, mỗi viên đá được tạo ra riêng biệt bằng tư tưởng của chính y. Cố nhiên y có thể dùng cái lượng nỗ lực tương tự ấy để tạo ra trọn cả căn nhà ngay một lúc. Rốt cuộc th́ y cũng buộc ḷng phải thấy rằng v́ những viên đá không có trọng lượng cho nên t́nh huống ở đây khác với t́nh huống trên cơi trần, và thế là y bắt đầu phải điều nghiên thêm nữa.

Cũng vậy, một người lính mới ṭ te đối với t́nh h́nh sinh hoạt trên cơi trung giới có thể tiếp tục đi vào đi ra khỏi một căn pḥng qua lối cửa ra vào hay cửa sổ mà không ngộ ra được rằng ḿnh có thể đi xuyên qua tường cũng dễ dàng như vậy. Cũng v́ lư do ấy, y có thể lê bước trên mặt đường trong khi y hoàn toàn có thể bay bổng trên không trung.

Một người trong buổi sinh thời nhờ được đọc sách báo hoặc bằng cách nào khác đă từng làm quen với t́nh huống nói chung của sinh hoạt trung giới, tự nhiên là thấy ḿnh sau khi chết có một nền tảng kiến thức ít nhiều quen thuộc và v́ vậy không cảm thấy bỡ ngỡ chẳng biết xoay xở ra sao.

Theo kinh nghiệm, ngay cả việc đánh giá cao một cách thông minh giáo huấn huyền bí học về đề tài này cũng có lợi rất nhiều cho con người sau khi chết, trong khi một người chỉ mới nghe nói về t́nh huống sinh hoạt trung giới cũng được lợi ích đáng kể, cho dẫu y có thể coi những giáo huấn ấy chỉ là một trong nhiều giả thuyết và có thể không đeo đuổi chúng thêm nữa. Trong trường hợp những người khác, vốn không được may mắn biết trước về cơi trung giới như vậy th́ kế hoạch tốt nhất của họ là nhận định về vị thế của ḿnh, cố gắng t́m hiểu bản chất của sinh hoạt ngay trước mắt và t́m cách lợi dụng nó tối đa. Hơn nữa họ cũng nên tham khảo ư kiến một người bạn lăo luyện nào đấy.

T́nh h́nh sinh hoạt nêu trên cấu thành Kāmaloka (cơi trung ấm) theo nghĩa đen là thế giới hoặc nơi chốn của Kāma, tức dục vọng, đó là Âm ty, Âm phủ của thần học kinh viện. Nói chung th́ Kāmaloka làm một cơi có đông đúc các thực thể thông tuệ cũng như bán thông tuệ. Nó ken đặc nhiều loại và nhiều dạng thức sinh linh khác nhau như thể một cọng cỏ đối với một con cọp, một con cọp đối với một con người; dĩ nhiên c̣n nhiều thực thể khác sống ở đây ngoài những người đă chết ra (xem các Chương từ 19 tới 21). Nó lồng vào cơi hồng trần và cơi hồng trần cũng đan xen vào nó, nhưng v́ các trạng thái vật chất ở hai cơi này khác nhau cho nên chúng cùng tồn tại bên nhau mà không một thực thể nào của cơi này lại ư thức được các thực thể thuộc cơi kia (âm dương cách trở). Chỉ trong những t́nh huống bất b́nh thường, cư dân của hai cơi mới có thể ư thức được về sự hiện diện của nhau.

Như vậy Kāmaloka không phải ngăn cách thành một biệt khu ngăn cách với phần c̣n lại của cơi trung giới do t́nh huống ư thức của các thực thể trực thuộc nó; chưa gỡ rối khỏi Kāma tức là bản chất xúc động và đam mê. Trạng thái này cũng được gọi là Prataloka tức tâm cảnh ngạ quỉ; ngạ quỉ là một người đă mất thể xác nhưng vẫn c̣n đeo mang lớp vỏ nặng trĩu những ham muốn đầy thú tính.

Ta thấy t́nh huống Kāmaloka có trên mỗi phân cảnh nơi cơi trung giới. Nhiều người chết thoạt tiên lâm vào t́nh huống bứt rứt rất nhiều, c̣n những người khác dứt khoát là bị khiếp sợ. Khi họ gặp phải những h́nh tư tưởng mà chính ḿnh và thân bằng quyến thuộc đă tạo ra trong hằng thế kỷ - tư tưởng về một con quỉ đầu trâu mặt ngựa, một vị thần giận dữ và độc ác trừng phạt đời đời – th́ họ thường co rúm lại trong t́nh trạng sợ hăi đáng thương và có thể mất rất nhiều thời gian đau khổ oằn oại trong tâm trí, trước khi có thể giải thoát ḿnh khỏi ảnh hưởng chết người của những quan niệm vô cùng lầm lạc và điên rồ như thế.

Tuy nhiên nói cho công tâm th́ chỉ trong đám cộng đồng tên là Tin lành th́ cái sự độc ác khủng khiếp ấy mới có dạng gia trọng tột độ. Giáo hội La mă Công giáo vĩ đại với thuyết cơi luyện ngục hầu như gần sát hơn nhiều với một quan niệm chân chính về cơi trung giới, dù sao đi nữa những tín đồ thuần thành của giáo hội cũng ngộ ra được rằng t́nh huống mà ḿnh lâm vào chẳng bao lâu sau khi chết chỉ là một t́nh trạng tạm bợ. Và họ chỉ việc cố gắng vươn lên khỏi nó ngay khi nào có thể được nhờ vào đạo tâm mănh liệt, trong khi họ chấp nhận bất cứ sự đau khổ nào có thể xảy ra với ḿnh coi như cần thiết để rửa sạch những khiếm khuyết trong tính t́nh trước khi họ có thể chuyển sang các cơi cao hơn và tươi sáng hơn.

Như vậy, ta thấy rằng mặc dù tôn giáo đă dạy cho người ta nên trông mong điều ǵ và cách thức sinh hoạt trên cơi trung giới, nhưng trong hầu hết mọi trường hợp người ta đă làm như vậy. V́ thế, cần có nhiều lời giải thích về thế giới mới mẻ mà họ sa vào đó. Nhưng sau khi chết cũng giống như trước khi chết, có mấy ai đạt được sự thẩm định thông minh về sự thật của cơ tiến hóa và nhờ hiểu được một điều ǵ đó về vị thế của ḿnh, họ biết cách lợi dụng được nó. Ngày nay có một số lớn những người dù “c̣n sống” hay “đă chết” đều dấn thân vào việc truy t́m và trợ giúp những người đă chết mà c̣n chưa biết bản chất chân thực của sinh hoạt sau khi chết (Xem chương 28 bàn về Những người pḥ trợ vô h́nh). Tuy nhiên tiếc thay trên cơi trung giới cũng như trên cơi trần, kẻ vô minh hiếm khi nào sẵn sàng lợi dụng được lời khuyên hoặc gương mẫu của người minh triết.

Đối với người trước khi thể xác chết đă làm quen với t́nh h́nh sinh hoạt thật sự trên cơi trung giới th́ một trong những đặc trưng dễ chịu nhất của sinh hoạt ấy chính là sự an dưỡng và hoàn toàn giải thoát khỏi mọi nhu cầu khẩn thiết, chẳng hạn như ăn uống vốn làm nặng trĩu sinh hoạt trên cơi trần. Trên cơi trung giới người ta hoàn toàn được tự do làm bất cứ điều ǵ ḿnh thích và sử dụng thời giờ tùy thích.

Như ta đă nêu rơ, một người chết đi trên cơi trần đang đều đều triệt thoái về Chơn nhơn. Trọn cả chu kỳ sống và chết có thể được ví như một h́nh bầu dục mà chỉ có phần thấp nhất là đi qua cơi hồng trần. Trong phần đầu của chu kỳ này, Chơn ngă phóng ḿnh ra nhập vào vật chất, điểm giữa của đường cong ắt là trung điểm trong sinh hoạt trên cơi trần, khi lực của Chơn ngă đă tiêu tốn để ùa ra ngoại cảnh rồi chuyển sang việc bắt đầu quá tŕnh dài dằng dặc nhằm triệt thoái.

Như vậy ta có thể coi mỗi kiếp nhập thế trên cơi trần là việc Chơn ngă (nơi cư trú của nó là phần cao của cơi trí tuệ) đặt cược ra bên ngoài như một cuộc đầu tư và trông mong cuộc đầu tư ấy sẽ thu lại được thêm nhiều kinh nghiệm vốn sẽ được phát triển thành những phẩm chất mới cho ḿnh.

V́ vậy thời gian sinh hoạt sau khi chết mà ta trải qua trên cơi trung giới dứt khoát là thời kỳ triệt thoái về Chơn ngă. Trong phần sau cùng của sinh hoạt trên cơi trần, tư tưởng và sự quan tâm của con người nên càng ngày càng ít hướng về chỉ những vấn đề trên cơi trần thôi; cũng vậy trong khi sinh hoạt trên cơi trung giới, y nên càng ngày càng ít chú ư tới vật chất thấp thuộc cơi trung giới vốn cấu tạo thành đối phần của các vật trên cơi trần, mà bận tâm tới vật chất cao được dùng để tạo ra các h́nh tư tưởng dục vọng. Y đâu cần phải thay đổi vị trí trong không gian (mặc dù điều này cũng đúng một phần, xem Chương 14) so với việc y cần phải di chuyển trọng tâm chú ư của ḿnh. V́ thế cho nên đối phần của cơi hồng trần mà y đă rời bỏ dần dần mờ nhạt đi trong tầm nh́n của y và sinh hoạt của y càng ngày càng trở thành sinh hoạt trong thế giới tư tưởng. Những ham muốn và xúc động mà y vẫn c̣n dai dẵng, do đó bởi v́ vật chất cơi trung giới sẵn sàng tuân theo những ham muốn và tư tưởng của y cho nên những h́nh tướng xung quanh y phần lớn sẽ biểu diễn được những xúc cảm của chính y mà bản chất của chúng chủ yếu sẽ xác định liệu sinh hoạt của y là hạnh phúc hay khốn khổ.

Mặc dù trong quyển sách này ta không bàn tới bộ phận của sinh hoạt sau khi chết diễn ra trên cơi “thiên đường”, nghĩa là trên cơi trí tuệ; tuy nhiên để hiểu trọn vẹn được những ǵ xảy ra cho thể vía trên cơi trung giới, ta nên nhớ rằng, sinh hoạt trên cơi trung giới chủ yếu là một giai đoạn trung gian trong trọn cả chu kỳ sống và chết để chuẩn bị cho sinh hoạt trên cơi trí tuệ.

Như ta đă thấy, ngay sau khi thể xác chết, thể vía được giải thoát; diễn tả theo quan điểm tâm thức th́ Kāma–Manas được giải thoát. Từ đó trở đi, cái bộ phận của hạ trí vốn không móc ngoặc chằng chịt với Kāma, dần dần cũng được giải thoát mang theo ḿnh những kinh nghiệm thích hợp để cho thể thượng trí đồng hóa được.

Trong khi ấy, cái bộ phận của hạ trí vẫn c̣n móc ngoặc với Kāma mang lại cho thể vía một ư thức khá lẫn lộn, một trí nhớ đứt quăng về những diễn biến của cuộc đời vừa mới kết thúc. Nếu những xúc động và đam mê thật mạnh mẽ, c̣n yếu tố trí tuệ chỉ yếu ớt thôi th́ thể vía sẽ được cấp năng lượng dồi dào và sẽ đeo bám cơi trung giới trong một thời gian đáng kể. Nó cũng sẽ tỏ ra có một số lượng ư thức đáng kể do có vật chất trí tuệ móc ngoặc trong đấy. Mặt khác, nếu sinh hoạt trên cơi trần vừa kết liễu được đặc trưng bởi yếu tố trí tuệ và sự thanh khiết hơn là bởi đam mê th́ thể vía không được cấp năng lượng dồi dào mà chỉ là một mặt nạ giả trang mờ nhạt của con người, nó sẽ tan ră và chết đi tương đối nhanh.

 

CHƯƠNG 14

SINH HOẠT SAU KHI CHẾT: NHỮNG CHI TIẾT ĐẶC THÙ

 

Khi xét tới t́nh h́nh sinh hoạt của con người trên cơi trung giới, có hai yếu tố nổi bật mà ta cần chú ư: (1) – Thời khoảng mà y trải qua ở bất kỳ cảnh đặc thù nào, (2) – Mức độ ư thức của y về cảnh ấy.

Thời khoảng tùy thuộc vào lượng vật chất của cảnh ấy mà y đă kiến tạo vào thể vía của ḿnh trong buổi sinh thời. Y tất yếu vẫn c̣n ở trên cảnh ấy cho đến khi vật chất tương ứng với nó đă bị trút bỏ ra khỏi thể vía của y.

Như ta đă thấy, trong buổi sinh thời, phẩm tính của thể vía mà y kiến tạo cho ḿnh trực tiếp xác định đam mê, ham muốn và xúc động được gián tiếp xác định bởi tư tưởng của y cũng như các thói quen thể xác của y (ăn uống, sạch sẽ, tiết dục v.v…). Một thể vía thô thiển và nặng trược bắt nguồn từ một sinh hoạt thô tục và lỗ măng, ắt khiến cho người ấy chỉ đáp ứng với những rung động thấp của cơi trung giới sao cho sau khi chết y ắt thấy ḿnh bị ràng buộc vào cơi trung giới qua quá tŕnh từ từ và lâu dài nhằm làm tan biến thể vía.

Mặt khác, một thể vía thanh bai được tạo ra do một sinh hoạt thanh khiết và tế nhị, ắt khiến cho người ấy không đáp ứng với những rung động thấp và thô của cơi trung giới mà chỉ đáp ứng với những ảnh hưởng cao hơn; do đó y ắt trải nghiệm ít rắc rối hơn nhiều trong sinh hoạt sau khi chết, và sự tiến hóa của y sẽ diễn ra nhanh chóng và dễ dàng.

Mức độ ư thức tùy thuộc vào mức độ y làm linh hoạt và sử dụng vật chất của cảnh đặc thù ấy trong buổi sinh thời.

Nếu trong lúc sống trên trần thế, y thả rông cho bản chất thú tính sổng chuồng, nếu y lơ là hoặc bóp nghẹt bản chất trí thức và tâm linh, th́ thể vía tức thể dục vọng sẽ tồn tại dai dẳng một thời gian dài sau khi thể xác chết.

Mặt khác, nếu y đă chinh phục và chế ngự được dục vọng trong buổi sinh thời, nếu nó đă được tẩy trược và rèn luyện để tuân phục bản chất cao cả, th́ ắt chẳng có bao nhiêu năng lượng được cấp cho thể vía, và nó sẽ nhanh chóng tan ră và phân hủy đi.

Tuy nhiên, kẻ phàm phu tuyệt nhiên chưa giải thoát được mọi ham muốn thấp hèn trước khi chết; do đó phải mất một thời kỳ dài ít nhiều sinh hoạt hữu thức trọn vẹn trên đủ thứ cảnh của cơi trung giới để cho các lực mà y đă sản sinh ra bị thanh toán hết, thế là giải thoát được Chơn ngă.

Nguyên tắc chung là khi thể vía đă bị cạn kiệt hết ái lực đối với một cảnh th́ đa số các hạt thô đều rơi rụng đi và nó thấy ḿnh có ái lực với một trạng thái hiện tồn hơi cao siêu hơn. Có thể nói tỉ trọng riêng của nó thường xuyên giảm đi v́ thế nó đều đều thăng lên từ tầng thô trược cho tới tầng thanh nhẹ và chỉ tạm ngừng lại ở nơi nó được cho thăng bằng chính xác trong một thời gian.

Ở trên bất kỳ cảnh cho sẵn nào trên cơi trung giới tức là đă phát triển được sự bén nhạy của những hạt trong thể vía vốn thuộc về cảnh ấy. Có tầm nh́n hoàn hảo trên cơi trung giới có nghĩa là đă phát triển được sự bén nhạy nơi mọi hạt của thể vía sao cho mọi cảnh đều được nh́n thấy cùng một lúc.

Một người đă sống cuộc đời tốt đẹp và thanh khiết với những xúc cảm và hoài băo mạnh mẽ nhất mang tính vị tha và tâm linh th́ người ấy sẽ không bị cuốn hút vào cơi trung giới và nếu được bỏ mặc hoàn toàn một ḿnh th́ y thấy chẳng có mấy điều giữ y lại trên đó hoặc khiêu khích y hoạt động trong một thời kỳ tạm trú tương đối ngắn ngủi. Những đam mê trần tục của y đă bị khống chế trong buổi sinh thời và lực ư chí của y đă được hướng vào các kênh dẫn cao hơn, cho nên chỉ có ít năng lượng ham muốn thấp hèn cần phải thanh toán trên cơi trung giới. V́ vậy thời gian lưu trú của y ở đó sẽ rất ngắn ngủi và rất có thể là y chẳng qua chỉ có bán ư thức mơ màng cho đến khi y lại ch́m vào giấc ngủ trong đó các nguyên khí cao của y rốt cuộc giải thoát ra khỏi thể vía và nhập vào sinh hoat cực lạc trên cơi thiên đường.

Diễn tả một cách chuyên môn hơn, th́ trong buổi sinh thời, Manas đă tẩy trược Kāma mà ḿnh bị móc ngoặc vào đó đến nỗi sau khi chết đi Kāma chỉ c̣n là một cặn bă dễ dàng bị Chơn ngă triệt thoái rũ bỏ. Một người như thế v́ vậy ắt ít có ư thức trên cơi trung giới.

Hoàn toàn có thể đó là một người do kết quả của những kiếp trước đă có khá nhiều chất thô trược cơi trung giới trong thể vía của ḿnh. Cho dẫu y đă được cải tạo và sống một cuộc đời theo hạnh kiểm th́ y không làm linh hoạt lớp vật chất thô ấy và mặc dù nhiều loại vật chất thô ấy đă bị rũ bỏ và được thay thế bằng những vật liệu tinh vi hơn, thế nhưng hoàn toàn có thể c̣n lại nhiều vật liệu ấy. V́ vậy, người ấy ắt phải ở lại trên một cảnh thấp của cơi trung giới trong một thời gian nào đó cho đến khi quả thật vật chất thô đều đă rơi rụng hết. Nhưng v́ vật chất thô không được làm linh hoạt cho nên y ắt có ư thức và thực tế là thiu thiu ngủ trải qua suốt thời kỳ tạm trú ở đó.

Có một điểm mà ta gọi là mức tới hạn giữa mỗi cặp của phân trạng thái (sub – states) vật chất: nước đá có thể được nâng lên mức mà chỉ cần thêm một chút nhiệt cũng biến nó thành nước lỏng; nước lỏng có thể nâng lên tới mức mà chỉ cần thêm một chút nhiệt cũng biến nó thành hơi nước. Và thế là mỗi phân trạng thái của vật chất trung giới có thể được đưa lên tới mức tinh vi đến nỗi chỉ cần tinh vi thêm một chút cũng biến nó thành ra phân trạng thái kế tiếp cao hơn. Nếu một người đă làm như vậy đối với mọi phân trạng thái vật chất trong thể vía của ḿnh sao cho nó được tẩy trược tới mức tinh vi nhất có thể được th́ chỉ cần lực làm tan ră lần đầu tiên chạm tới nó cũng phá tan sự cố kết của nó, phân giải nó thành ra t́nh huống nguyên thủy, ngay tức khắc khiến y được tự do chuyển sang cảnh kế tiếp. Như vậy việc y đi xuyên qua cơi trung giới ắt nhanh không thể tưởng tượng được và y sẽ bay như chớp qua cơi này hầu như ngay tức khắc lên tới trạng thái cao là cơi thiên đường.

Mọi người sau khi chết đều phải trải qua tất cả cảnh của cơi trung giới trên đường đi tới cơi thiên đường. Nhưng cho dù y có ư thức hay chăng về bất kỳ hoặc tất cả những thứ ấy và có ư thức đến mức nào th́ điều ấy vẫn c̣n tùy thuộc vào những yếu tố nêu trên.

V́ những lư do ấy, rơ ràng là mức độ ư thức mà con người có thể sở hữu được trên cơi trung giới cùng với thời gian mà y phải trải qua ở đó trên con đường đi tới cơi thiên đường, có thể biến thiên trong một phạm vi rất rộng. Có một số người chỉ trải qua vài tiếng đồng hồ hoặc vài ngày trên cơi trung giới; những người khác ở lại đó trong nhiều năm hoặc ngay cả nhiều thế kỷ.

Đối với một kẻ phàm phu th́ hai mươi hoặc ba mươi năm trên cơi trung giới sau khi chết là con số trung b́nh phải chăng. Một trường hợp ngoại lệ là nữ hoàng Elizabeth, bà yêu tổ quốc nồng nàn đến nỗi chỉ gần đây bà mới chuyển lên cơi thiên đường sau khi trải qua thời gian từ lúc chết để nỗ lực (măi cho tới gần đây hầu như vẫn không thành công) gây ấn tượng lên những người kế vị cho họ biết ư kiến của ḿnh về điều phải được thực hiện cho nước Anh.

Một ví dụ đáng chú ư khác là nữ hoàng Victoria, bà đă đi qua cơi trung giới rất nhanh để nhập vào cơi thiên đường, việc bà đi nhanh như thế chắc chắn là do hàng triệu h́nh tư tưởng yêu thương và biết ơn được gửi tới cho bà, cũng như cho tính tốt cố hữu của bà.

Vấn đề chung chung về thời khoảng giữa hai kiếp sống trên trần thế thật là phức tạp. Ở đây ta chỉ có thể đề cập ngắn gọn tới bộ phận trên cơi trung giới của những thời khoảng ấy. Muốn có chi tiêt thêm nữa xin môn sinh tham khảo tác phẩm Sinh hoạt nội giới quyển 2, trang 458 – 474.

Ta phải xét đến ba yếu tố chính:

(1)      – Lớp chơn ngă

(2)      – Phương thức biệt lập ngă tính

(3)      – Độ dài và bản chất của kiếp sống trên trần thế vừa qua

Bảng sau đây cung cấp phần trung b́nh tổng quát cho độ dài của sinh hoạt trên cơi trung giới được xác định theo lớp chơn ngă.

 

Người trên dăy

Nguyệt tinh:

Cấp 1

 

Biệt lập ngă tính trên cơi Nguyệt tinh.

Cuộc tuần hoàn số

Loại h́nh hiện nay

Thời gian trung b́nh của sinh hoạt trên cơi trung giới

5

Các Chơn ngă tiên tiến, nhiều Chơn ngă này nhập thể liên tục sao cho đối với họ vấn đề thời khoảng giữa hai kiếp sống không nảy sinh ra

5 năm: một chơn ngă thậm chí có thể trải qua nhanh chóng và vô ư thức

Con người nổi bật về nghệ thuật, khoa học hoặc tôn giáo

Khuynh hướng chung là hướng về một sinh hoạt dài hơn trên cơi trung giới, nhất là trong trường hợp các nghệ sĩ và những người theo tôn giáo

6

Những nhà quí tộc đồng quê và những người chuyên nghiệp

20 – 85 năm

7

Giai cấp trung lưu thượng đẳng

25 năm

Lớp Chơn ngă

 

 

Những người dăy Nguyệt tinh: cấp 2

Giới tiểu tư sản

40 năm

Người  thú trên dăy Nguyệt tinh

Công nhân lành nghề

40 năm ở mức trung b́nh

Con thú trên dăy Nguyệt tinh lớp 1

Công nhân không lành nghề

40 – 50 năm trên các mức hạ đẳng

Con thú trên dăy Nguyệt tinh lớp 2

Những kẻ nghiện rượu và hết xài

40 – 50 năm thường là trên cảnh thứ 6

Con thú trên dăy Nguyệt tinh lớp 3

Nhân loại thấp kém nhất

5 năm trên cảnh thứ 7

 

Chắc chắn có sự khác nhau do phương thức cá thể hóa, nhưng sự khác nhau này có tỉ lệ hơn nhiều nơi các lớp thấp hèn. Những người đă cá thể hóa do trí năng có khuynh hướng trải qua một thời khoảng giữa hai kiếp sống khá dài hơn mức được trải qua bởi những kẻ cá tể hóa theo kiểu khác.

Nói chung th́ một người chết trẻ ắt có thời khoảng ngắn hơn so với người chết lúc tuổi già nhưng rất có thể có một sinh hoạt trung giới dài hơn tỉ lệ theo đó, bởi v́ hầu hết những xúc động mạnh được thanh toán trong sinh hoạt trên cơi trung giới đều được sản sinh ra trong buổi sinh thời lúc c̣n trai trẻ.

Ta phải nhớ rằng trên cơi trung giới hầu như không áp dụng được những phương pháp thông thường để đo lường thời gian; ngay cả trong sinh hoạt trên cơi trần th́ sự lo âu hoặc đau khổ ắt trải ra một vài tiếng đồng hồ mà hầu như là vô tận và trên cơi trung giới th́ đặc trưng này được khuếch đại lên cả trăm lần.

Một người trên cơi trung giới chỉ có thể đo lường thời gian qua cảm giác của ḿnh. Đó là v́ một sự bóp méo sự thật này đă đưa tới ư niệm sai lầm về việc đọa lạc đời đời.

Như vậy ta ắt thấy rằng cả (1) thời gian trôi qua lẫn (2) mức độ ư thức trải nghiệm trên mỗi cảnh của cơi trung giới đều tùy thuộc rất nhiều vào loại sinh hoạt mà con người đă trải qua trên cơi trần. Một yếu tố khác có tầm quan trọng lớn lao là tâm trạng của con người sau khi thể xác chết.

Sinh hoạt trên cơi trung giới có thể do ư chí điều khiển chẳng khác nào sinh hoạt trên cơi hồng trần. Một người có ít quyền năng ư chí hoặc có ít sáng kiến th́ trên cơi trung giới cũng như trên cơi hồng trần đều trôi giạt theo môi trường xung quanh do chính ḿnh tạo ra. Mặt khác, một người có quyết tâm có thể luôn luôn tận dụng được hoàn cảnh của ḿnh và sống cuộc đời riêng bất chấp hoàn cảnh. V́ vậy, một người không dứt bỏ được những khuynh hướng gian tà trên cơi trung giới, trừ phi y dứt khoát hành động v́ mục tiêu ấy. Nếu y không dứt khoát cố gắng th́ y tất yếu chịu đau khổ do không thể thỏa măn những điều thèm thuồng mà ta chỉ có thể thỏa măn được nhờ vào một thể xác. Theo thời gian, ham muốn sẽ ṃn mỏi và chết đi chỉ v́ không thể thỏa măn được.

Tuy nhiên quá tŕnh này có thể được đẩy nhanh lên nhiều ngay khi con người nhận ra việc cần phải giải thoát ḿnh khỏi những ham muốn gian tà giữ ḿnh lại và thực hiện những nỗ lực cần thiết. Một người không biết tới t́nh trạng sự việc chân thực thường suy đi ngẫm lại về những ham muốn của ḿnh, thế là kéo dài thời gian sống của chúng và tuyệt vọng bám lấy những hạt vật chất thô của trung giới đến mức tối đa, bởi v́ cảm giác liên quan tới chúng dường như gần nhất với sinh hoạt trên cơi trần mà y vẫn c̣n thèm thuồng. Qui tŕnh thích đáng đối với y dĩ nhiên là phải tiêu diệt các ham muốn trần tục và triệt thoái vào bên trong ḿnh càng nhanh càng tốt.

Ngay cả việc chỉ biết trong cái trí về t́nh h́nh sinh hoạt trên cơi trung giới và thật ra chỉ biết những chơn lư Thông Thiên Học nói chung, cũng có giá trị vô song đối với con người sinh hoạt sau khi chết.

Điều cực kỳ quan trọng là sau khi thể xác chết, người ấy phải nhận thức hoàn toàn rơ rệt rằng ḿnh đang đều đều triệt thoái hướng về chơn ngă và do đó y nên tháo gỡ tư tưởng ḿnh hết mức ra khỏi những sự vật trên cơi trần, và chú tâm tới những vấn đề tâm linh vốn làm y bận tâm để đến đúng lúc y chuyển từ cơi trung giới sang cơi trí tuệ tức cơi thiên đường.

Bằng cách chọn theo thái độ này y sẽ làm dễ dàng sự tan ră tự nhiên của thể vía thay v́ bị lần lữa trên các cảnh thấp của cơi trung giới một cách không cần thiết và vô ích.

Tiếc thay nhiều người không chịu xoay tư tưởng hướng lên mà lại bám lấy những vấn đề trần tục dai dẳng tuyệt vọng. Khi thời gian trôi qua theo lộ tŕnh b́nh thường của cơ tiến hóa, họ dần dần không tiếp xúc với các cơi thấp, nhưng do việc cứ vùng vằng ở mỗi bước tiến dọc đường, họ gây ra cho bản thân nhiều sự đau khổ không cần thiết và làm tŕ hoăn nghiêm trọng sự tiến hóa đi lên của ḿnh.

Trong sự đối lập vô minh này chống lại lộ tŕnh tự nhiên của vạn vật, việc chiếm hữu được một xác phàm ắt trợ giúp cho người ấy, xác chết được dùng làm một loại điểm tựa bám lấy cơi hồng trần. Phương thuốc tốt nhất để chữa khuynh hướng này là thiêu xác, nó hủy diệt mối liên kết với cơi trần.

Một vài ví dụ tiêu biểu về sinh hoạt sau khi chết trên cơi trung giới ắt minh họa tốt cho bản chất và cơ sở lư luận của sinh hoạt ấy.

Một người b́nh thường không đặc sắc, chẳng đặc biệt tốt cũng chẳng đặc biệt xấu, cố nhiên không hề bị thay đổi do đă chết mà vẫn c̣n không đặc sắc. V́ vậy y ắt không đặc biêt đau khổ mà cũng chẳng đặc biệt vui sướng; thật vậy, y có thể thấy sinh hoạt khá tẻ nhạt, bởi v́ trong buổi sinh thời y chẳng trau dồi được một sự hứng thú đặc biệt nào cho nên trong sinh hoạt trên cơi trung giới y cũng chẳng có ǵ hứng thú.

Nếu trong buổi sinh thời y chẳng có ư kiến ǵ ngoại trừ việc ngồi lê đôi mách, chơi thể thao, kinh doanh hoặc quần là áo lược th́ tự nhiên khi những thứ này không c̣n có được nữa, y rất có thể thấy thời gian kéo dài lê thê.

Tuy nhiên, một người có ham muốn mănh liệt thuộc loại thấp, chẳng hạn như một người ghiền rượu hoặc ham mê ngũ dục th́ ắt gặp trường hợp tệ hơn nhiều. Chẳng những sự thèm thuồng và ham muốn của y vẫn c̣n (ta nên nhớ rằng các trung tâm cảm giác không ở nơi thể xác mà ở nơi Kāma – Xem trang 24), nhưng chúng ắt mạnh hơn bao giờ hết bởi v́ trọn cả sức mạnh của nó được biểu diễn qua vật chất trên cơi trung giới, không một lực nào được hấp thu để phát động những hạt nặng nề trên cơi trần.

V́ ở trong t́nh huống thấp nhất và trụy lạc nhất trong sinh hoạt trên trung giới cho nên một người thường có vẻ vẫn c̣n ở đủ gần cơi hồng trần để bén nhạy với một vài hơi hám, mặc dù sự khiêu khích được tạo ra như thế chỉ kích thích thêm nữa ham muốn điên cuồng của y và dày ṿ y tới mức gần phát điên.

Nhưng bởi v́ y không c̣n có thể xác nữa để xoa dịu những thèm thuồng của ḿnh cho nên y không thể thỏa măn sự khao khát khủng khiếp ấy. V́ thế cho nên vô số truyền thuyết đều nói tới lửa luyện ngục mà ta thấy trong hầu hết mọi tôn giáo vốn là biểu tượng hay ho để chỉ t́nh trạng bị hành hạ như được miêu tả. Một t́nh trạng như thế có thể kéo dài một thời gian khá lâu v́ nó chỉ mất đi do dần dần bị ṃn mỏi.

Cơ sở lư luận và sự công bằng tự động của toàn thể quá tŕnh này thật rơ ràng: người ấy đă chính ḿnh tạo ra t́nh huống bằng tác động của chính ḿnh để xác định mức độ chính xác quyền năng và độ dài của chúng. Hơn nữa, đó là cách duy nhất giúp y có thể dẹp bỏ được những thói xấu ấy. Đó là v́ nếu y phải được tái sinh ngay tức khắc th́ y ắt bắt đầu kiếp sống kế tiếp của ḿnh ngay khi y kết thúc kiếp sống trước, nghĩa là vẫn nô lệ cho những đam mê và thèm thuồng; khả năng y làm chủ được chính ḿnh ắt bị giảm đi rất nhiều. Nhưng sự việc là y đă làm ṃn mỏi những điều thèm thuồng ấy cho nên y có thể bắt đầu kiếp lâm phàm sắp tới mà không chịu gánh nặng của chúng; chơn ngă của y đă học một bài học khắc nghiệt như thế, rất có thể thực hiện mọi nỗ lực khả hữu để kiểm soát các hạ thể khỏi vấp phải một lỗi lầm tương tự.

Một người nghiện rượu thâm căn cố đế đôi khi có thể khoác lấy xung quanh ḿnh một lớp màn vật chất dĩ thái, thế là hiện h́nh ra một phần. Bấy giờ y có thể thu rút hơi hám của rượu, mặc dù y không thể ngửi được mùi của nó theo nghĩa mà ta thường hiểu. V́ thế cho nên y nôn nóng cưỡng bức người khác đọa vào t́nh cảnh nghiện rượu sao cho y có thể phần nào nhập vào thể xác và ám ảnh những thể xác ấy, rồi thông qua những thể xác ấy một lần có thể trải nghiệm trực tiếp những khẩu vị và cảm giác mà y thèm thuồng.

Việc nhập xác có thể thường xuyên hay tạm bợ. Như ta vừa nêu một người đă chết nhưng ham mê ngũ dục có thể chiếm lấy bất kỳ hiện thể nào mà ḿnh trộm cắp được để thỏa măn những ham muốn thô tục của ḿnh. Có khi người ta nhập xác một người khác với tính toán đó là hành vi trả thù; người ta ghi lại được một trường hợp có một người nhập xác con gái của kẻ thù.

Việc nhập xác có thể được ngăn cản hoặc chống lại tốt nhất qua việc vận dụng quyền năng ư chí. Khi nó xảy ra, điều này hầu như luôn luôn bởi v́ nạn nhân trước hết đă tự nguyện chiều theo ảnh hưởng xâm nhập, v́ vậy bước đầu tiên là đảo ngược hành vi tùy thuận. Tâm trí nên đều đều kiên quyết chống lại việc nhập xác v́ nhận thức mănh liệt được rằng ư chí con người mạnh hơn bất kỳ ảnh hưởng gian tà nào.

Sự nhập xác như thế cố nhiên hoàn toàn không tự nhiên và ở mức độ cao nhất có hại cho cả đôi bên.

Hậu quả của viêc hút thuốc lá quá độ đối với thể vía sau khi chết thật là đáng kể. Chất độc chiếm đầy thể vía đến nỗi nó cứng ngắc lại do ảnh hưởng của chất độc và không thể tác động thỏa đáng hoặc di chuyển tự do. Con người nhất thời dường như thể bị liệt. Có thể nói được nhưng không cử động được, và hầu như hoàn toàn bị cắt rời khỏi những ảnh hưởng cao siêu. Khi bộ phận nhiễm độc của thể vía đă rơi rụng mất th́ y mới xuất lộ ra khỏi t́nh trạng khó chịu này. Thể vía thay đổi các hạt cũng giống như thể xác nhưng không có điều ǵ tương ứng với việc ăn và tiêu hóa thực phẩm. Các hạt của thể vía rơi rụng ra bị thay thế bởi những hạt khác từ bầu hào quang xung quanh. Những sự thèm thuồng thuần túy của thể xác như đói và khát không c̣n tồn tại nơi đây nữa, nhưng ham muốn của kẻ háu ăn nhằm thỏa măn cảm giác về khẩu vị và ham muốn của kẻ nghiện rượu về những xúc cảm nối tiếp việc uống rượu (cả hai đều thuộc thể vía) vẫn c̣n dai dẳng; và như ta đă nêu rơ chúng có thể gây ra đau khổ nhiều do thiếu vắng thể xác mà chỉ có nó mới giúp thỏa măn được chúng.

Có nhiều thần thoại và truyền thuyết tiêu biểu cho t́nh huống miêu tả như trên. Một trong những thứ đó là thần thoại Tantalus, ông bị khát đến điên lên, thế nhưng có số phận nh́n thấy nước rụt lại ngay khi nó sắp chạm vào môi ḿnh. Một thần thoại khác tiêu biểu cho tham vọng là thần thoại Sisysplaus bị kết án lăn một ḥn đá nặng lên trên đỉnh núi rồi thấy nó lăn xuống trở lại. Ḥn đá biểu diễn những kế hoạch đầy tham vọng mà một con người như thế tiếp tục tạo ra, để rồi ngộ ra được rằng ḿnh không có thể xác để thi hành những kế hoạch ấy. Rốt cuộc, y ṃn mỏi hết tham vọng ích kỷ của ḿnh và ngộ ra được rằng ḿnh không cần lăn ḥn đá và để cho nó nằm im dưới chân của đồi núi.

Một câu chuyện khác là chuyện Tityus, một người bị cột vào một tảng đá, gan bị kên kên gặm nhấm và nó lại mọc lên với tốc độ nhanh như khi bị ăn hết. Điều này tượng trưng cho một người bị hành hạ do sự cắn rứt ân hận về những tội lỗi mà ḿnh phạm phải trên trần thế.

Một kẻ phàm phu trên trần thế sau khi chết đi thường phải chịu số kiếp hẩm hiu là một sinh hoạt nhàm chán hết mức và vô ích, thiếu hết mọi điều đáng chú ư đối với lư trí: đó là hậu quả tự nhiên của một cuộc đời phí phạm vào việc buông thả bản thân, sống dung tục và ngồi lê đôi mách trên trần thế.

Điều duy nhất mà y thèm thuồng th́ không c̣n có thể được nữa bởi v́ ở cơi trung giới không c̣n công việc khó khăn, và mặc dù y vẫn giao tiếp như mong muốn với nhiều người th́ xă hội hiện nay đối với y vẫn là vấn đề khác hẳn, v́ mọi cao vọng về nó mà người ta trên thế giới này thường dựa vào đó đều không c̣n có thể được nữa.

Vậy là con người tạo ra cho chính ḿnh cả luyện ngục lẫn thiên đường, và đây không phải là những nơi chốn mà là những trạng thái tâm thức. Địa ngục không tồn tại, nó chỉ là một tṛ tưởng tượng của thần học. Luyện ngục cũng như thiên đường không vĩnh hằng v́ một nguyên nhân hữu hạn không thể tạo ra một kết quả vô hạn.

Tuy nhiên thân phận của loại người tồi tệ nhất sau khi chết có lẽ được miêu tả hay nhất bằng thuật ngữ “địa ngục”, mặc dù chúng không có tính cách đời đời. Thế là chẳng hạn như đôi khi xảy ra việc một kẻ sát nhân bị nạn nhân của ḿnh đuổi theo bén gót mà chẳng bao giờ có thể thoát khỏi sự hiện diện ám ảnh của nạn nhân. Nạn nhân (trừ phi bản thân là một loại rất tồi tệ) bị cuộn ḿnh trong vô ư thức và chính sự vô ư thức này dường như thêm một sự khủng khiếp mới nữa cho việc đeo đuổi máy móc ấy.

Những người mổ xác sinh vật sống cũng có “địa ngục” của ḿnh nơi mà y sống giữa đám đông h́nh thể những nạn nhân mà ḿnh đă cắt cụt tay chân; chúng đang rên rỉ, run rẩy, gào thét. Đây là những sinh linh bị mổ xẻ lúc c̣n sống, không phải do các hồn thú mà là do sinh linh tinh linh nhân tạo phập phồng với ḷng thù ghét kẻ hành hạ ḿnh; diễn tập lại những cuộc thực nghiệm tồi tệ nhất với tính đều đặn tự động, có ư thức về mọi điều khủng khiếp của ḿnh, thế nhưng bị bắt buộc phải tự hành hạ ḿnh do thói quen đă lập nên trong khi sinh hoạt trên trần thế.

Những t́nh huống như thế không hề được tạo ra tùy tiện mà là những kết quả tất yếu của những nguyên nhân do mỗi người phát động. Những bài học trong thiên nhiên thật là sắc sảo, nhưng về lâu về dài chúng thật là từ bi bởi v́ chúng đưa tới sự tiến hóa của linh hồn và mang tính sửa trị lành mạnh một cách nghiêm túc.

Đối với hầu hết mọi người, t́nh trạng sau khi chết hạnh phúc hơn nhiều so với khi c̣n sống trên trần thế. Xúc cảm đầu tiên mà người chết thường có ư thức là một sự tự do kỳ diệu nhất và khoan khoái nhất; y chẳng việc ǵ phải lo âu và chẳng c̣n bổn phận nào phải thực hiện, ngoại trừ những bổn phận y tự nguyện áp đặt lên bản thân.

Xét theo quan điểm này th́ rơ ràng là đă có sự biện minh lớn lao cho lời khẳng định rằng những người “sống” trên cơi trần v́ bị chôn vùi và câu thúc trong thể xác cho nên theo đúng nghĩa th́ lại ít “linh hoạt” hơn những người thường bị gọi là đă chết. Cái gọi là người chết được tự do hơn nhiều và ít bị câu thúc do hoàn cảnh vật chất, cho nên có thể làm viêc hữu hiệu hơn và bao quát một địa hạt hoạt động rộng lớn hơn.

Người nào không để cho thể vía ḿnh được phép sắp xếp trở lại ắt được tự do trên toàn thể cơi trung giới, y không thấy nó bị ken đặc lại một cách bất tiện bởi v́ cơi trung giới lớn hơn nhiều so với bề mặt của trái đất vật lư trong khi dân số của nó hơi nhỏ hơn một chút, kiếp sống trung b́nh của nhân loại trên cơi trung giới (xem trang 124) ngắn hơn thọ mạng trung b́nh trên cơi hồng trần.

Ngoài người chết ra trên cơi trung giới dĩ nhiên cũng có chừng 1/3 người c̣n sống vốn đă tạm thời rời bỏ xác trong khi ngủ. Mặc dù toàn thể cơi trung giới vốn mở ra cho bất cứ cư dân nào không cho phép sắp xếp lại thể vía của ḿnh, thế nhưng đại đa số vẫn c̣n lẩn quẩn ở gần mặt đất.

Chuyển sang một loại người cao hơn, ta có thể xét thấy một người có một số quan tâm mang bản chất thuần lư nghĩa là âm nhạc, văn chương, khoa học v.v… Nhu cầu dành một phần lớn thời giờ trong mỗi ngày “để mưu sinh” không c̣n tồn tại nữa; con người được tự do làm đúng cái điều mà ḿnh thích miễn là nó có thể thực hiện được mà không cần tới vật chất trên cơi trần. Trên cơi trung giới trong khi sinh hoạt, chẳng những ta nghe được âm nhạc vĩ đại nhất mà c̣n nghe được hơn hẳn so với trước kia, bởi v́ trên cơi trung giới có những ḥa âm khác đầy đủ hơn ḥa âm tương đối nhàm tai mà tai phàm có thể nghe được. Đối với họa sĩ th́ mọi sự dễ thương của cơi trung giới bậc cao được mở ra cho y thưởng thức. Con người có thể di chuyển nhanh chóng và sẵn sàng từ nơi này tới nơi kia để xem các kỳ quan trong Thiên nhiên, rơ ràng là dễ hơn nhiều so với mức có thể làm được trên cơi trần. Nếu y là một sử gia hoặc một nhà khoa học th́ các thư viện và pḥng thí nghiệm trên thế giới ở trong tầm sử dụng của y; sự hiểu biết của y về những quá tŕnh thiên nhiên sẽ đầy đủ hơn hẳn so với trước kia bởi v́ giờ đây y có thể nh́n thấy những công tŕnh ở bên trong cũng như ở bên ngoài được vận hành với nhiều nguyên nhân mà trước kia y chỉ thấy đó là hậu quả. Trong mọi trường hợp như thế sự khoan khoái của y gia tăng rất nhiều bởi v́ nhiều nguyên nhân mà trước kia y chỉ thấy đó là hậu quả. Trong mọi trường hợp như thế sự khoan khoái của y gia tăng rất nhiều, bởi v́ y không thể mệt mỏi được (xem trang 82).

Một nhà nhân ái có thể theo đuổi công tŕnh phúc lợi của ḿnh một cách mănh liêt hơn hẳn so với trước kia và trong những t́nh huống tốt đẹp hơn so với trên cơi trần. Có hàng ngàn người mà y có thể giúp đỡ và chắc chắn sẽ mang lại lợi ích thực sự cho họ.

Đúng là có thể bất cứ ai trên cơi trung giới sau khi chết mới bắt đầu nghiên cứu và học được những ư tưởng hoàn toàn mới mẻ. Vậy th́ lần đầu tiên người ta mới học được Thông Thiên Học trên cơi trung giới. Có trường hợp ghi chép lại một người thậm chí học âm nhạc ở đó, mặc dù điều này vốn bất thường.

Nói chung, cuộc sống trên cơi trung giới linh hoạt hơn trên cơi trần, vật chất cơi trung giới được cấp sinh lực cao hơn hẳn so với vật chất cơi trần và h́nh hài trên đó mềm dẻo hơn nhiều. Các khả năng trên cơi trung giới xét cả về mặt hưởng thụ lẫn tiến bộ đều lớn hơn hẳn về mọi phương diện so với các khả năng trên cơi trần. Nhưng các khả năng thuộc một lớp cao hơn, và nó cần một mức độ trí thông minh nào đó để lợi dụng chúng. Người nào trong khi sống trên trần thế dành trọn tư tưởng và năng lượng của ḿnh chỉ cho các sự việc vật chất thôi th́ chẳng thể thích ứng được bao nhiêu với những t́nh huống cao cấp hơn, v́ cái trí bị teo tóp hết một phần của y ắt không đủ mạnh để lĩnh hội được những khả năng bao quát hơn của sinh hoạt rông lớn hơn.

Một người mà cuộc sống và chú tâm thuộc một loại cao cấp có thể làm được nhiều điều tốt hơn chỉ trong vài năm sống trên cơi trung giới so với mức y có thể làm được trong kiếp sống lâu dài nhất trên cơi trần.

V́ những khoái lạc trên cơi trung giới lớn hơn nhiều so với khoái lạc trên cơi trần cho nên có nguy cơ chúng làm cho người ta bị chệch hướng ra khỏi con đường tiến bộ. Nhưng ngay cả những sự khoan khoái trong sinh hoạt trên cơi trung giới cũng không gây ra nguy hiểm nghiêm trọng cho những người đă ngộ ra được một chút về điều ǵ đó cao siêu hơn. Sau khi chết người ta nên cố gắng lướt qua các cảnh của cơi trung giới càng nhanh càng tốt, tùy theo nhu cầu khả dụng chứ không chiều theo những khoái lạc thanh bai giống như đă từng cự tuyệt các khoái lạc trên cơi trần.

Bất cứ người nào đă phát triển đều hoàn toàn hoạt động đủ mọi mặt trong sinh hoạt trên cơi trung giới sau khi chết cũng giống như trong sinh hoạt trên cơi trần; y dứt khoát có thể trợ giúp hoặc ngăn cản sự tiến bộ của chính ḿnh cùng với sự tiến bộ của người khác cũng nhiều như trước khi đă chết; v́ vậy lúc nào y cũng tạo ra nghiệp báo có tầm quan trọng lớn nhất.

Thật vậy, tâm thức của người sống hoàn toàn nơi cơi trung giới thường xác định hơn nhiều so với lúc y sinh hoạt trên cơi trung giới trong khi ngủ và y cũng có thể suy nghĩ hoặc hành động tương đối tốt hơn về mặt quả quyết sao cho cơ hội tạo ra nghiệp xấu cũng như nghiệp tốt cũng lớn hơn.

Nói chung, ta có thể bảo rằng con người có thể gây ra nghiệp bất cứ ở đâu mà tâm thức đă phát triển hoặc bất cứ nơi đâu mà y có thể chọn lựa hoặc hành động. Những tác động được thực hiện như thế trên cơi trung giới có thể tạo ra nghiệp quả trong kiếp sống kế tiếp trên trần thế.

Trên cảnh thấp nhất của cơi trung giới, con người vốn có những chuyện khác mà ḿnh bận tâm chú ư cho nên ít khi quan tâm đến những ǵ diễn ra trên cơi trần trừ phi y léo hánh tới những nơi nghỉ dưỡng trụy lạc thấp hèn.

Trên cảnh kế tiếp tức cảnh thứ sáu, ta thấy có những người trong khi c̣n sống tập trung những ham muốn và tư tưởng của ḿnh chủ yếu chỉ có vào chuyện trần tục. V́ vậy, họ vẫn c̣n lăng văng bên cạnh những người và nơi chốn mà họ có liên hệ mật thiết nhất trong buổi sinh thời và họ có thể có ư thức về nhiều điều liên quan tới những thứ ấy. Tuy nhiên họ chẳng bao giờ nh́n thấy chính vật chất trên cơi trần mà luôn luôn nh́n thấy âm bản đối phần của chúng.

Vậy là chẳng hạn như một rạp hát chứa đầy người cũng có đối phần của nó mà các thực thể trên cơi trung giới nh́n thấy được. Tuy nhiên các thực thể trên trung giới không thể nh́n thấy (giống như chúng ta nh́n thấy) đạo cụ hoặc nét biểu diễn theo diễn xuất của diễn viên, v́ những xúc động của diễn viên vốn không được có thực mà chỉ là giả vờ cho nên không gây ấn tượng lên cơi trung giới.

Những người thuộc cảnh giới sáu vốn là là trên mặt đất; thấy xung quanh ḿnh có những âm bản đối phần của những vật tồn tại trên cơi trần như núi non, cây cối, hồ nước v.v… trên hai cảnh kế tiếp là cảnh thứ năm và thứ tư, thực thể trung giới vẫn c̣n có thể ư thức được các việc trên cơi trần mặc dù với mức độ nhanh chóng giảm đi.

Trên hai cảnh kế tiếp là thứ ba và thứ nh́, muốn tiếp xúc với cơi trần th́ chỉ có nước cần cố gắng đặc biệt giao tiếp thông qua một người đồng cốt.

Ở cảnh cao nhất tức cảnh thứ nhất, thậm chí việc giao tiếp thông qua đồng cốt cũng rất khó khăn.

Những người sống nơi các cảnh cao của cơi trung giới thường tự trang bị cho ḿnh bất cứ phong cảnh nào mà ḿnh muốn. Vậy là nơi một bộ phận của cơi trung giới thiên hạ bao quanh ḿnh bằng những phong cảnh do chính ḿnh sản sinh ra: những người khác chấp nhận các phong cảnh đă có sẵn do những người khác xây dựng nên. (Việc miêu tả đủ thứ cảnh tức mức độ trên cơi trung giới sẽ được tŕnh bày ở chương 16).

Trong một số trường hợp, người ta xây dựng cho chính ḿnh những cảnh tượng quái gở được mô tả trong đủ thứ kinh điển tôn giáo, họ thực hiện những toan tính vụng về nhằm trồng cấy đá quí lên trên những cây cối, biển làm bằng thủy tinh pha lẫn với lửa, những tạo vật có đầy mắt ở bên trong và những thần linh có 100 đầu và 100 cánh tay.

Nơi cái mà các nhà Thần linh học gọi là Thế giới Trường hạ (Summerland), những người thuộc cùng dân tộc và cùng tôn giáo có khuynh hướng tụ tập lại sau khi chết cũng giống như trong buổi sinh thời sao cho có một mạng lưới thế giới trường hạ trải ra khắp các xứ có người dân đă xây dựng nên chúng, có các cộng đồng được tạo nên khác nhau rất nhiều cũng y như các cộng đồng trên trần thế. Điều này chẳng những do ái lực tự nhiên mà c̣n do sự kiện là trên cơi trung giới vẫn c̣n tồn tại những hàng rào ngôn ngữ.

Thật vậy, nguyên tắc này áp dụng cho cơi trung giới nói chung. Vậy là trong những buổi lên đồng theo Thần linh học ở Tích lan, người ta thấy rằng các thực thể giao tiếp là Phật tử, và bên kia cửa tử th́ họ thấy những định kiến tôn giáo của ḿnh được xác nhận cũng y hệt như các tín đồ của đủ thứ giáo phái Kitô ở Âu châu. Trên cơi trung giới, người ta chẳng những t́m thấy các h́nh tư tưởng của chính ḿnh mà c̣n có h́nh tư tưởng của những người khác; trong một số trường hợp h́nh tư tưởng này là sản phẩm của các thế hệ tư tưởng của hàng ngàn người tất cả đều theo cùng một đường lối.

Các bậc cha mẹ cũng thường cố gắng áp đặt ư muốn của ḿnh lên con cái, nghĩa là đối với một sự liên kết đặc thù mà tâm hồn họ đă ngă theo đó. Một ảnh hưởng như thế chỉ ngấm ngầm thôi mà kẻ phàm phu rất có thể coi áp lực đều đều ấy là ham muốn theo tiềm thức của ḿnh.

Trong nhiều trường hợp, người chết đă biến thành những thiên thần hộ mệnh đối với người c̣n sống, mẹ thường bảo vệ con, chồng thường che chở cho người vợ góa v.v… trong nhiều năm.

Trong những trường hợp khác, một văn sĩ hoặc nhà soạn nhạc đă quá cố có thể gợi ư cho một văn sĩ hoặc một nhà soạn nhạc c̣n sống trên cơi trần sao cho nhiều quyển sách được gán cho người sống th́ thật ra lại là công tŕnh của người chết. Người thật sự tiến hành việc viết lách có thể có ư thức về ảnh hưởng ấy hoặc hoàn toàn có thể vô ư thức về nó. Một tiểu thuyết gia hàng đầu đă phát biểu rằng những chuyện tiểu thuyết của ḿnh lọt vào óc ḿnh chẳng biết từ đâu ra, nghĩa là thật ra y không viết nên chúng mà ai đấy viết qua y. Y công nhận t́nh trạng sự việc ấy chứ có lẽ nhiều người khác cũng rơi vào trường hợp ấy lại hoàn toàn vô ư thức về nó.

Một bác sĩ sau khi chết đi thường vẫn tiếp tục chú ư tới bệnh nhân, cố gắng chữa trị cho họ từ bên kia cửa tử hoặc gợi ư cho người nối nghiệp ḿnh những phương pháp chữa trị mà nhờ vào các năng khiếu của thể vía mới đạt được, y thấy chúng thật là hữu dụng.

Trong khi những người “tốt bụng” b́nh thường nhất chết tự nhiên hầu như không thể có ư thức về bất cứ thứ ǵ trên cơi trần khi y ngủ thiếp đi qua các giai đoạn hạ đẳng trước khi tỉnh thức với tâm thức trên cơi trung giới, thế nhưng một số người mặc dù như vậy cũng có thể bị thu hút trở lại tiếp xúc với cơi trần do quá lo âu về một người nào đó c̣n bị bỏ lại đằng sau.

Nỗi phiền muộn của các thân bằng quyến thuộc cũng có thể thu hút sự chú tâm của người đă chuyển sang cơi trung giới và có khuynh hướng thu hút y xuống đây tiếp xúc trở lại với sinh hoạt trên cơi trần. Khuynh hướng đọa lạc này càng dùng nhiều càng nhuần nhuyễn và người ấy rất có thể vận dụng ư chí để tiếp xúc với cơi trần. Khả năng nh́n thấy những sự việc trên cơi trần của y nhất thời sẽ gia tăng; thế rồi giờ đây nó lại giảm đi để y có lẽ khổ tâm v́ cảm thấy quyền năng của ḿnh vượt thoát khỏi tay ḿnh.

Trong nhiều trường hợp, thiên hạ chẳng những tự chuốc lấy vô số sự đau khổ hoàn toàn không cần thiết mà thường c̣n gây thiệt hại nặng nề cho những người ḿnh thương tiếc với sự phiền năo mănh liệt không kiếm soát nổi.

Trong trọn cả thời kỳ sinh hoạt trên cơi trung giới cho dù dài hay ngắn th́ con người vẫn nằm trong phạm vi ảnh hưởng trần tục. Trong những trường hợp vừa nêu trên, nỗi đam mê phiền muộn và ham muốn của bạn bè trên trần thế ắt gây ra rung động trong thể vía của người đă khuất, thế là đạt tới khêu gợi tâm trí hoặc hạ trí của y. Bị kích động như vậy để thoát khỏi t́nh trạng mơ mộng rồi nhớ lại kiếp sống trên cơi trần một cách sống động, y có thể cố gắng giao tiếp với bạn bè trên cơi trần, có thể là thông qua một đồng cốt. Một sự thức tỉnh như thế thường có kèm theo sự đau khổ quằn quại và dù sao đi nữa th́ tiến tŕnh tự nhiên triệt thoái của chơn ngă vẫn bị trễ năi.

Giáo lư huyền bí tuyệt nhiên không hề khuyên ta quên người chết; nhưng nó gợi ư rằng việc luyến tiếc nhớ thương người chết là một lực – nếu được điều động đúng mức hướng về việc trợ giúp y tiến tu lên cơi thiên đường trong khi trải qua trạng thái trung ấm – có thể có giá trị thật sự đối với y, c̣n sự than khóc chẳng những vô ích mà c̣n gây hại nữa. Thật là một bản năng chân chính khi Ấn độ giáo qui định các nghi lễ Shrāddha, c̣n Giáo hội Công giáo qui định cầu nguyện cho người chết.

Việc cầu nguyện với những nghi lễ kèm theo tạo ra các tinh linh nhân tạo tấn công vào thể vía của thực thể Trung ấm làm cho nó mau chóng bị biến dạng để nhanh chóng tiến bước về cơi thiên đường.

Chẳng hạn như khi người ta dâng lễ Misa với ư định dứt khoát trợ giúp cho người chết th́ người ấy chắc chắn sẽ hưởng lợi ích do thần lực tuôn xuống. Tư tưởng mạnh mẽ về y dứt khoát thu hút chú tâm của y và khi bị thu hút vào nhà thờ th́ y tham gia buổi lễ và thụ hưởng phần lớn kết quả của nó. Cho dẫu y vẫn c̣n vô ư thức th́ ư chí của linh mục và lời cầu nguyện ắt điều khiển luồng thần lực hướng về kẻ hữu quan.

Ngay cả việc tha thiết cầu nguyện nói chung hoặc chúc lành cho người chết nói chung, mặc dù rất có thể mơ hồ và v́ vậy kém hiệu lực hơn một tư tưởng xác định hơn, thế nhưng tập thể những điều ấy tạo ra một tác dụng mà tầm quan trọng của nó thật khó ḷng cường điệu được. Âu châu ít biết được nó đă chịu ơn biết bao đối với các ḍng tu lớn cứ ngày đêm tận tụy cầu nguyện không ngừng cho tín đồ đă quá cố. 

CHƯƠNG 15

SINH HOẠT SAU KHI CHẾT: CÁC TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT

Thực tế không có sự khác nhau nào giữa tâm thức của một người thông linh sau khi chết và tâm thức của một người phàm, ngoại trừ việc kẻ thông linh có lẽ quen thuộc hơn với vật chất trên cơi trung giới ắt cảm thấy thoải mái hơn ở môi trường mới. Người thông linh vốn có một thể xác nhạy cảm hơn thể xác của đa số mọi người về một số phương diện; do đó khi bỏ xác th́ sự bất b́nh đẳng này không c̣n tồn tại nữa.

Việc bắt đắc kỳ tử, chẳng hạn do tai nạn không nhất thiết ảnh hưởng tới sinh hoạt trên cơi trung giới tồi tệ hơn. Đồng thời, đối với hầu hết mọi người th́ chết tự nhiên dễ chịu hơn bởi v́ việc từ từ ṃn mỏi đi của người già hoặc sự tàn phá của bệnh măn tính hầu như tất yếu có kèm theo việc các hạt thuộc thể vía đă bị nới lỏng hoặc phân hủy đáng kể sao cho khi con người phục hồi ư thức trên cơi trung giới th́ dù sao đi nữa y cũng thấy một công tác chính yếu ở đó đă được thực hiện cho ḿnh rồi.

Trong hầu hết mọi trường hợp, khi kiếp sống trên cơi trần bị đột ngột cắt đứt do tai nạn hoặc tự tử th́ mối liên kết giữa Kāma (dục vọng) và prānā (sinh khí) không dễ dàng bị cắt đứt, do đó thể vía được làm linh hoạt mạnh mẽ.

Việc các nguyên khí rút lui ra khỏi lớp vỏ thể xác do bất cứ loại bất đắc kỳ tử nào đă được so sánh rất hay ho với việc móc một cái hạt ra khỏi trái cây c̣n sống. Nhiều loại vật chất trung giới thô trược nhất vẫn c̣n bám quanh phàm ngă, do đó nó bị chôn chân trên cảnh thấp nhất tức cảnh thứ bảy trên cơi trung giới.

Sự khủng khiếp và xáo trộn tâm trí đôi khi kèm theo việc bất đắc kỳ tử cố nhiên chuẩn bị một t́nh huống rất bất lợi cho sinh hoạt trên cơi trung giới. Trong một số trường hợp hiếm có, sự náo động và khủng bố có thể dai dẳng một thời gian sau khi chết.

Các nạn nhân của án tử h́nh ngoài việc bị tổn thương đột ngột khi xác phàm bị giựt ra khỏi thể vía, vẫn c̣n sôi nổi với những xúc động thù ghét, đam mê và ưa trả thù v.v… điều này cấu thành một yếu tố đặc biệt nguy hiểm trên cơi trung giới. Khi c̣n mang xác phàm y là một kẻ sát nhân gây rối bao nhiêu cho xă hội th́ khi bị đột ngột hồn ĺa khỏi xác y rơ ràng lại càng là phần tử nguy hiểm hơn nữa; và trong khi xă hội có thể ngăn ngừa được kẻ sát nhân đang mang xác phàm th́ hiện nay nó vô phương chống đỡ với những kẻ sát nhân bị đột ngột phóng lên cơi trung giới trong lúc c̣n tràn đầy dục vọng.

Những kẻ ấy có thể đóng vai tṛ xúi giục những kẻ sát nhân khác. Ta thừa biết rằng việc sát nhân thuộc một loại đặc thù nào đó đôi khi được lập đi lập lại (chết trùng) trong cùng một cộng đồng.

Vị thế của kẻ tự tử lại c̣n phức tạp hơn nữa do sự kiện là hành vi nông nổi của y đă làm giảm rất nhiều quyền năng của chơn ngă nhằm thu hút bộ phận hạ đẳng của ḿnh về với ḿnh, do đó y chỉ chuốc lấy những nguy cơ khác c̣n lớn hơn nữa. Song le, như ta có nói cần nhớ rằng tội tự tử khác nhau rất nhiều tùy theo hoàn cảnh, từ hành vi không chê vào đâu được của Socrate xuyên suốt mọi cấp độ xuống tới một kẻ khốn khổ tự tử để trốn thoát những hậu quả trên cơi trần do tội ác của chính ḿnh, và dĩ nhiên vị thế của họ sau khi chết cũng thay đổi theo đó.

Quả báo của việc tự tử thường rất nặng nề; nó chắc chắn ảnh hưởng tới kiếp sau và có lẽ ảnh hưởng nhiều hơn một kiếp. Thật là một tội ác chống lại Thiên nhiên khi can thiệp vào thọ mạng đă được qui định cho kẻ c̣n sống trên cơi trần. Đó là v́ mọi người đều có một thọ mạng được qui định sẵn do một mạng lưới phức tạp các nguyên nhân trước đó – nghĩa là túc nghiệp – và tuổi thọ phải trải qua hết thời gian qui định th́ phàm ngă mới tiêu tan được.

Thái độ của tâm trí vào lúc chết xác định tư thế tiếp theo sau của người ấy. Do đó có một sự khác nhau sâu sắc giữa người xả thân v́ những mục địch vị tha và kẻ cố t́nh hủy hoại mạng sống ḿnh do những động cơ thúc đẩy ích kỷ, chẳng hạn như sợ sệt v.v…

Những người thanh khiết và có đầu óc tâm linh vốn là nạn nhân của các tai nạn v.v… ngủ yên một cách an b́nh trong suốt thời kỳ cho đến hạn tuổi thọ tự nhiên. Trong những trường hợp khác, họ vẫn c̣n có ư thức, thường là dính mắc vào bối cảnh cuối cùng của kiếp sống trên trần thế một lúc, họ bị bắt giữ lại ở bất cứ vùng nào mà họ có liên quan qua lớp vỏ ngoài cùng của thể vía. Sinh hoạt b́nh thường trung ấm của họ không bắt đầu chừng nào thọ mạng tự nhiên của họ chưa kết liễu, và họ có ư thức sống động về môi trường xung quanh cả cơi trung giới lẫn cơi hồng trần.

V́ vậy ta không được giả định một phút nào khi cho rằng bởi v́ sinh hoạt trên cơi trung giới có nhiều ưu điểm hơn sinh hoạt trên cơi trần mà một người lại có quyền tự tử hoặc tự sát một cách chính đáng. Con người nhập thể vào các thể xác với một mục đích vốn chỉ có thể đạt được trên cơi hồng trần. Có những bài học mà ta phải học trên cơi hồng trần vốn không thể học được ở bất cứ nơi nào khác và chúng ta càng học chúng sớm chừng nào th́ sẽ càng tự do thoát khỏi nhu cầu trở lại một kiếp sống thấp thỏi hơn và bị hạn chế hơn. Chơn ngă phải mất nhiều công phu mới nhập thể được trong một xác phàm, và nó c̣n phải trải qua thời kỳ ấu thơ buồn chán trong đó, nó dần dần cố gắng hết sức để kiểm soát phần nào được những hiện thể mới của ḿnh; và v́ vậy, những nỗ lực của nó không nên bị phí phạm một cách điên rồ. Về phương diện này, bản năng sinh tồn tự nhiên là bản năng mà ta nên tuân theo v́ bổn phận của con người là phải lợi dụng tối đa kiếp sống trên trần thế, duy tŕ nó càng lâu càng tốt theo hoàn cảnh cho phép.

Nếu một người bất đắc kỳ tử mà đă sống một cuộc đời thấp hèn, tàn bạo, ích kỷ và ham mê ngũ dục th́ y sẽ ư thức hoàn toàn trên cảnh thứ bảy của cơi trung giới và có thể phát triển thành một thực thể ác độc ghê gớm. Tâm can bị nung nấu bởi những khát khao mà y không c̣n thỏa măn được nữa, y cố gắng thỏa măn những đam mê của ḿnh thông qua một người đồng cốt hoặc bất kỳ người thông linh nào mà y có thể nhập xác. Những thực thể như thế lấy làm thích thú thật quái quỉ khi vận dụng hết mọi thuật lừa gạt của cơi trung giới để dắt dẫn người khác đi vào cũng những sự quá trớn mà bản thân họ đang sa đà vào đấy. Trong số lớp người này và những ma h́nh được cấp sinh lực (xem trang 172) ta rút ra được những kẻ cám dỗ, tức là đám ma quỉ trong kho tài liệu của giáo hội.

Sau đây là một bảng tường tŕnh dông dài về những nạn nhân bị bất đắc kỳ tử cho dù là tự tử hay bị tai nạn khi những nạn nhân ấy vốn đồi trụy và thô tục: “Những u hồn bất hạnh nếu đầy tội lỗi và ham mê ngũ dục th́ đều biến thành cô hồn đi lang thang cho đến khi hết thọ mạng tự nhiên. Bị hồn ĺa khỏi xác trong lúc tràn đầy nhựa sống với những đam mê trần tục vốn trói buộc họ vào những khung cảnh quen thuộc, họ bị nhiều cơ hội cám dỗ do đám đồng cốt đưa ra để cho họ thỏa măn theo kiếp sống tầm gửi. Họ là Hấp tinh quỉ (Pishāchās), những con yêu râu xanh cả nam lẫn nữ thời trung cổ, những con quỉ phàm ăn tục uống, dâm dục và hà tiện; những âm ma đầy mưu ma chước quỉ, độc ác và tàn nhẫn, chuyên xúi giục nạn nhân dấn thân vào những tội ác khủng khiếp và hân hoan khi thấy người ta phạm tội”.

Những chiến sĩ trận vong không hoàn toàn nằm trong loại này, bởi v́ cho dù họ chiến đấu theo một chủ nghĩa sai hay đúng th́ họ vẫn cứ nghĩ là đúng; đối với họ đó là tiếng gọi của bổn phận và họ hi sinh mạng sống của ḿnh một cách tự nguyện và bất vị kỷ. V́ vậy, mặc dù có nhiều khủng khiếp song le chiến tranh có thể là một yếu tố mănh liệt giúp vào cơ tiến hóa trong một mức độ nào đó. Đây cũng là một chút xíu sự thật trong cái ư niệm cuồng tín của Hồi giáo khi một kẻ xả thân th́ thánh chiến sẽ đi thẳng tới một kiếp sống rất tốt đẹp ở thế giới bên kia.

Trong trường hợp những đứa trẻ chết yểu th́ không có thể là chúng đă phát triển được nhiều ái lực đối với cảnh thấp nhất của cơi trung giới và quả thật ta ít khi thấy chúng trên những cảnh thấp nhất của cơi trung giới.

Một số người bám víu tuyệt vọng xiết bao vào kiếp sống vật chất cho đến nỗi khi chết đi thể vía của họ không hoàn toàn tách rời được khỏi thể phách, và v́ vậy họ vẫn c̣n thức tỉnh nhưng bị bao quanh bởi vật chất dĩ thái. Những người như thế ở vào t́nh huống rất khó chịu: họ bị khép kín khỏi cơi trung giới do lớp vỏ dĩ thái bao xung quanh ḿnh và cố nhiên đồng thời họ cũng bị đóng sập cửa không giao tiếp được với sinh hoạt b́nh thường trên cơi trần bởi v́ họ không có cơ quan cảm giác của thể xác.

Kết quả là họ cứ bèo dạt mây trôi, cô độc, câm lặng, và hăi hùng không thể giao tiếp với các thực thể ở bất cứ cơi nào. Họ không thể ngộ ra được rằng miễn là ḿnh cứ vượt ra khỏi tầm tay ḿnh th́ chỉ một vài phút giây vô thức sau đó họ sẽ lướt vào sinh hoạt b́nh thường trên cơi trung giới. Nhưng họ cứ bám khư khư lấy thế giới u ám với bán ư thức khốn khổ chẳng thà vậy c̣n hơn là đắm ch́m vào điều mà họ nghĩ rằng là hoàn toàn tận diệt hoặc thậm chí là địa ngục mà người ta đă dạy họ phải tin theo.

Theo thời gian lớp vỏ dĩ thái ṃn mỏi đi và lộ tŕnh thông thường của Thiên nhiên tái khẳng định bất chấp sự dùng dằng của họ; đôi khi v́ quá tuyệt vọng, họ bứt rứt buông thả, thậm chí chẳng thà chấp nhận ư niệm hủy diệt c̣n hơn chịu sống như hiện giờ - kết quả thật là dễ chịu một cách chứa chan đáng ngạc nhiên.

Trong một vài trường hợp, một thực thể trung giới khác có thể giúp cho họ bằng cách thuyết phục họ hăy buông bỏ điều đối với họ là sự sống để thoát ra khỏi t́nh huống ấy.

Trong những trường hợp khác, họ có thể bất hạnh đến nỗi t́m ra được một phương tiện làm sống lại trong một chừng mực nào đó sự tiếp xúc của họ với sinh hoạt trên cơi trần thông qua một người đồng cốt, mặc dù theo thông lệ th́ “vong linh hướng dẫn” người đồng cốt cấm tuyệt điều ấy một cách thật đúng đắn. “Vong linh hướng dẫn” thật chí lư khi hành động như vậy bởi v́ những thực thể như thế, trong cơn khiếp sợ và thiếu thốn, trở nên hoàn toàn vô lương tâm đến nỗi nhập xác làm cho người đồng cốt phát điên, vùng vẫy như một kẻ bị chết đuối vớ phải cọc. Họ chỉ có thể thành công nếu chơn ngă của người đồng cốt không c̣n giữ vững được quyền kiểm soát các hạ thể của ḿnh do đă thả rông cho những tư tưởng hoặc đam mê bất hảo.

Đôi khi một thực thể có thể nhập xác một em bé sơ sinh, đánh đuổi phàm ngă c̣n yếu ớt ra khỏi thân xác đang được dự tính cho nó, hoặc có khi thậm chí c̣n nhập xác một con thú v́ mảnh hồn khóm (đối với một con thú, mảnh hồn khóm này có địa vị giống như chơn ngă đối với con người) kiểm soát xác con thú không được chặt chẻ bằng sự kiểm soát của chơn ngă. Sự nhập xác này có thể hoàn toàn hoặc một phần. Thế là thực thể nhập xác một lần nữa lại tiếp xúc được với cơi hồng trần, thấy được qua con mắt của con thú, cảm nhận được bất kỳ sự đau đớn nào mà con thú gánh chịu – thật vậy, xét về tâm thức riêng th́ y chính là con thú ấy trong nhất thời. Một người vướng mắc vào con thú như thế không thể tùy ư rời bỏ xác con thú mà chỉ dần dần bằng nỗ lực phi thường, có lẽ trải dài ra trong nhiều ngày. Y thường chỉ được phóng thích vào lúc con thú chết và ngay cả lúc bất giờ th́ vẫn c̣n một vướng mắc trong cơi cảm dục cần phải rũ bỏ đi. Sau khi con thú chết, một phần hồn như thế đôi khi lại cố gắng nhập xác một thành viên khác trong đàn thú ấy hoặc quả thật là bất kỳ tạo vật nào khác mà y có thể nhập xác trong cơn tuyệt vọng. Những con thú thường bị nhập xác nhiều nhất dường như là những con kém tiến hóa: trâu ḅ, cừu và heo. Những tạo vật thông minh hơn chẳng hạn như chó, mèo và ngựa dường như không dễ dàng ǵ bị nhập xác mặc dù thỉnh thoảng cũng có trường hợp này xảy ra.

Mọi sự nhập xác cho dù xác người hay xác thú đều là một điều ác gây chướng ngại cho phần hồn đi nhập xác v́ chúng tạm thời củng cố uy quyền của y bám víu lấy vật chất, v́ vậy làm tŕ hoăn sự tiến bộ tự nhiên của y nhập vào sinh hoạt trên cơi trung giới chưa kể việc gây ra những mối liên hệ nhân quả bất hảo.

Trong trường hợp một người do sự khao khát đầy thói xấu hoặc khác đi nữa, tạo thành một mối liên kết rất mạnh với bất cứ loại thú nào, th́ thể vía của y cũng phô bày những đặc tính của loài thú và có thể xác theo dáng vẻ bên ngoài giống như con thú mà những phẩm chất của nó đă được khuyến khích trong buổi sinh thời. Trong những trường hợp cực đoan, con người có thể liên kết với thể vía của con thú, thế là lại bị giam cầm xiềng xích vào thể xác của con thú. Người ấy có ư thức trên cơi trung giới, có những năng khiếu của con người nhưng không thể kiểm soát được cơ thể của con thú, cũng chẳng biểu hiện được thông qua cơ thể ấy trên cơi hồng trần. Cơ thể của con thú đóng vai tṛ một cai tù hơn là một hiện thể; hơn nữa, hồn của con thú không bị trục xuất mà vẫn c̣n là người thuê mướn đích đáng của cơ thể ấy.

Những trường hợp thuộc loại này giải thích ít ra cũng được phần nào về niềm tin mà người ta thường thấy nơi các xứ Đông phương, nghĩa là trong một số điều kiện nào đó người ta có thể tái sinh vào xác một con thú.

Một số phận tương tự cũng có thể xảy ra đối với một người khi y trở lại cơi trung giới trên đường tái sinh mà ta sẽ miêu tả ở chương 24 bàn về Sự Tái Sinh.

Lớp người dứt khoát bị gh́ lại trần thế do lo âu thường được gọi là vướng ṿng tục lụy: theo như thánh Martin tŕnh bày th́ những người như thế là “những kẻ ở lại” chứ không phải “kẻ trở lại”, bởi v́ họ hoàn toàn không thể tách ḿnh ra khỏi vật chất trên cơi trần chừng nào chưa giải quyết được một vụ việc nào đó mà họ đặc biệt lưu tâm.

Chúng ta đă thấy rằng sau khi thể xác chết th́ Chơn nhơn đều triệt thoái ra khỏi các lớp vỏ bọc bên ngoài; đặc biệt là manas tức tâm trí, cố gắng dứt bỏ khỏi Kāma tức dục vọng. Trong một vài trường hợp hiếm có, phàm ngă tức phàm nhơn có thể bị Kāma kiểm soát mạnh mẽ đến nỗi hạ trí hoàn toàn bị nô lệ và không thể tháo gỡ ḿnh ra được. Mối liên kết giữa hạ trí và thượng trí tức “ngân quang tuyến gắn liền nó với Sư phụ” bị cắt đứt ra làm đôi. Huyền bí học gọi điều này là “mất linh hồn”. Đó chính là việc mất tiêu phàm ngă vốn đă tách rời khỏi cha mẹ ḿnh là Chơn ngă, thế là chịu số kiếp bị diệt vong.

Trong trường hợp như thế, ngay cả khi c̣n sinh hoạt trên cơi trần, Tứ nguyên hạ đă bị giằng ra khỏi Tam nguyên thượng, nghĩa là các nguyên khí thấp mà hạ trí là đầu sỏ bị cắt ĺa khỏi các nguyên khí cao tức Atma, Buddhi và Thượng trí. Con người bị xé toạc ra làm đôi, con thú đă được sổng chuồng thoát ṿng kỷ cương mang theo ḿnh những tia phản chiếu ánh sáng manas vốn sẽ dẫn đạo nó trong suốt cuộc đời. Một tạo vật như thế do có được hạ trí nên thậm chí nguy hiểm hơn một con thú chưa tiến ḥa; mặc dù mang xác người nó có bản chất là con thú, không có ư thức về sự thật, t́nh thương hoặc sự công bằng.

Sau khi xác phàm chết, thể vía như vậy biến thành một thực thể có sức mạnh khủng khiếp và như vậy độc nhất vô nhị; trong một vài t́nh huống hiếm có, nó có thể tái sinh vào thế giới loài người. V́ không có bản năng nào khác ngoại trừ bản năng của con thú, chỉ bị thôi thúc bởi ḷng đam mê chứ thậm chí chưa bao giờ bị thôi thúc bởi xúc động, có một sự quỉ quyệt mà không con thú nào b́ kịp, một sự độc ác thật là đầy cố ư, nó gần đạt tới mức lư tưởng về mặt hèn hạ và là kẻ thù tự nhiên của mọi con người b́nh thường. Một người thuộc lớp này (mà ta gọi là một Âm ma Elemantery) cứ đắm ch́m xuống thấp hơn nữa qua mỗi kiếp tái sinh liên tục cho đến khi tà lực dần dần ṃn mỏi th́ nó mới chịu diệt vong, bị cắt rời khỏi nguồn sống. Nó tan ra và thế là rồi đời một kiếp sống riêng rẽ.

Theo quan điểm của Chơn ngă th́ không có một vụ gặt hái kinh nghiệm hữu ích nào từ phàm ngă ấy: tia “nhập thể” đă chẳng mang lại được ǵ, cuộc sống nơi hạ giới hoàn toàn thất bại.

Nhiều tác giả khác nhau đă sử dụng từ ngữ Âm ma theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng chúng tôi khuyến cáo nên hạn chế nó để chỉ thực thể vừa được miêu tả như trên.

---------------------------

 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS