|
|
HOME T̀M HIỂU NHẬP MÔN sách TIỂU SỬ BẢN TIN H̀NH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 NỮ THẦN ISIS
|
|
Các Tập sách nhỏ Adyar
Do Nhà xuất bản Thông Thiên Học ấn hành
Tập san Số 124 – Những phẩm chất cần có để được nhận làm Đệ tử
Mohini M. Chatterjee
(Xuất bản năm 1921)
|
|
Những phẩm chất cần có để được nhận làm Đệ tử
Mohini M. Chatterjee
Quyền năng của các Chân sư đối với những lực của Thiên nhiên, tuy
không được người đời nói chung thừa nhận, đă được tŕnh bày khá
nhiều vào những dịp khác nhau; nhưng không một sự tŕnh bày nào về
các Ngài có thể được xem là đầy đủ nếu không làm nổi bật ḷng tốt và
sự quan tâm sâu sắc của các Ngài đối với phúc lợi của nhân loại; một
người b́nh thường cũng không thể hiểu được điều đó, chẳng khác nào
một người Polynesia man dă không thể đo lường những tầm cao trí tuệ
của Newton hay Galileo.
Người ta thường ngạc nhiên khi thấy ḷng từ thiện của các Đại Huấn
Sư không khiến các Ngài từ bỏ cuộc sống ẩn dật để làm việc cho con
người, sống giữa con người. Nhưng lư do của cách hành xử có vẻ kỳ lạ
ấy nơi những bậc người giống như Thần linh này không khó t́m hiểu.
Năng lực sản xuất của những năng lượng nơi chúng ta thay đổi tùy
theo cảnh giới mà chúng hoạt động. Một người thợ xây lao động từ lúc
mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn tạo ra một khối lượng công việc mà
nếu tính theo tiền bạc th́ chỉ bằng một phần nhỏ giá trị bằng tiền
của một giờ làm việc của một nhà khoa học. Như vậy, sự khác biệt về
những hiệu quả do cùng một lượng năng lượng tạo ra trên các cảnh
giới thể chất và trí tuệ là điều hiển nhiên. Những ai am hiểu các
định luật của động lực học tinh thần đều biết rằng công việc được
tạo ra bởi một lượng năng lượng nhất định trên cảnh giới trí tuệ,
đến lượt nó, lại nhỏ bé vô cùng so với công việc được tạo ra bởi
cũng lượng năng lượng ấy khi tác động trên cảnh giới Tinh thần —
nguyên lư cao nhất nơi con người, theo giáo lư huyền bí. V́ vậy, đ̣i
hỏi một Chân sư làm việc với chúng ta trên cảnh giới thông thường
c̣n phi lư hơn là đề nghị Sir William Thompson chuyển sang làm nghề
đóng giày.
Giá trị của một phát minh khoa học xét như một thành tựu trí tuệ có
thể được đánh giá đúng nhất bằng cách nghiên cứu thích đáng những
bước khác nhau đă dẫn đến phát minh ấy. Tương tự như vậy, sự hoàn
thiện mà một Chân sư đă đạt được chỉ có thể được đánh giá, dĩ nhiên
là một cách hết sức thô sơ và không đầy đủ, bằng cách cẩn thận xem
xét quá tŕnh huấn luyện sơ khởi của Ngài.
Theo những luận thuyết có thẩm quyền nhất về khoa học huyền bí, mà
Chân sư là bậc thông thạo, và đă được kinh nghiệm của những môn sinh
c̣n sống của khoa học ấy xác chứng, không một ai được thu nhận vào
nội điện để thọ giáo cho đến khi đạt đến một tŕnh độ phát triển
tinh thần được đặc trưng bởi việc đạt được điều mà trong các kinh
sách Bà-la-môn gọi là bốn “sādhana”, hay bốn thành tựu.
Thành tựu thứ nhất mà người sơ cơ phải có là sự hiểu biết đúng đắn
về cái thực và cái không thực. V́ mục đích cần đạt được nhờ “Đại
Khoa học”, như người ta gọi, là sự chứng ngộ cái chân thực, và quả
vị Chân sư chỉ là dấu hiệu của một giai đoạn nhất định trong sự
chứng ngộ ấy, nên rơ ràng bước đầu tiên cần thực hiện là đạt được
một nhận thức bằng trí tuệ về chân lư là ǵ. Nhưng chân lư là ǵ?
Người sơ cơ không thể đặt câu hỏi ấy như vị Tổng đốc thích đùa cợt
kia rồi từ chối chờ đợi câu trả lời. Nếu Pilate đă đặt câu hỏi ấy
bằng tiếng Phạn, có lẽ ông đă nhận được câu trả lời ngay từ chính
miệng ḿnh. Bởi v́ chính từ ngữ tiếng Phạn đă gợi cho ta một manh
mối về bản chất của chân lư. Trong ngôn ngữ ấy, chân lư và thực tại
mang cùng một tên gọi, và thực tại được định nghĩa là cái không bị
thời gian tác động, hay theo cách diễn đạt cổ kính của nguyên bản,
là cái vẫn chứng kiến ba phân chia của thời gian — quá khứ, hiện tại
và tương lai. Do đó, thành tựu thứ nhất bao gồm một niềm xác tín sâu
sắc bằng trí tuệ rằng tất cả và mọi thứ dường như có một sự tồn tại
riêng biệt với Parabrahm đều chỉ là ảo tưởng (Māyā). V́ vậy, rơ ràng
rằng ở giai đoạn hiện tại của phong trào Thông Thiên Học, bổn phận
đặt lên Hội và tất cả các hội viên là truyền bá sự hiểu biết về Giáo
lư Bí truyền, triết học chân chính về cái thực và cái không thực,
bởi chỉ giáo lư ấy mới có khả năng đặt nền móng cho bất cứ sự tiến
bộ nào.
Thành tựu thứ hai đánh dấu bước kế tiếp trên Đường đạo, và là hiệu
quả thường trực được tạo ra nơi tâm trí bởi sự hiểu biết lư thuyết
làm thành thành tựu trước đó. Khi người sơ cơ một lần đă lĩnh hội
được tính chất không thực của những đối tượng xung quanh ḿnh, người
ấy không c̣n khao khát chúng nữa, và nhờ đó được chuẩn bị để đạt
thành tựu thứ hai, tức là sự hoàn toàn thờ ơ đối với việc hưởng thụ
những quả của hành động của ḿnh, cả ở đây lẫn về sau.
Những người học ngoại môn mắc phải một sai lầm nghiêm trọng v́ không
nắm bắt được tinh thần chân chính của lời huấn thị chống lại việc
hành động dưới sự thúc đẩy của dục vọng. Họ lầm tưởng rằng sự chuẩn
bị tốt nhất cho đời sống tinh thần là cưỡng ép ḱm hăm mọi biểu hiện
bên ngoài của dục vọng, hoàn toàn không nhận thấy rằng ngay cả sự
kiêng cữ nghiêm khắc nhất đối với những hành vi thể xác cũng không
tạo ra sự bất hoạt trên những cảnh giới cao hơn của đời sống tinh
thần hay trí tuệ. Shankarāchārya, trong những bộ chú giải của Ngài
về Bhagavad-Gītā, một trong những kinh điển thiêng liêng có thẩm
quyền nhất của Bà-la-môn giáo, nói rằng một kết luận như thế chỉ đơn
thuần là sự mê lầm. Ở đây, người ta có thể vội vàng giả định rằng
những điều này sẽ có tác dụng dung túng cho việc cứ tiếp tục làm
điều ác; nhưng khi ước muốn cải thiện luôn thường trực trong tâm
trí, và bản chất của điều ác đă được nhận thức đầy đủ, mỗi lần thất
bại trong việc làm cho bản chất bên trong ḥa hợp với bản chất bên
ngoài sẽ, do sự phản ứng của cảm xúc được tạo ra như vậy, củng cố
quyết tâm đến mức dục vọng xấu sẽ nhanh chóng bị nghiền nát. Đó là
lư do tại sao Eliphas Levi mạnh mẽ lên án chế độ độc thân cưỡng bách
nơi các linh mục Công giáo La Mă. Nhân cách của một người tại bất kỳ
thời điểm nào cũng là kết quả của tất cả những hành vi, tư tưởng và
cảm xúc trước đây của người ấy; năng lượng của chúng không ngừng
khiến tâm trí có khuynh hướng hành động theo một cách nhất định. V́
vậy, mọi nỗ lực chữa trị khuynh hướng tinh thần này bằng cách ḱm
hăm sự biểu lộ của nó trên cảnh giới bên ngoài đều có hại, chẳng
khác nào dồn thứ máu không lành trở lại ḍng tuần hoàn khi nó đang
t́m một lối thoát tự nhiên. Dục vọng bên trong luôn rèn thêm những
mắt xích mới vào xiềng xích của sự tồn tại vật chất, ngay cả khi nó
bị ngăn cản không cho biểu lộ ra bên ngoài.
Cách duy nhất để tự giải thoát ḿnh khỏi những ràng buộc của Nghiệp,
vốn tạo ra sự sinh và tử, là để cho năng lượng đă tích tụ tự tiêu
hao, chỉ như một phần của năng lượng vũ trụ lớn lao, chứ không nhuốm
màu cá nhân bằng cách quy nó về cái ta. Chính Bhagavad-Gîtâ cũng nói
về vấn đề này bằng những lời lẽ hết sức rơ ràng. Bậc Đại Đạo Sư
Krshna quở trách Arjuna v́ đă tỏ ư không muốn thực hiện những bổn
phận thuộc về địa vị của ḿnh trong đời sống. Lư do hoàn toàn rơ
ràng: xét trong tương quan với thực tại vĩ đại, mọi sự của thế giới
này đều là không thực; bởi vậy, từ bỏ những bổn phận mà sự sinh ra
của chúng ta đă đặt lên chúng ta để đổi lấy một điều cũng không
thực, chỉ càng làm nổi bật thêm sự vô minh khiến cái không thực hiện
ra như cái thực. Con đường khôn ngoan nhất mà Krshna đề nghị là
Arjuna nên thực hiện mọi bổn phận của ḿnh một cách vô tư, không ích
kỷ. Vị Đạo Sư nói: “Ngươi chỉ có quyền đối với hành động”; quyền ấy
chấm dứt cùng với việc thực hiện hành động và không bao giờ kéo dài
đến những kết quả. Chúng ta phải thực hiện bổn phận của ḿnh v́
chính bổn phận, và không bao giờ để tâm trí lưu trú nơi quả của hành
động, dù với vui sướng hay đau khổ. [Trang 6]
Được thanh lọc khỏi vết nhơ của tính ích kỷ, hành động đi qua như
nước trên lá sen mà không làm ướt lá. Nhưng nếu hành động được thực
hiện như một phương tiện để đạt đến một mục đích cá nhân, tâm trí sẽ
h́nh thành khuynh hướng lặp lại hành động ấy, và do đó đ̣i hỏi những
lần đầu thai tiếp theo để tiêu hao khuynh hướng đó.
Từ những điều đă xét ở trên, hoàn toàn rơ ràng rằng Huyền học đ̣i
hỏi nơi những người theo học nó một ḷng ham muốn nhiệt thành và
không bao giờ ngủ quên đối với việc thực hiện bổn phận; phạm vi của
bổn phận ấy được mở rộng nhờ thành tựu đầu tiên, vốn đ̣i hỏi phải
nhận thức đầy đủ sự hợp nhất của cá nhân với toàn thể. Chỉ có một
cảm nhận mang tính t́nh cảm về chân lư vĩ đại này th́ chưa đủ, mà nó
phải được hiện thực hóa trong từng hành động của đời sống. V́ vậy,
trước hết, người học phải làm tất cả những ǵ trong khả năng của
ḿnh để đem lại lợi ích cho mọi người trên cơi vật chất thông
thường, tuy nhiên, khi sự phát triển tiến triển, hoạt động của người
ấy phải được chuyển sang những cơi trí tuệ và tinh thần cao hơn.
Điều này đưa chúng ta đến việc xem xét thành tựu thứ ba, đó là đạt
được “Sáu Đức tính”, trong tiếng Sanskrit là “Sama”. Điều này bao
gồm việc đạt được quyền làm chủ hoàn toàn đối với tâm trí (nơi cư
ngụ của cảm xúc và dục vọng), và buộc tâm trí hoạt động dưới sự chi
phối của trí tuệ, vốn đă được thanh lọc và củng cố trong quá tŕnh
đạt được hai cấp độ phát triển đă nói ở trên. Khi điều này được thực
hiện, tâm trí được hoàn toàn tẩy sạch khỏi mọi dục vọng xấu xa và
ngu xuẩn. [Trang 7]
Thoạt nh́n, lời chỉ dạy phải rèn luyện tâm trí trước khi thanh lọc
hành động của chúng ta có thể có vẻ kỳ lạ, nhưng nếu suy xét th́
tính hữu ích thực tiễn của phương pháp được đề ra sẽ trở nên rơ
ràng. Chúng ta đă thấy một lượng năng lượng cố định có thể tạo ra
những hiệu quả khác nhau tùy theo cơi mà nó được sử dụng, và chắc
chắn cơi của tâm trí cao hơn cơi của giác quan. Kế đến, sự kiêng cữ
bắt buộc đối với điều xấu về phương diện thể chất chỉ tiến được một
đoạn rất ngắn trong việc làm phát triển thứ năng lượng duy nhất có
thể ban cho chúng ta năng lực tiến đến chân lư. Những tư tưởng của
chúng ta, trong những hoàn cảnh thông thường bị chi phối bởi luật
liên tưởng, khiến chúng ta hồi tưởng những biến cố trong đời sống
quá khứ, và do đó gây ra sự xáo trộn tâm trí cũng như tiêu hao năng
lượng tinh thần nhiều chẳng khác ǵ việc chúng ta lặp lại những hành
động ấy nhiều lần. “Sama”, như vậy, thực sự là sự phá vỡ luật liên
tưởng của các ư tưởng, thứ luật đă nô dịch trí tưởng tượng của chúng
ta; khi trí tưởng tượng được thanh lọc, khó khăn chủ yếu đă được
loại bỏ.
Đức tính kế tiếp, tức sự làm chủ hoàn toàn các hành động của thân
thể (“Dama” trong tiếng Sanskrit), theo sau như một hệ quả tất yếu
từ điều vừa được bàn đến, và không cần phải giải thích nhiều.
Đức tính thứ ba, được các vị Bà-la-môn gọi là “Uparati”, là sự từ bỏ
mọi tôn giáo h́nh thức và năng lực quán xét các đối tượng mà không
hề bị xao động dù chỉ chút ít trong khi thực hiện đại [Trang 8]
nhiệm vụ mà ḿnh đă đặt ra trước bản thân. Điều được mong đợi nơi
người khao khát tri thức tinh thần ở đây là người ấy không để cho
những cảm t́nh và khả năng phụng sự của ḿnh bị thu hẹp bởi sự thống
trị của bất kỳ hệ thống giáo hội đặc thù nào, và sự từ bỏ những đối
tượng thế gian của người ấy không chỉ xuất phát từ sự bất lực trong
việc nhận ra giá trị của chúng. Khi đạt đến trạng thái này, mối nguy
hiểm do cám dỗ được loại bỏ. Nhà thơ Ấn Độ giáo nói rằng chỉ những
ai giữ được sự quân b́nh của tâm trí trước cám dỗ mới là những người
có được nghị lực chân chính.
Đứng thứ tư là sự chấm dứt dục vọng và sự luôn luôn sẵn sàng từ bỏ
mọi thứ trong thế gian (“Titîksha”). Minh họa điển h́nh về điều này
được đưa ra trong nền văn học huyền môn của chúng ta là sự không oán
hận trước điều sai trái. Khi đức tính này được hoàn toàn thành tựu,
trong tâm trí phát sinh một niềm vui tươi thường hằng, cuốn sạch mọi
dấu vết của sự lo lắng hay ưu phiền.
Kế đó đạt được đức tính gọi là “Samădhăna”, khiến người học về bản
chất không c̣n khả năng lệch khỏi con đường chính đáng. Theo một
nghĩa, đức tính này là phần bổ sung cho đức tính thứ ba đă nêu trên.
Trước hết, mọi động cơ ích kỷ, vốn cám dỗ con người rời khỏi con
đường ḿnh đă chọn, mất hết quyền lực đối với người ấy; và cuối
cùng, người ấy hoàn thiện bản thân đến mức, khi bổn phận kêu gọi, có
thể không do dự dấn thân vào bất kỳ công việc thế gian nào, với sự
chắc chắn rằng sau khi hoàn tất công việc do chính ḿnh tự nguyện
đảm nhận, người ấy sẽ trở lại đời sống thường nhật của ḿnh. [Trang
9]
Một phẩm chất khác cũng cần thiết để hoàn tất công việc của người sơ
cơ, đó là một ḷng tin tuyệt đối vào năng lực của vị Đạo sư trong
việc giáo huấn, và vào năng lực học hỏi của chính ḿnh (Śraddhā).
Tầm quan trọng của phẩm chất này dễ bị hiểu lầm. Một ḷng tin không
lay chuyển nơi vị Đạo sư không phải được đ̣i hỏi như một phương tiện
để xây dựng một hệ thống giáo quyền, mà v́ một lư do hoàn toàn khác.
Có lẽ người ta sẽ dễ dàng thừa nhận rằng khả năng tiếp nhận chân lư
không giống nhau trong mọi tâm trí. Trong tâm trí con người có một
“điểm băo ḥa” đối với chân lư, cũng như có một điểm băo ḥa của hơi
nước trong khí quyển. Khi điểm ấy được đạt tới trong một tâm trí nào
đó, chân lư mới mẻ đối với nó sẽ trở nên không thể phân biệt với
điều giả dối. Chân lư phải dần dần lớn lên trong tâm trí chúng ta,
và trong Bhagavad-Gītā có một lời nghiêm cấm rơ ràng chống lại việc
“làm xáo trộn đức tin của quần chúng” bằng một sự tiết lộ quá đột
ngột về tri thức huyền bí.
Đồng thời, phải nhớ rằng không ai có thể được mong đợi sẽ t́m kiếm
một điều mà thực tại của nó là khó tin; cơi mộng của một người
nghiện thuốc phiện sẽ không bao giờ trở thành đối tượng để bất kỳ
người nào khác khảo sát. Chân lư được các Chân sư nhận biết bằng
những năng lực cao hơn không thể được chứng minh cho một người chưa
phát triển những năng lực ấy, bằng cách nào khác ngoài việc chỉ ra
sự nhất quán của nó với những chân lư đă được biết, và bằng lời xác
nhận của những người tuyên bố rằng ḿnh biết. Sự bảo chứng của một
thẩm quyền có năng lực là một bảo đảm đầy đủ rằng cuộc khảo sát sẽ
không vô ích.
Nhưng chấp nhận bất kỳ thẩm quyền nào là thẩm quyền tối hậu, và loại
bỏ sự cần thiết của việc tự ḿnh khảo sát độc lập, th́ lại phá hủy
mọi sự tiến bộ. Thật ra, không điều ǵ nên được tiếp nhận chỉ bằng
đức tin mù quáng, không tra xét. Quả vậy, các bậc hiền triết Đông
phương c̣n đi xa đến mức nói rằng chỉ dựa vào thẩm quyền của Kinh
điển là một điều tội lỗi.
Sự sáng suốt của con đường thực sự được theo đuổi hầu như tự nó đă
hiển nhiên. Lư trí là sự nhận biết trực tiếp rằng chỉ cái vĩnh hằng
mới là chân thực, c̣n suy luận là nỗ lực lần theo sự tồn tại của một
sự vật xuyên suốt toàn bộ thang thời gian: thời kỳ mà quá tŕnh này
trải dài càng lâu th́ sự suy luận càng được xem là hoàn chỉnh và
thỏa đáng. Nhưng ngay khi bất kỳ sự kiện nào của tri thức được nhận
thức trên b́nh diện vĩnh hằng, lư trí liền biến đổi thành tâm thức —
như nhà Huyền học Cơ Đốc giáo nói, người con ḥa nhập vào người cha.
Vậy th́, người ta có thể hỏi, tại sao ḷng tin vào lời giáo huấn của
vị Đạo sư lại phải là một phẩm chất cần thiết? Câu trả lời nằm ngay
trên bề mặt. Không ai chịu khó t́m hiểu điều mà ḿnh không tin là
chân thật; và ḷng tin như thế hoàn toàn không đ̣i hỏi phải từ bỏ lư
trí.
Phần thứ hai của phẩm chất này — ḷng tin vào năng lực học hỏi của
chính ḿnh — là nền tảng không thể thiếu của mọi nỗ lực tiến bộ. Nhà
thơ đă thốt lên một chân lư sâu sắc hơn điều ông nhận biết, khi ông
hát:
Vâng, tự hạ ḿnh chính là con đường dẫn đến xiềng xích của kẻ đê
tiện và quyền lực của bạo chúa.
Ngay khi một người hoàn toàn tin rằng ḿnh không có khả năng thực
hiện được lư tưởng cao nhất mà ḿnh có thể h́nh dung, th́ người ấy
trở thành đúng như vậy: niềm tin vào sự yếu đuối, vốn dường như nâng
đỡ người ấy, thực ra lại cướp mất sức mạnh của người ấy: không ai
khao khát điều mà họ xem là hoàn toàn vượt quá tầm với của ḿnh.
Huyền bí học dạy chúng ta rằng sự hoàn thiện vô hạn là di sản của
con người. Con người không được xúc phạm bản ngă thiêng liêng sâu
kín nhất của ḿnh bằng sự tự hạ thấp, tức Augoeides của người Hy Lạp
và Ātmā của người Bà-la-môn; bởi làm như vậy sẽ là tội lỗi không thể
tha thứ, tội lỗi chống lại Chúa Thánh Thần. Các nhà thần học Cơ Đốc
giáo đă cố gắng một cách vô ích để xác định tội lỗi đặc biệt này, là
tội lỗi chết người nhất trong tất cả; ư nghĩa chân thực của nó nằm
vượt xa chân trời chật hẹp của nền thần học của họ.
Thành tựu cuối cùng được đ̣i hỏi là một khát vọng mănh liệt muốn
được giải thoát khỏi sự tồn tại bị điều kiện hóa và được chuyển hóa
vào trong Nhất Nguyên Sự Sống (Mumukshatva). Thoạt nh́n, người ta có
thể nghĩ rằng phẩm chất này chỉ là một điều thừa, v́ về thực chất nó
đă bao hàm trong phẩm chất thứ hai. Nhưng giả định như vậy cũng sai
lầm chẳng khác nào quan niệm Niết-bàn là sự hủy diệt của mọi sự
sống.
Thành tựu thứ hai là sự vắng mặt của ham muốn sự sống như một phương
tiện để hưởng thụ ích kỷ; trong khi thành tựu thứ tư là một khát
vọng tích cực và mănh liệt đối với một loại sự sống mà không ai,
ngoại trừ những người đă đạt được ba thành tựu đầu tiên, có thể h́nh
thành một quan niệm đầy đủ về nó.
Tất cả những ǵ cần nói là người sơ cơ được
kỳ vọng phải biết bản chất chân thực của Chơn ngă ḿnh, và có một
quyết tâm kiên định giữ ǵn tri thức ấy một cách vĩnh viễn, và do đó
loại bỏ thân xác được tạo nên bởi việc để cho ư niệm về “Tôi” bám
chặt vào một đối tượng hư ảo.
Bây giờ chúng ta sẽ chuyển sang xem xét mức
độ tối thiểu của những thành tựu này cần thiết cho một sự nghiên cứu
Huyền bí học thành công.
Nếu khát vọng giải thoát, vốn tạo thành
thành tựu cuối cùng, chỉ mạnh vừa phải, nhưng thành tựu thứ hai — sự
không quan tâm đến quả của hành động — đă được phát triển đầy đủ, và
sáu phẩm chất đă được biểu hiện rơ rệt, th́ sự thành công đạt được
nhờ sự trợ giúp của vị Đạo sư, Đấng uốn nắn những kiếp tái sinh
tương lai của người đệ tử và làm cho con đường tiến đến quả vị Chân
sư của người ấy trở nên bằng phẳng.
Nhưng nếu tất cả các thành tựu đều được biểu
hiện rơ rệt ở mức độ ngang nhau, th́ người đệ tử sẽ đạt đến quả vị
Chân sư ngay trong cùng kiếp sống ấy. Tuy nhiên, nếu không có thành
tựu thứ hai và thứ tư, th́ sáu phẩm chất kia chỉ “tưới nước cho sa
mạc”.
Trong những ấn phẩm Thông Thiên Học gần đây,
có nói đến hai hạng đệ tử của các Đại Chơn sư— đệ tử được chấp nhận
và đệ tử dự bị (chela). Hạng thứ nhất gồm những người đă đạt được
bốn thành tựu đến một mức độ nhất định và đang được huấn luyện thực
tiễn để đạt quả vị Chơn sư trong kiếp sống này; c̣n hạng kia gồm
những người đang tự rèn luyện ḿnh, dưới sự hướng dẫn của các Chơn
sư, để được chấp nhận.
Ở đây có thể nói đôi lời về những người
nghiên cứu Huyền bí học mà không có ư định khao khát trở thành chela
chính thức. Rơ ràng rằng bằng sự nghiên cứu lư thuyết về Giáo lư Bí
truyền, thành tựu thứ nhất trong bốn thành tựu có thể đạt được; ảnh
hưởng của điều này trong việc điều chỉnh kiếp tái sinh kế tiếp của
một người không thể nào đánh giá quá cao.
Năng lực tâm linh được tạo ra theo cách đó
sẽ khiến người ấy được sinh ra trong những hoàn cảnh thuận lợi cho
việc đạt được các phẩm chất khác và cho sự tiến bộ tâm linh nói
chung.
Một trong những vị đạo sư Huyền bí học vĩ
đại nhất của Ấn Độ nói về điểm này rằng: sự nghiên cứu lư thuyết về
triết học, dù không đi kèm với những thành tựu cần thiết, vẫn tạo ra
công đức lớn hơn tám mươi lần so với việc thực hiện tất cả những bổn
phận được các nghi thức tôn giáo chính thức quy định.
HOME T̀M HIỂU NHẬP MÔN sách TIỂU SỬ BẢN TIN H̀NH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 NỮ THẦN ISIS