Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lư

 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS

Trích Giáo Lư Bí Truyền

Quyển 5

H.P.B.

TIẾT 10 - NHIỀU LOẠI HỆ THỐNG HUYỀN BÍ HỌC GIẢI VỀ CÁC MẪU TỰ VÀ SỐ MỤC

 

TIẾT 10 - NHIỀU LOẠI HỆ THỐNG HUYỀN BÍ HỌC GIẢI VỀ CÁC MẪU TỰ VÀ SỐ MỤC

 

Các con số chính của Hệ thống Pythagoras - Biểu tượng kư về các Con số và những sự tương quan Toán học của chúng là một Ngành Pháp thuật - Các mẫu tự của Devanāgari (Linh ngữ) của Hermes, của tiếng Chaldea và Hebrew có Ư nghĩa Huyền bí - Hệ thống Số Nội môn của Ấn Độ giải được vấn đề Vũ trụ Khởi nguyên luận - Những sự Hoán tự và những Đồ h́nh trong kinh Kabalah - Ư nghĩa của Tam giác -  Biểu tượng học về Hoa sen và Hoa súng - Các Điểm đạo đồ dùng một Ngôn ngữ Đại đồng thế giới - Linh ngữ và các chữ Hebrew có nhiều ư nghĩa Bí mật.

 

TIẾT 10

 

NHIỀU LOẠI HỆ THỐNG HUYỀN BÍ HỌC THUYẾT GIẢI

VỀ CÁC MẪU TỰ VÀ SỐ MỤC

 

Ta không được đề cập tới các phương pháp siêu việt của kinh Kabalah, nhưng ta có thể mô tả nhiều loại hệ thống của nó dùng những phương pháp số học và h́nh học để giải một vài biểu tượng. Các phương pháp tính toán của kinh Zohar với ba tiết Gematria, Notaricon và Temura, cũng như là Albath và Algath, thật khó thực hành vô cùng. Chúng tôi khuyên các bạn nào muốn biết nhiều hơn nữa nên tham khảo các tác phẩm của Cornelius Agrippa. [[1]] Nhưng trừ phi một môn đồ Do Thái Bí giáo trở thành một vị Chơn sư, th́ không tài nào hiểu được bất kỳ một hệ thống nào. Biểu tượng kư của Pythagoras c̣n đ̣i hỏi ta phải khổ công nhiều hơn nữa. Ông có rất nhiều biểu tượng và muốn hiểu ngay được cả chỉ đại ư những giáo lư bí hiểm của ông theo biểu tượng học, th́ cũng phải mất hàng năm nghiên cứu. Những h́nh chính của ông là h́nh vuông (tứ linh diệu), tam giác đều, điểm trong ṿng tṛn, h́nh khối vuông, tam giác bội ba, và cuối cùng là mệnh đề thứ 47 trong các nguyên lư của Euclide; chính Pythagoras đă phát minh ra mệnh đề này. Nhưng trừ ngoại lệ này ra, không có biểu tượng nêu trên nào bắt nguồn từ ông như một số người thường lầm tưởng. Trước thời ông hàng ngàn năm, chúng đă lừng danh ở Ấn Độ, nhà hiền triết đă đem chúng từ đó sang, chẳng phải với vai tṛ là một điều suy lư mà là một khoa học đă được chứng minh (Porphyry bảo như vậy) khi trích dẫn lời Moderatus, môn đồ phái Pythagoras

 

Những con số của Pythagoras là những biểu tượng ẩn tự mà ông dùng để giải thích mọi ư tưởng liên quan tới bản chất của vạn vật. [[2]]

 

H́nh kỷ hà học căn bản của kinh Kabalah mà người ta đă tŕnh bày trong Số mục Thánh thư [[3]], cái h́nh mà truyền thuyết và các Giáo lư Nội môn bảo rằng nó đă được chính đấng Thánh linh trao truyền cho Moses trên núi Sinai [[4]], bao hàm - trong những tổ hợp vĩ đại (v́ đơn giản) của ḿnh - ch́a khóa giải vấn đề đại đồng thế giới. Bản thân h́nh này bao hàm tất cả những h́nh khác.

Biểu tượng kư về số mục và các mối tương quan toán học của chúng cũng là một trong những ngành Pháp thuật, nhất là Pháp thuật trí tuệ, nghệ thuật bói toán và tri giác chính xác bằng thần nhăn. Các hệ thống đều khác nhau, nhưng nguyên lư đâu đâu cũng như nhau. Trong Bách khoa Từ điển Tam Điểm Hoàng gia, Kenneth R. H. Mackenzie đă tŕnh bày như sau:

 

Một hệ thống chọn theo nhất nguyên, hệ thống kia theo tam nguyên, c̣n hệ thống thứ ba theo ngũ nguyên; chúng ta lại c̣n có các h́nh lục giác, thất giác, cửu giác v.v. . ., cho đến khi tâm trí chới với trong việc xem xét chỉ nội những tư liệu của một khoa số học. [[5]]

 

Các chữ tiếng Devanāgarī mà người ta thường dùng để viết tiếng Bắc phạn, có tất cả những ǵ mà các bộ mẫu tự Hermes, Chaldea và Hebrew có; ngoài ra nó c̣n có thêm ư nghĩa Huyền bí của “âm thanh vĩnh cửu” và ư nghĩa dành cho mọi chữ liên quan tới các sự vật thiêng liêng cũng như phàm tục. V́ bộ mẫu tự Hebrew chỉ có hai mươi hai chữ cùng với mười số căn bản, trong khi tiếng Devanāgarī lại có ba mươi lăm phụ âm và mười sáu nguyên âm, vị chi là năm mươi mốt chữ đơn, ngoài ra c̣n có vô số tổ hợp; nên phạm vi suy lư và tri thức cũng theo tỉ lệ đó mà rộng lớn hơn nhiều. Mỗi chữ đều có chữ tương đương với ḿnh trong các ngôn ngữ khác, và có phần tương đương với ḿnh trong một hoặc nhiều h́nh của bảng tính. Nó cũng có nhiều ư nghĩa khác tùy thuộc vào phong cách riêng biệt và đặc tính của người, vật hoặc đối tượng cần được nghiên cứu. Cũng như người Ấn Độ tự cho là đă tiếp nhận các chữ tiếng  Devanāgarī từ Sarasvatī, nữ thần phát minh ra tiếng Bắc phạn, “ngôn ngữ của chư Thiên” (trong chư thần ngoại môn), cũng vậy, khi hầu hết các quốc gia thời xưa đều tự ban cho ḿnh đặc quyền ấy về nguồn gốc của văn tự và ngôn ngữ của ḿnh. Kinh Kabalah gọi bộ mẫu tự Hebrew là văn tự của chư thiên, vốn đă được truyền thụ cho các vị Giáo trưởng, cũng như tiếng Devanāgarī được chư thiên truyền thụ cho chư Thánh hiền. Người Chaldea thấy văn tự của ḿnh được vạch trên trời bởi “những ngôi sao và sao chổi bất định” (theo Thánh thư Số mục); c̣n người Phœnicia có một bộ mẫu tự linh thiêng được tạo ra bằng cách uốn vặn những con rắn linh thiêng. Natar Khari (bộ mẫu tự giáo sĩ) và ngôn ngữ bí mật (thuộc giới giáo sĩ) của người Ai Cập có liên quan mật thiết với “Ngôn ngữ Giáo lư Bí truyền” xưa nhất. Đó là một thứ tiếng Devanāgarī với những tổ hợp và điều thêm thắt thần bí; một phần lớn tiếng Senza đă được hội nhập vào đó.

Nhiều Huyền bí gia Tây phương đều thừa biết rằng quyền năng và mănh lực của những con số và chữ viết bắt nguồn từ tất cả những hệ thống này; thế nhưng các môn sinh Ấn Độ (nếu không phải là các Huyền bí gia Ấn Độ) lại vẫn c̣n mù tịt về điều này. Đến lượt các môn đồ Do Thái Bí giáo Âu Tây lại thường chẳng biết ất giáp ǵ về các bí mật mẫu tự của Nội môn Bí giáo Ấn Độ. Đồng thời, độc giả b́nh thường ở Tây phương lại chẳng hiểu chút ǵ về một trong hai thứ nêu trên; lại càng không hiểu được mức độ sâu xa của những dấu vết mà hệ thống số mục Nội môn trong các Giáo hội Thiên Chúa trên thế giới đă để lại.

Tuy nhiên, hệ thống số mục này lại giải được vấn đề vũ trụ khởi nguyên luận đối với bất kỳ kẻ nào nghiên cứu nó, trong khi hệ thống h́nh kỷ hà học lại tiêu biểu cho các con số một cách khách quan.

Muốn quán triệt được tính cách thần thánh hóa và bí hiểm của Cổ nhân, ta phải nghiên cứu nguồn gốc của những sự biểu diễn bằng h́nh tượng của các triết gia nguyên sơ. Thánh thư Hermes là những kho tàng xưa nhất của khoa biểu tượng học số mục trong Huyền bí học Tây phương. Trong đó ta thấy rằng số mười [[6]] là Mẹ của Linh Hồn, Sự sống và Ánh sáng hợp nhất trong đó. Ấy là v́ hoán tự Teruph đă tŕnh bày trong “Bí quyết Số mục Thánh thư” rằng số 1 (một) sinh ra từ Tinh thần, c̣n số 10 (mười) sinh ra từ Vật chất; “đơn vị đă tạo thành số mười, số mười tạo thành đơn vị”; và đây chỉ là tiên đề của thuyết Phiếm thần, nói cách khác là “Thượng Đế trong Vũ trụ và Vũ trụ trong Thượng Đế”.

Gematria của Do Thái Bí giáo có tính cách số học, chứ không phải là h́nh học. Đó là một trong những phương pháp để rút ra ư nghĩa ẩn tàng từ những chữ, những từ và những câu. Nó cốt ở việc gán cho những chữ của một từ ư nghĩa mà chúng bao hàm với vai tṛ là những con số, xét theo h́nh dáng bên ngoài cũng như là theo ư nghĩa cá biệt. Ragon đă minh giải như sau:

 

Số 1 có nghĩa là người sống (một cơ thể đứng thẳng), con người là sinh vật duy nhất có được năng lực này. Nếu thêm vào nó một cái đầu th́ ta sẽ được chữ tượng h́nh (hay chữ) P, có nghĩa là phụ hệ, mănh lực sáng tạo; chữ R có nghĩa là con người đang bước (giơ chân ra phía trước) đi, iens, iturus. [[7]]

Các chữ cũng được bổ sung cho ngôn ngữ, mỗi chữ vừa là một h́nh biểu diễn một âm thanh đối với thính giác, vừa là một ư tưởng đối với tâm trí. Chẳng hạn như chữ F, vốn là một âm thanh sắc bén giống như tiếng không khí cuốn nhanh qua không gian; cơn cuồng nộ, hỏa tiễn, hung hăng, tất cả những từ này đều diễn tả và mô tả ư nghĩa của chúng. [[8]]

 

Nhưng đoạn nêu trên thuộc về một hệ thống khác, hệ thống triết học nguyên sơ nhằm tạo lập các chữ và dạng tượng h́nh bề ngoài của chúng - chứ không thuộc về Gematria. Temura là một phương pháp khác của Do Thái Bí giáo, nhờ phương pháp này người ta có thể khiến cho bất kỳ từ ngữ nào tiết lộ bí mật của ḿnh bằng cách hoán tự nó. V́ thế, trong Sepher Yetzireh ta thấy có câu “Nhất nguyên - Tinh thần của chư Alahim Bản sinh”. Trong các đồ h́nh xưa nhất của Do Thái Bí giáo, chư Sephiroth (bảy và ba vị) được tượng trưng bằng những bánh xe hoặc những ṿng tṛn, c̣n Adam Kadmon (Người nguyên sơ) được tượng trưng là một cây cột thẳng đứng. Giáo sĩ Do Thái Akiba dạy rằng: “Các Diệu luân và Seraphim là những tạo vật thánh thiện” (Chioth). Trong một hệ thống kinh Kabalah biểu tượng khác nữa tên là Albath - nó sắp xếp các chữ của bộ mẫu tự theo từng cặp trên ba hàng - tất cả các cặp ở hàng thứ nhất đều có trị số là mười. C̣n trong hệ thống của Simeon Ben Shetah (một môn đồ phái Tân Platon ở Alexandria vào thời Ptolemy đệ nhất) cặp trên cùng - cặp linh thiêng nhất - lại ở đằng sau con số của Pythagoras: số một và số không - số 10.

Mọi thực thể, kể từ phân thân thiêng liêng bản sơ, tức “Thượng Đế biểu lộ”, xuống măi tới nguyên tử hạ đẳng nhất, đều “có con số đặc biệt của ḿnh, nó phân biệt mỗi thực thể và trở thành nguồn gốc của các thuộc tính, đặc tính cũng như số phận của chúng”. Cornelius Agrippa đă dạy rằng sự may mắn thực ra chỉ là một sự tiến bộ huyền vi, c̣n thời gian chẳng qua chỉ là một sự nối tiếp của các con số. V́ thế, tương lai chỉ là một sự kết hợp của thời gian và sự may mắn; những điều này được dùng trong những phép tính Huyền bí để t́m ra kết quả của một biến cố, hoặc tương lai của số phận người ta. Pythagoras dạy:

 

Có một mối liên hệ bí nhiệm giữa chư Thần linh và các con số, khoa bói số dựa vào mối liên hệ ấy. Linh hồn là một thế giới tự hành (self moving); bản thân linh hồn bao hàm và chính là tứ nguyên, tứ linh diệu (h́nh lập phương toàn bích).

 

Có những con số cát và hung (lành và dữ). Như thế, trong khi tam nguyên - đứng đầu trong đám những con số lẻ (số một thật là toàn bích và có địa vị độc lập trong Huyền bí học) - là h́nh thiêng liêng tức h́nh tam giác, th́ ngay từ đầu, nhị nguyên đă bị các môn đồ phái Pythagoras làm cho mất giá trị. Nó tiêu biểu cho Vật chất, nguyên khí ác tiêu cực - con số của hăo huyền (Māyā).

 

Trong khi số một tượng trưng cho sự hài ḥa, trật tự hoặc nguyên khí thiện (Đấng Thượng Đế duy nhất được biểu đạt theo tiếng Latinh là Solus, do đó mới có từ ngữ Sol - Mặt trời, biểu tượng của đấng Thánh linh), th́ số hai lại diễn đạt một ư niệm đối nghịch. Khoa học thiện và ác khởi đầu với nó. Tất cả những ǵ có tính cách hai mặt, giả dối, ngược lại với thực tại duy nhất, đều được mô tả bằng nhị nguyên. Nó cũng biểu diễn những cặp bài trùng bao giờ cũng đối lập với nhau trong Thiên nhiên: ngày và đêm, ánh sáng và bóng tối, hơi lạnh và sức nóng, sự ẩm ướt và sự khô ráo, sức khỏe và sự đau ốm, sai lầm và sự thật, thư và hùng v.v. . . . Người La Mă dành riêng tháng thứ hai trong năm cho thần Pluto, và dành riêng ngày thứ hai của tháng đó cho những lễ chuộc tội dâng lên các Vong linh. V́ thế nên Giáo hội La Mă cũng lập ra nghi lễ này và sao chép nguyên xi. Năm 1.003, Đức Giáo hoàng John XIX đă lập nên lễ Quá cố, nó ắt phải được cử hành vào ngày mùng 2 tháng 11, tháng thứ hai của mùa thu. [[9]]

 

Mặt khác, h́nh tam giác, một h́nh kỷ hà học thuần túy được mọi quốc gia trọng vọng và chính v́ lư do này mà:

 

Trong h́nh học, một đường thẳng không thể tiêu biểu cho một h́nh toàn bích; hai đường thẳng cũng chẳng hơn ǵ. Mặt khác, khi giao nhau, ba đường thẳng tạo ra h́nh tam giác, tức h́nh toàn bích bản sơ. Do đó, ngay từ đầu và cho đến nay, nó vẫn tượng trưng cho Vĩnh cửu - sự toàn bích bản sơ. Theo tiếng La tinh cũng như tiếng Pháp, từ ngữ dành cho đấng Thánh linh bắt đầu bằng chữ D, c̣n theo tiếng Hy Lạp th́ nó bắt đầu bằng chữ delta hay h́nh tam giác, Δ, ba cạnh của h́nh này tượng trưng cho tam nguyên hoặc ba giới, hoặc bản chất thiêng liêng. Ở giữa là tiếng Hebrew Yod, chữ đầu tiên của Jehovah. (xem Giáo điều và Nghi lễ của Éliphas Lévi, i, trang 154, tinh thần làm linh hoạt tức lửa, nguyên khí sinh hóa được tượng trưng bằng chữ G, chữ đầu tiên của Thượng Đế (God) trong các ngôn ngữ của phương Bắc, nó có ư nghĩa triết học là sự sinh hóa. [[10]]

 

Môn đồ Tam Điểm trứ danh Ragon đă nhận xét chính xác rằng Ba Ngôi của Ấn Độ được nhân cách hóa trong thế giới ư niệm bằng Ngôi Sáng tạo, Ngôi Bảo dưỡng và Ngôi Hủy diệt, tức là Brahmā, Vishnu và Shiva. Trong thế giới Vật chất, nó được thể hiện bằng Thổ, Thủy và Hỏa tức Thái dương và được tượng trưng bằng Hoa sen, một thứ hoa sống nhờ đất, nước và ánh nắng mặt trời. [[11]] Hoa sen, vốn linh thiêng đối với Isis, cũng có ư nghĩa tương tự như vậy ở Ai Cập, c̣n trong biểu tượng Thiên Chúa giáo, Hoa sen vốn không hề có mặt ở Judea hoặc Âu châu, đă bị thay thế bằng hoa súng. Trong mọi Giáo hội Hy Lạp và La tinh, trong mọi bức tranh về sự ngự cáo công bố (Annunciation), người ta mô tả Tổng Thiên thần Gabriel đứng trước Đức Mẹ Maria, tay lăm lăm cầm biểu tượng ba ngôi; trong khi đó trên bàn thờ chính hoặc bên dưới mái ṿm, người ta vẽ con Mắt của đấng Vĩnh cửu bên trong một h́nh tam giác; nó thay thế cho Yod của người Hebrew tức Thượng Đế.

Ragon bảo rằng, quả đă có lúc mà những con số và chữ có nghĩa là một điều ǵ khác hơn hiện nay - các h́nh ảnh của chỉ một âm thanh vô nghĩa.

Thế là sứ mệnh của chúng bèn cao cả hơn. Mỗi chữ hoặc số có dạng biểu diễn một ư nghĩa hoàn chỉnh, ngoài ư nghĩa cố hữu của từ ngữ, nó c̣n có một lối thuyết minh hai mặt [[12]] tương ứng với một giáo thuyết hai mặt. Như thế, khi các nhà hiền triết muốn viết một điều ǵ mà chỉ có các nhà thông thái hiểu được thôi, th́ họ bèn tán phét ra một câu chuyện, một giấc mơ hoặc một đề tài hư cấu nào khác có những nhân danh và địa danh dùng những chữ viết để tiết lộ thêm ư của tác giả thể hiện qua câu chuyện ấy. Tất cả những điều sáng tạo về tôn giáo của họ đều như thế cả. [[13]]

Mọi tên gọi và từ ngữ đều có lư do tồn tại của ḿnh. Chỉ cần liếc mắt qua danh xưng của một cây cỏ hay khoáng vật là vị Điểm đạo đồ cũng biết được bản chất của nó. Ngài có thể dễ dàng tri giác được bản chất của vạn vật một khi mà nó đă được biểu diễn bằng những chữ viết như thế. Chữ Trung Hoa đă bảo tồn được phần lớn tính cách tượng h́nh này cho đến tận ngày nay, mặc dù bí mật của cả hệ thống đă bị thất truyền. Tuy nhiên, ngay cả hiện nay, ở xứ đó cũng có những kẻ có thể viết một câu chuyện dài, một quyển sách, một trang giấy. Và các biểu tượng vốn được giải thích theo lịch sử, ẩn dụ và thiên văn học, vẫn c̣n sinh tồn cho đến tận ngày nay.

Hơn nữa, trong nội bộ các Điểm đạo đồ có tồn tại một ngôn ngữ đại đồng thế giới mà một Cao đồ (và ngay cả một môn đồ) ở bất kỳ quốc gia nào cũng có thể hiểu được bằng cách đọc nó theo ngôn ngữ của chính ḿnh. Trái lại, những người Âu Tây chúng ta chỉ có một kư hiệu chung cho tất cả “&” (và). Có một ngôn ngữ giàu từ ngữ siêu h́nh học hơn bất kỳ ngôn ngữ nào khác trên đời, mỗi từ ngữ của nó đều được biểu diễn bằng những kư hiệu chung giống như vậy. Cái gọi là “chữ của Pythagoras”, chữ ϓ của tiếng Hy Lạp (chữ Y của tiếng Anh) nếu chỉ được viết ra đơn độc trong một thông điệp, th́ cũng rơ ràng như trọn cả một trang gồm nhiều câu, v́ nó là biểu tượng của một số điều - chẳng hạn như Pháp thuật chánh đạo và Ma thuật [[14]]. Giả sử một người hỏi một người khác rằng: Một kẻ như thế thuộc về trường phái Pháp thuật nào? Và nếu người kia trả lời bằng cách viết chữ Y có nhánh phải dầy hơn nhánh trái, th́ điều này có nghĩa là “Pháp thuật chánh đạo thiêng liêng”, nhưng nếu chữ Y được viết như thường lệ có nhánh trái dầy hơn nhánh phải th́ nó có nghĩa ngược lại, nhánh phải hoặc nhánh trái là toàn bộ tiểu sử của một người. Ở Á châu, nhất là theo tiếng Devanāgarī, mỗi chữ đều có nhiều ư nghĩa bí mật.

Những ch́a khóa trong kinh Kabalah cho ta thấy những sự thuyết giải ư nghĩa ẩn tàng của những tác phẩm khải huyền như thế, chúng là một trong những kho tàng học thuật linh thiêng nhất của nó. Thánh Hieronymus đoan chắc với ta rằng trong Trường phái các Đạo sư, người ta có biết tới và giảng dạy chúng, điều này rất có thể như vậy.

Trong tác phẩm bàn về truyền thuyết nhà Hebrew học thông thái, Molitor cho rằng:

 

Hai mươi hai chữ trong bộ mẫu tự Hebrew được coi là một phân thân, hoặc biểu lộ hữu h́nh của các thần lực cố hữu trong húy danh.

 

Các chữ này cũng có những thứ tương đương (và được thay thế bằng những con số) giống như trong những hệ thống khác. Chẳng hạn như, chữ thứ mười hai và thứ sáu của bộ mẫu tự lại là chữ thứ mười tám trong một danh xưng. Những chữ khác của danh xưng đó, nếu cộng lại, luôn luôn được thay thế bởi con số tương ứng với chữ cái. Thế rồi, tất cả những con số này bị một quá tŕnh đại số biến chúng trở lại thành chữ. Sau đó, các chữ này bèn tiết lộ cho kẻ điều tra những bí mật ẩn tàng nhất của sự Trường tồn thiêng liêng (sự vĩnh cửu thường trụ) trong Tương lai.

 

 

[Nhiều đoạn của Tiết này - thường th́ giống từng chữ một - là phần đầu của Tiết III trong bản thảo năm 1.886.]

 


[[1]] Xem Nữ thần Isis lộ diện, II, trang 298-300. Gematria được tạo ra do một sự chuyển hoán âm vị của từ ngữ Hy Lạp . . . .; Nataricon có thể sánh với thuật tốc kư; c̣n Temura là phép hoán vị - một cách phân chia mẫu tự và đổi chỗ các chữ.

[[2]] Tiểu sử Pythagoras.

[[3]] Chúng tôi không hề biết rằng một bản sao của tác phẩm cổ truyền này cũng có mặt trong bản mục lục của bất kỳ thư viện Âu Tây nào. Nhưng đó là một trong các “Thánh thư Hermes”; các tác phẩm của một số triết gia thời xưa và thời trung cổ đều tham chiếu và trích dẫn nó. Trong đám các tác phẩm có thẩm quyền này ta thấy có Triết lư Hoa hồng của Arnoldo di Villanova, Thạch luận của F. Arnolphinus, Luận về phép biến Kim và Ngọc bích thần biểu của Hermes Trismegistus và nhất là bộ đại luận của Raymond Lully, Công tác Thiêng liêng của chư Thiên thuộc Thực thể thứ Năm.

[[4]] Thánh thư về Miền đất hứa, xxv, 40.

[[5]] Sách đă dẫn, mục “Số mục”, trang 514.

[[6]] Xem Số mười của Pythagoras của Johannes Meursius.

[[7]] Ragon, Giáo lư Tam Điểm Huyền bí, chú thích, trang 426.

[[8]] Như trên, chú thích trang 432. 

 

[[9]] Trích từ Giáo lư Tam Điểm Huyền bí của Ragon, chú thích, trang 427. 

[[10]] Tóm tắt theo Ragon, như trên, chú thích, trang 428. 

[[11]] Ragon có nhắc tới sự kiện kỳ diệu là số bốn đầu tiên theo tiếng Đức đều được gọi tên theo các hành.

“Ein, tức một, có nghĩa là phong, hành luôn luôn vận động, thấm nhuần vật chất; sự liên tục lên xuống (ḍng chảy) của nó, chính là hiện thể đại đồng thế giới của sự sống.

“Zwei, hai, bắt nguồn từ tiếng Đức cổ Zweig, nghĩa là mầm mống, khả năng sinh sản; nó tượng trưng cho thổ, bà mẹ mắn đẻ của vạn vật.

“Drei, ba, chính là trienos của người Hy Lạp, tượng trưng cho thủy, do đó mới có các Hải thần, Triton và cái chĩa ba, biểu hiệu của thần Neptune - nước hay biển, nói chung được gọi là Amphitrite (nước bao quanh).

“Vicr, bốn, một số có nghĩa là lửa theo tiếng Bỉ . . . Chính tứ nguyên bao hàm h́nh khối đầu tiên, biểu tượng đại đồng thế giới của sự bất tử, Kim tự tháp, mà vần đầu tiên của nó có nghĩa là lửa. Lysis và Timæus ở Locris đă tuyên bố rằng không điều nào có thể được mệnh danh mà không có căn nguyên là tứ nguyên . . . Ư tưởng thần bí tài t́nh dẫn đến sự tôn trọng tam nguyên và tam giác, cũng được áp dụng cho số bốn và h́nh của nó: người ta bảo rằng nó biểu diễn một thực thể sống động; 1, hiện thể của tam giác, 4, hiện thể của Thượng Đế tức con người hàm tàng nguyên khí thiêng liêng”. 

Cuối cùng, “Cổ nhân biểu diễn thế giới bằng số năm. Diodorus giải thích nó bằng cách bảo rằng số này biểu diễn phong, thủy, hỏa, thổ và dĩ thái tức tinh thần. Do đó mới có từ nguyên Pente (năm) và Pan (một vị thần) có nghĩa là tất cả theo tiếng Hy Lạp”. (Đối chiếu Ragon, sách đă dẫn, trang 428-430.) Xin dành cho các Huyền bí gia Ấn Độ việc giải thích mối quan hệ của từ ngữ Bắc phạn Pancha (năm) với các hành; tiếng Hy Lạp Pente được bắt nguồn từ tiếng Bắc phạn này.  

[[12]] Hệ thống cái gọi là các chữ Senzar c̣n kỳ diệu và khó hiểu hơn nữa, v́ mỗi chữ bao hàm nhiều nghĩa, một kư hiệu ở đầu chữ cho ta biết chân ư nghĩa của nó.

[[13]] Ragon, sách đă dẫn, chú thích trang 431. 

[[14]] Xét về mặt ngoại môn, chữ Y chẳng những tượng trưng cho hai con đường đức hạnh và thói xấu mà c̣n tượng trưng cho con số 150 và - nếu chữ Y có một dấu gạch ở trên - là con số 150.000.


 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS