|
|
HOME T̀M HIỂU NHẬP MÔN sách TIỂU SỬ BẢN TIN H̀NH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 NỮ THẦN ISIS
|
|
Ngă, Vô Ngă và Đại Ngă
Tim Boyd
Bản dịch: www.thongthienhoc.com
The Theosophist,
Quyển 147, số 10, tháng 7 năm 2026
|
|
Ngă, Vô Ngă và Đại Ngă
Vấn đề Tinh thần Phổ quát
Các truyền thống tinh thần trên thế giới khác nhau về nhiều phương diện —
nghi lễ, phương pháp thực hành, hay cách mô tả thần tính — nhưng trong một
số lĩnh vực cốt yếu, bất kể truyền thống ấy bắt nguồn từ thời đại, địa điểm
hay nền văn hóa nào, đều có một sự đồng thuận hoàn toàn. Một trong những
điểm đồng thuận ấy liên quan đến vấn đề căn bản của con người, vốn ngăn trở
chúng ta đạt đến sự nhận thức tinh thần. Tên gọi của vấn đề này rất nhiều và
thay đổi tùy theo từng truyền thống: ego
bản ngă,
con người bằng đất/ thịt,
Con Người Tự Nhiên (Natural Man),
phàm ngă (personality), bản
ngă thấp (lower self), Nafs
(tiếng Ả Rập), Nefesh (tiếng
Do Thái), Ahamkâra (tiếng
Phạn), Linh hồn Thú (Animal Soul),
Tâm trí bản ngă (Egoic Mind),
cái tâm vị kỷ,
tâm mê vọng, v.v. Theo thuật
ngữ của Thông Thiên Học, từ được dùng thường xuyên nhất là
"self" (tiểu ngă), viết bằng
chữ thường để phân biệt với "Self"
(Đại Ngă), là bản chất phổ quát chung của mọi sự sống.
Mọi truyền thống chân chính hướng đến tinh thần đều đă khảo sát rất sâu sắc
trung tâm cá nhân này, đồng thời đặt tên và mô tả những đặc tính cũng như
tập quán của nó. Sự nh́n nhận chung về bản chất đầy tranh căi của
tiểu ngă dựa trên nhận xét
rằng mỗi chúng ta đều hoạt động từ một trung tâm cá nhân; và chính trung tâm
ấy quy định cách chúng ta nh́n thế giới cũng như quan hệ với các tiến tŕnh
của nó và với vạn vật sống trong thế giới đó. Các bậc hiền triết và những
người quan sát tinh tế qua nhiều thời đại đều hiểu rằng việc chúng ta bám
víu vào tiểu ngă cá nhân này
và để nó điều khiển ḿnh đă giới hạn nghiêm trọng kinh nghiệm của chúng ta
về một đời sống rộng lớn hơn, phong phú hơn và vĩ đại hơn, mà chúng ta đang
ở ngay trong đó nhưng lại không nhận ra. Theo các Ngài, nguyên nhân là v́ sự
chú ư của chúng ta luôn bị cố định vào việc phục vụ những ham muốn, nhu cầu
và đ̣i hỏi của cái mà Rumi
gọi là "vị vua đồi bại, chỉ biết
say mê chính ḿnh." Mục
tiêu Thứ Nhất của Hội Thông Thiên
Học là "thành lập một hạt
nhân của T́nh Huynh Đệ Đại Đồng không phân biệt." Thế nhưng, đó là
một mục tiêu không thể đạt được khi
tiểu ngă c̣n thống trị tư tưởng và hành vi của chúng ta. Vậy phải làm
ǵ?
Phản ứng bằng Khổ hạnh
Cảm nhận rằng tiểu ngă chính
là trở ngại ngăn cản sự kết nối sâu xa hơn với tinh thần đă dẫn đến nhiều
quan điểm kỳ lạ. Trong nhiều con đường tinh thần, thân xác đă bị xem như một
kẻ thù. Trong nỗ lực chế ngự hoặc khuất phục thân xác, người ta thường nhấn
mạnh đến sự tiết dục và nhịn ăn; nhưng trong mọi truyền thống đều có những
h́nh thức khổ hạnh cực đoan được một số người chấp nhận. Nhịn đói, tự đánh
đập thân thể, nằm trên giường đinh, mặc áo dệt bằng lông thú và vô số h́nh
thức hành xác đầy sáng tạo khác đă được thực hành với niềm tin rằng sự khinh
miệt và hành hạ thân xác bằng cách nào đó sẽ làm giảm quyền lực của nó và
dẫn đến sự hợp nhất với tinh thần. Trước khi thành Phật, Thái tử
Siddartha cũng đă từng thử
con đường ấy. Ngài hành hạ thân xác bằng cách tuyệt thực, đến mức gầy g̣ chỉ
c̣n da bọc xương, mỗi chiếc xương đều nổi rơ dưới làn da. Trong quyết tâm
của ḿnh, Ngài đă tiến sát đến cái chết và chỉ được cứu sống nhờ một thiếu
nữ đến dâng sữa cúng dường cho một vị thần cây. V́ lầm tưởng Ngài chính là
vị thần ấy, cô đă dâng sữa cho Ngài. Sau khi dần hồi phục sức lực, Ngài nhận
ra rằng sự hành xác cũng tai hại chẳng kém ǵ sự buông thả dục lạc; v́ vậy
Ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh để thực hành
Con Đường Trung Đạo.
Chính việc chúng ta không thể giải thoát ḿnh khỏi sự bám chấp vào
tiểu ngă đă khiến
chúng ta mù ḷa trước những chiều sâu tinh thần của chính ḿnh. Nhưng cũng
chính tiểu ngă ấy lại là con
đường đưa chúng ta đến những đỉnh cao — chiếc thuyền chuyên chở chúng ta
vượt qua sông biển. Thông qua các mối quan hệ cá nhân với
gia đ́nh, bạn bè, thầy giáo, thậm chí cả thú vật, mà chúng ta trải nghiệm
được năng lượng giải phóng và chiều sâu tận cùng của t́nh thương cùng ḷng
từ bi. Thân xác và các giác quan mở ra cho chúng ta những kinh nghiệm về vẻ
đẹp của Thiên nhiên, âm nhạc, hương thơm mùi vị, những điều có thể nâng
chúng ta lên các trạng thái siêu nghiệm. Và tư tưởng của chúng ta, tuy thông
thường chỉ xoay quanh bản thân, vẫn có thể vươn lên những tầng mức chạm đến
tinh thần.
V́ sao bạn bất hạnh?
Một vị Đạo sĩ đương đại đă từng nêu một câu hỏi mang tính tu
từ chữ nghĩa rồi tự trả lời. Câu hỏi rất đơn giản:
"V́ sao bạn bất hạnh?" Và
câu trả lời của ông là: "Bởi v́ 99%
tư tưởng của bạn đều hướng về chính bản thân, bản ngă ḿnh (your self),
trong khi thật ra chẳng hề có một cái 'ḿnh' (self) nào cả." Đó là
một phát biểu rất khéo léo, nhưng cũng vô cùng sâu sắc và đáng để suy ngẫm
nghiêm túc. Phần lớn tư tưởng của chúng ta đều xoay quanh chính ḿnh; nhưng
ở tận đáy sâu, liệu có thể nào cái mà chúng ta gọi là "ḿnh" (self) ấy thật
sự không hề tồn tại?
Câu hỏi và câu trả lời ấy xuyên suốt qua mọi truyền thống tinh thần.
Trong mỗi truyền thống đều có sự nhận thức về một
tiểu
bản ngă (self), mà chúng ta đồng hóa cái ngă đó với chính ḿnh. Trong
h́nh ảnh ẩn dụ trong kinh thánh, nó thường được mô tả như một con người đang
sống xa quê hương, bị tách ĺa khỏi cội nguồn thực sự của ḿnh. Trong Kinh
Thánh có câu chuyện về đứa con
hoang đàng, rời bỏ nhà cha để chịu đau khổ nơi xứ xa lạ. Trong Phật
giáo có Bánh xe Sinh tử
(Bhavachakra), nơi các chúng sinh cứ măi luân chuyển qua những lần
tái sinh lặp đi lặp lại dưới sự chi phối của vô minh. Trong tất cả các
truyền thống ấy đều có ư niệm về một
tiểu ngă bằng cách nào đó
không nhận biết bản tính sâu xa của ḿnh và không thể ḥa giải với một Thực
tại cao cả hơn. Chúng ta thường nghĩ đến
self với chữ s viết thường,
nhưng c̣n có Self với chữ
S viết hoa —
Tâm Thức Đại Đồng, Thần tính,
hay Thượng Đế. Có
tiểu ngă cá nhân, và rồi có
Đấng Ấy (That). Các truyền
thống tinh thần, bằng cách này hay cách khác, đều cố gắng bắc một nhịp cầu
nối liền khoảng cách giữa hai thực tại ấy. Bản Tuyên ngôn Sứ mạng của
Hội Thông Thiên Học chỉ cho
chúng ta hướng đến "sự chuyển hóa
tinh thần của chính ḿnh" (spiritual self transformation).
Thực Sự Có Bản Ngă Không?
Dựa trên cơ sở nào mà người ta có thể nói rằng bản ngă (self) — khía cạnh
trực tiếp nhất, hiển nhiên nhất của đời sống chúng ta — lại không hiện hữu?
Nhiều người khi nói về chính ḿnh thường đưa ngón tay chỉ vào ngực để biểu
thị "tôi" hay "Ta". Thể xác là điều không thể phủ nhận và luôn hiện diện như
một phương diện nổi bật nhất của bản ngă. Xét trên nhiều phương diện, nó
giống như mặt trời, với lực hấp dẫn giữ cho các hành tinh quay quanh nó. Tất
cả chúng ta đều ư thức được ḍng chảy của tư tưởng, cảm xúc và t́nh cảm,
những yếu tố phần lớn tạo nên con người mà ta cho là ḿnh. Vậy làm sao có
thể nói về người bạn đồng hành quen thuộc và thường hằng ấy rằng:
"Nó, cái bản ngă này không hề tồn
tại"? Rơ ràng bản ngă quả thật hiện hữu, nhưng cũng giống như một đám
mây, thực tại của nó chỉ là tạm thời và tùy thuộc vào các điều kiện. Muốn
một đám mây thành h́nh th́ nhiều điều kiện phải hội đủ: lượng hơi nước thích
hợp trong bầu khí quyển, nhiệt độ và độ cao kết hợp với nhau tạo nên một
h́nh thể tồn tại trong một khoảng thời gian. Trong khi những điều kiện ấy
c̣n duy tŕ, đám mây có h́nh dạng, có thể nh́n thấy, chuyển động trên bầu
trời, mang mưa hoặc bóng mát xuống mặt đất. Rồi đến lúc nó tan biến, mọi
thành phần của nó ḥa tan trở lại vào môi trường bao quanh. V́ vậy, có thể
nói đám mây là có thật, nhưng chỉ chừng nào những điều kiện liên kết ấy c̣n
tồn tại. Nó có thật, nhưng chỉ là
một thực tại tương đối.
Quan điểm của Thông Thiên Học về Bản Ngă
Trong Thông Thiên Học, những điều kiện tạo nên thực tại của bản ngă được mô
tả bằng nhiều thuật ngữ vay mượn từ các truyền thống tinh thần Đông và Tây.
Trong Ch́a Khóa Thông Thiên Học (The Key to Theosophy),
H. P. Blavatsky nhận xét về
giáo lư Ngũ Uẩn của Đức Phật
— Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức
— và đánh đồng tất cả ngoại trừ
Thức Consciousness với Tứ Hạ
Lower Quaternary, (gồm bản ngă được cấu thành bởi thể xác, các năng lượng,
dục vọng và trí năng bị dục vọng chi phối. Bà c̣n tiến xa hơn khi tŕnh bày
cấu tạo của con người. Ngay phần mở đầu của Giáo Lư Bí Truyền (The
Secret Doctrine), HPB mô tả nhân loại là điểm hội tụ của
ba ḍng tiến hóa:
tinh thần, trí tuệ và vật chất:
Mỗi một trong ba hệ thống ấy đều có những định luật riêng của ḿnh
nó, và được cai quản, hướng dẫn bởi những nhóm khác nhau của các vị Dhyani
hay "Logoi" cao cả nhất. Mỗi hệ thống đều được biểu hiện trong cấu tạo của
con người, là Tiểu Thiên Địa của Đại Thiên Địa; và chính sự hợp nhất của ba
ḍng tiến hóa ấy nơi con người đă làm cho con người phức hợp như con người
hiện nay.
Nhưng bản ngă mà chúng ta tạo ra trong cơi con người này lại là một điều hơi
khác. Nó là một cấu trúc tâm lư,
qua đó chúng ta hoạt động.
Ngôi Nhà của Bản Ngă
Ở một khía cạnh nào đó, bản ngă giống như một ngôi nhà. Có người chỉ sống
trong một căn pḥng; có người ở trong một căn hộ; có người ở trong một dinh
thự hay cung điện. Dù lớn hay nhỏ, đó vẫn là không gian mà ta cư ngụ. Chúng
ta trang trí nó, tô điểm nó, bảo vệ nó. Ta mua bảo hiểm để pḥng mất mát. Ta
lắp đặt hệ thống báo động để canh giữ nó. Đó là nơi ta tích lũy tài sản, nơi
ta trải nghiệm niềm vui và đau khổ, nơi ta sống rồi cuối cùng cũng chết.
Nhưng điều ǵ thực sự xác định nên không gian ấy? Sau cùng, chính
những bức tường là yếu tố
định nghĩa nó — chính những ranh giới bao bọc lấy nó. Nếu ta tự hỏi:
Điều ǵ sẽ xảy ra nếu những bức
tường ấy bị dỡ bỏ? Th́ lúc ấy ta đă bắt đầu tiến đến trọng tâm của
cuộc truy tầm vấn tinh thần.
Neti, Neti:
Tiến Tŕnh Giải Cấu trúc Căn Tính
Trong tu tập truyền thống có câu
neti, neti — nghĩa là
"Không phải cái này, không phải cái
kia." Đó là một tiến tŕnh giải cấu, dỡ bỏ cấu trúc, trong đó người
hành giả khảo sát từng thành phần cấu tạo nên bản ngă.
"Thể xác này có phải là ta không?"
"Các cảm giác hay cảm xúc này có phải là ta không?" "Những tư tưởng hay cái
tâm trí năng này có phải là ta không?" Chúng ta đặt câu hỏi,
kiểm nghiệm câu trả lời của ḿnh, rồi từng lớp một của căn tính dần dần rơi
rụng. Không phải cái này. cũng
không phải cái kia.
Tiến tŕnh ấy rất giống như bóc từng lớp của một củ hành. Nếu kiên tŕ cho
đến cùng, cuối cùng chỉ c̣n lại một lớp sau hết. Và khi lớp ấy cũng được bóc
đi, điều ǵ c̣n lại? Có người nói rằng chẳng c̣n ǵ cả. Có người khác lại
nói rằng điều c̣n lại chính là điều vốn luôn hiện hữu từ trước đến nay:
không gian vô hạn, bất khả phân
chia và hiện diện khắp nơi. Chính chúng ta là những kẻ dựng lên những
ngôi nhà nhỏ bé ấy, rồi tưởng rằng khoảng không gian của ḿnh — bản ngă của
ḿnh — không biết làm sao lại tách biệt khỏi tất cả những khoảng không khác.
Và rồi câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào để giải trừ những bức tường giam hăm
ấy? Làm thế nào để làm suy giảm quyền lực của bản ngă, hay thậm chí khiến nó
tan biến? Đây chính là nơi con đường tinh thần bắt đầu, cùng với tất cả
những giáo huấn của nó, kỷ luật và phương pháp tu tập của nó. Có
bản ngă cá nhân, và có
Bản Ngă đại đồng; nhưng ở
giữa hai điều ấy là một trạng thái thường được gọi là
"vô ngă" (no-self). Chính
trạng thái vô ngă ấy là cây cầu đưa
đến Đại Ngă, Đại đồng và không có tính cá nhân.
Tâm Trí Là Bức Tường Ngăn Cách
Trong Tiếng Nói Vô Thinh (The Voice of the Silence), HPB chỉ
rơ rằng chính tâm trí mới là
vấn đề: "Tâm trí là kẻ sát hại Thực
Tại." Tâm trí phân cách chúng ta khỏi
Đại Ngă, v́ thế:
"Chúng ta phải giết kẻ sát nhân
ấy."
Phật giáo cũng đưa ra những giáo huấn tương tự. Trong
Lục độ Ba-la-mật (Pāramitā) hay
hoàn hảo, đức hạnh cuối cùng là
Bát-nhă (Prajñā) — Trí
tuệ. Nhưng trí tuệ ở đây không đơn giản chỉ có nghĩa là hiểu biết về sự vật.
Theo nhiều phương diện, nó gần như mang ư nghĩa ngược lại. Trí tuệ bắt đầu
bằng sự nhận ra tánh Không —
rằng không có bất cứ sự vật nào ǵ sở hữu một hiện hữu độc
lập, tự thân. Lấy chiếc ghế làm ví dụ, chiếc ghế vốn không phải là một
"chiếc ghế". Điều ǵ khiến nó trở thành chiếc ghế? Có phải những cái chân?
Hay gỗ? Hay h́nh dạng của nó?
Khi khảo sát sâu hơn, ta khám phá rằng mọi sự đều được cấu thành bởi vô số
yếu tố tương thuộc lẫn nhau. Gỗ sinh trưởng từ một cái cây được nuôi dưỡng
bởi đất; đất lại được h́nh thành từ sự phân ră của vô số sinh vật. Mưa tưới
nước cho cây. Ánh nắng nuôi sống nó. Người thợ mộc tạo h́nh nó. C̣n một
người khác lại chế tạo dụng cụ của người thợ mộc. Mỗi một vật thể đều là một
phần của mạng lưới vô lượng nhân duyên và điều kiện. Đối với chính chúng ta
cũng hoàn toàn như vậy. Đă hơn một trăm năm kể từ khi khoa học hiện đại từ
bỏ quan niệm về "nguyên tử tối hậu",
tức đơn vị vật chất cuối cùng và bất khả phân chia, để rồi khám phá ra những
hạt hạ dưới nguyên tử ngày càng vi tế hơn. Không hề có một đơn vị vật
chất cô biệt lập, tối hậu và hoàn toàn độc lập. Mọi sự đều hiện hữu
trong mối tương duyên tương thuộc.
Nếu chúng ta thật sự có thể thấu triệt điều ấy, sự kiểm soát của bản ngă có
lẽ sẽ dần buông lỏng. Khi ấy, chúng ta sẽ thấy rằng tất cả những ǵ ta gọi
là "tôi" đều là sản phẩm của
vô số chúng sinh, vô số lực tác động và vô số tầng mức ư thức cùng tham dự
vào một tiến tŕnh chung.
Chỉ có chết mới có cái
Đại ngă
Ḍng cuối cùng trong
Lời nguyện của Thánh Phanxicô
diễn tả ư niệm này một cách thật đẹp:
“Chính khi chết đi
[đối với bản ngă] ta mới thức tỉnh vào sự sống vĩnh cửu.”
Không phải cái chết của
thân xác, mà là
chết đi đối với bản ngă.
Bản ngă đă dựng lều “cái tôi”. Khi nó tan ră, th́ sự tái sinh vào sự sống
vĩnh cửu, vào Thần tính, vào tâm thức đại đồng, vào
Đại Ngă (Self)
mới diễn ra. Điều này đặt ra một câu hỏi thực tiễn:
Làm thế nào chúng ta có thể tham dự vào tiến tŕnh chết đi của bản ngă?
Các giáo huấn tinh thần đưa ra nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Trong bài tiểu luận
What is Truth?
(Chân lư là ǵ?),
HPB
viết rằng
tiểu ngă
phải bị làm cho tê liệt th́ đời sống nội tâm mới có thể được trải nghiệm. Bà
nói đến việc
“làm tê liệt những dục vọng của nhân cách thấp”
— không phải là bỏ đói thân xác, mà bỏ đói, không nuôi dưỡng những khuynh
hướng và ham muốn vốn làm gia tăng bản ngă của cái tôi.
Trong
Ánh Sáng Trên Đường Đạo (Light
on the Path), ngôn từ c̣n mạnh
mẽ hơn nữa. Một trong những lời chỉ dạy được nhấn mạnh lặp đi lặp lại là:
“Hăy diệt trừ…”
Hăy diệt trừ dục vọng. Hăy diệt trừ tham vọng.
Hăy diệt trừ ư nghĩ về sự chia rẽ phân ly.
Thế nhưng, ngay lập tức
một vấn đề nảy sinh:
Ai là người đang thực hiện việc diệt trừ ấy?
Ai là người đang bỏ đói bản ngă? Chính bản ngă lại được yêu cầu tham gia vào
sự giải thể của chính ḿnh. Cái ngă được huy động để
làm cho chính cái ngă im lặng. Điều đó có thực sự khả thi không? Nghịch lư
này xuất hiện xuyên suốt các truyền thống tinh thần. Trong biểu tượng của
Phật giáo,
Luân hồi (Samsāra)
là bánh xe được duy tŕ bởi vô minh; và chính vô minh
ấy đưa chúng ta đến niềm tin rằng cái ngă riêng biệt là có thật và duy tŕ
cái ngă riêng biệt này
Câu Hỏi Bất Khả Thi
Nhà thần bí người Mỹ
Joel S. Goldsmith là tác
giả của nhiều tác phẩm. Lời đề tặng trong tất cả các sách của ông đều trích
một câu trong
Thánh Vịnh
của Kinh Thánh, trực tiếp nói đến nghịch lư này:
“Nếu Chúa không xây
nhà, th́ những người xây cất chỉ lao nhọc uổng công.”
Nếu cấu trúc của đời sống chúng ta không được xây
dựng bởi một ư thức hợp nhất với Thần linh tính, th́ mọi nỗ lực của
con người cũng chỉ là một công tŕnh khác của bản ngă mà thôi.
Jiddu Krishnamurti tiếp cận vấn
đề theo một cách khác. Trong loạt bài nói chuyện được tập hợp thành
The Impossible Question
(Câu hỏi bất khả), ông cho rằng sự chuyển hóa đ̣i hỏi phải đặt ra những câu
hỏi mà không thể t́m được lời giải trong phạm vi giới hạn của bản ngă, của
cái đă biết. (giới hạn của bản ngă là giới hạn của cái trí. LND) Một câu hỏi
như thế là:
Liệu tâm trí có thể tự giải thoát chính ḿnh không?
Liệu tâm trí có thể tự làm trống rỗng mọi cái đă
biết — không phải bằng nỗ lực cá nhân hay sự kiểm soát của ư chí, mà một
cách tự phát, tự nhiên, không có sự can thiệp của bản ngă? Chỉ riêng việc
đặt ra câu hỏi ấy cũng đă bộc lộ tính bất khả thi của nó. Làm sao
“tâm trí của tôi”
có thể thoát khỏi mọi điều kiện hóa mà không cần có
“tôi” làm điều ǵ đó?
Có lẽ câu trả lời cho câu
hỏi bất khả thi này lại chính là một câu hỏi khác. Có phải cây non phá vỡ
lớp vỏ hạt giống và lớn lên là nhờ bản ngă chăng? Có phải gà con cứ măi mổ
cho đến khi vỏ trứng nứt ra là do tư tưởng hay động cơ cá nhân chăng? Sau
một thời gian dài chuẩn bị và tăng trưởng âm thầm, cây non và gà con xuất
hiện; thế giới khép kín của hạt giống và vỏ trứng được bỏ lại phía sau,
không phải do ư chí của bản ngă, mà v́ đó là điều mà
Sự Sống đ̣i hỏi khi thời
điểm đă đến. Không có một quyết định nào. Không có một kế hoạch nào. Không
có sự lựa chọn nào cả. Cũng như cây non ngủ yên trong hạt giống và phôi thai
nằm trong quả trứng, con người cũng trải qua một thời kỳ thai nghén tưởng
như bất động; trong thời gian ấy, một nguồn năng lượng và trí tuệ ngày càng
tích tụ và lớn dần, để rồi bùng nở thành một sự sinh ra mới vào một đời sống
cao rộng hơn — vượt khỏi lớp vỏ, vượt khỏi bản ngă.
Ramana Maharshi nhiều lần nêu lên
câu hỏi:
“Tôi là ai?”
Thoạt đầu, chúng ta trả
lời theo những cách thông thường: thân xác này, nhân cách này, quá khứ này.
Nhưng khi sự truy vấn đi sâu hơn, ta nhận ra rằng bất cứ điều ǵ có thể được
quan sát th́ đều không thể là
Đại Ngă (Self) chân thực.
Nếu tiếp tục đào sâu đủ
mức vào câu hỏi ấy, cuối cùng ngay cả
người quan sát độc lập
cũng bắt đầu tan biến. Cái “tôi” không c̣n tồn tại như một thực thể riêng
biệt nữa. Chính tại điểm ấy, kinh nghiệm về
vô ngă
trở nên khả hữu. Và cũng chính tại điểm ấy, người ta nói đến
giác ngộ.
HOME T̀M HIỂU NHẬP MÔN sách TIỂU SỬ BẢN TIN H̀NH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 NỮ THẦN ISIS