Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lư

 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS

Ngă, Vô Ngă và Đại Ngă

   Tim Boyd

   Bản dịch: www.thongthienhoc.com

   The Theosophist, Quyển 147, số 10, tháng 7 năm 2026

 

Ngă, Vô Ngă và Đại Ngă

 

 

Vấn đề Tinh thần Phổ quát

 

Các truyền thống tinh thần trên thế giới khác nhau về nhiều phương diện — nghi lễ, phương pháp thực hành, hay cách mô tả thần tính — nhưng trong một số lĩnh vực cốt yếu, bất kể truyền thống ấy bắt nguồn từ thời đại, địa điểm hay nền văn hóa nào, đều có một sự đồng thuận hoàn toàn. Một trong những điểm đồng thuận ấy liên quan đến vấn đề căn bản của con người, vốn ngăn trở chúng ta đạt đến sự nhận thức tinh thần. Tên gọi của vấn đề này rất nhiều và thay đổi tùy theo từng truyền thống: ego bản ngă, con người bằng đất/ thịt, Con Người Tự Nhiên (Natural Man), phàm ngă (personality), bản ngă thấp (lower self), Nafs (tiếng Ả Rập), Nefesh (tiếng Do Thái), Ahamkâra (tiếng Phạn), Linh hồn Thú (Animal Soul), Tâm trí bản ngă (Egoic Mind), cái tâm vị kỷ, tâm mê vọng, v.v. Theo thuật ngữ của Thông Thiên Học, từ được dùng thường xuyên nhất là "self" (tiểu ngă), viết bằng chữ thường để phân biệt với "Self" (Đại Ngă), là bản chất phổ quát chung của mọi sự sống.

Mọi truyền thống chân chính hướng đến tinh thần đều đă khảo sát rất sâu sắc trung tâm cá nhân này, đồng thời đặt tên và mô tả những đặc tính cũng như tập quán của nó. Sự nh́n nhận chung về bản chất đầy tranh căi của tiểu ngă dựa trên nhận xét rằng mỗi chúng ta đều hoạt động từ một trung tâm cá nhân; và chính trung tâm ấy quy định cách chúng ta nh́n thế giới cũng như quan hệ với các tiến tŕnh của nó và với vạn vật sống trong thế giới đó. Các bậc hiền triết và những người quan sát tinh tế qua nhiều thời đại đều hiểu rằng việc chúng ta bám víu vào tiểu ngă cá nhân này và để nó điều khiển ḿnh đă giới hạn nghiêm trọng kinh nghiệm của chúng ta về một đời sống rộng lớn hơn, phong phú hơn và vĩ đại hơn, mà chúng ta đang ở ngay trong đó nhưng lại không nhận ra. Theo các Ngài, nguyên nhân là v́ sự chú ư của chúng ta luôn bị cố định vào việc phục vụ những ham muốn, nhu cầu và đ̣i hỏi của cái mà Rumi gọi là "vị vua đồi bại, chỉ biết say mê chính ḿnh." Mục tiêu Thứ Nhất của Hội Thông Thiên Học là "thành lập một hạt nhân của T́nh Huynh Đệ Đại Đồng không phân biệt." Thế nhưng, đó là một mục tiêu không thể đạt được khi tiểu ngă c̣n thống trị tư tưởng và hành vi của chúng ta. Vậy phải làm ǵ?

 

Phản ứng bằng Khổ hạnh

Cảm nhận rằng tiểu ngă chính là trở ngại ngăn cản sự kết nối sâu xa hơn với tinh thần đă dẫn đến nhiều quan điểm kỳ lạ. Trong nhiều con đường tinh thần, thân xác đă bị xem như một kẻ thù. Trong nỗ lực chế ngự hoặc khuất phục thân xác, người ta thường nhấn mạnh đến sự tiết dục và nhịn ăn; nhưng trong mọi truyền thống đều có những h́nh thức khổ hạnh cực đoan được một số người chấp nhận. Nhịn đói, tự đánh đập thân thể, nằm trên giường đinh, mặc áo dệt bằng lông thú và vô số h́nh thức hành xác đầy sáng tạo khác đă được thực hành với niềm tin rằng sự khinh miệt và hành hạ thân xác bằng cách nào đó sẽ làm giảm quyền lực của nó và dẫn đến sự hợp nhất với tinh thần. Trước khi thành Phật, Thái tử Siddartha cũng đă từng thử con đường ấy. Ngài hành hạ thân xác bằng cách tuyệt thực, đến mức gầy g̣ chỉ c̣n da bọc xương, mỗi chiếc xương đều nổi rơ dưới làn da. Trong quyết tâm của ḿnh, Ngài đă tiến sát đến cái chết và chỉ được cứu sống nhờ một thiếu nữ đến dâng sữa cúng dường cho một vị thần cây. V́ lầm tưởng Ngài chính là vị thần ấy, cô đă dâng sữa cho Ngài. Sau khi dần hồi phục sức lực, Ngài nhận ra rằng sự hành xác cũng tai hại chẳng kém ǵ sự buông thả dục lạc; v́ vậy Ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh để thực hành Con Đường Trung Đạo.

Chính việc chúng ta không thể giải thoát ḿnh khỏi sự bám chấp vào tiểu ngă đă khiến chúng ta mù ḷa trước những chiều sâu tinh thần của chính ḿnh. Nhưng cũng chính tiểu ngă ấy lại là con đường đưa chúng ta đến những đỉnh cao — chiếc thuyền chuyên chở chúng ta vượt qua sông biển. Thông qua các mối quan hệ cá nhân với gia đ́nh, bạn bè, thầy giáo, thậm chí cả thú vật, mà chúng ta trải nghiệm được năng lượng giải phóng và chiều sâu tận cùng của t́nh thương cùng ḷng từ bi. Thân xác và các giác quan mở ra cho chúng ta những kinh nghiệm về vẻ đẹp của Thiên nhiên, âm nhạc, hương thơm mùi vị, những điều có thể nâng chúng ta lên các trạng thái siêu nghiệm. Và tư tưởng của chúng ta, tuy thông thường chỉ xoay quanh bản thân, vẫn có thể vươn lên những tầng mức chạm đến tinh thần.

V́ sao bạn bất hạnh?

Một vị Đạo sĩ đương đại đă từng nêu một câu hỏi mang tính tu từ chữ nghĩa rồi tự trả lời. Câu hỏi rất đơn giản: "V́ sao bạn bất hạnh?" Và câu trả lời của ông là: "Bởi v́ 99% tư tưởng của bạn đều hướng về chính bản thân, bản ngă ḿnh (your self), trong khi thật ra chẳng hề có một cái 'ḿnh' (self) nào cả." Đó là một phát biểu rất khéo léo, nhưng cũng vô cùng sâu sắc và đáng để suy ngẫm nghiêm túc. Phần lớn tư tưởng của chúng ta đều xoay quanh chính ḿnh; nhưng ở tận đáy sâu, liệu có thể nào cái mà chúng ta gọi là "ḿnh" (self) ấy thật sự không hề tồn tại?

Câu hỏi và câu trả lời ấy xuyên suốt qua mọi truyền thống tinh thần. Trong mỗi truyền thống đều có sự nhận thức về một tiểu bản ngă (self), mà chúng ta đồng hóa cái ngă đó với chính ḿnh. Trong h́nh ảnh ẩn dụ trong kinh thánh, nó thường được mô tả như một con người đang sống xa quê hương, bị tách ĺa khỏi cội nguồn thực sự của ḿnh. Trong Kinh Thánh có câu chuyện về đứa con hoang đàng, rời bỏ nhà cha để chịu đau khổ nơi xứ xa lạ. Trong Phật giáo có Bánh xe Sinh tử (Bhavachakra), nơi các chúng sinh cứ măi luân chuyển qua những lần tái sinh lặp đi lặp lại dưới sự chi phối của vô minh. Trong tất cả các truyền thống ấy đều có ư niệm về một tiểu ngă bằng cách nào đó không nhận biết bản tính sâu xa của ḿnh và không thể ḥa giải với một Thực tại cao cả hơn. Chúng ta thường nghĩ đến self với chữ s viết thường, nhưng c̣n có Self với chữ S viết hoa — Tâm Thức Đại Đồng, Thần tính, hay Thượng Đế. Có tiểu ngă cá nhân, và rồi có Đấng Ấy (That). Các truyền thống tinh thần, bằng cách này hay cách khác, đều cố gắng bắc một nhịp cầu nối liền khoảng cách giữa hai thực tại ấy. Bản Tuyên ngôn Sứ mạng của Hội Thông Thiên Học chỉ cho chúng ta hướng đến "sự chuyển hóa tinh thần của chính ḿnh" (spiritual self transformation).

 

Thực Sự Có Bản Ngă Không?

Dựa trên cơ sở nào mà người ta có thể nói rằng bản ngă (self) — khía cạnh trực tiếp nhất, hiển nhiên nhất của đời sống chúng ta — lại không hiện hữu? Nhiều người khi nói về chính ḿnh thường đưa ngón tay chỉ vào ngực để biểu thị "tôi" hay "Ta". Thể xác là điều không thể phủ nhận và luôn hiện diện như một phương diện nổi bật nhất của bản ngă. Xét trên nhiều phương diện, nó giống như mặt trời, với lực hấp dẫn giữ cho các hành tinh quay quanh nó. Tất cả chúng ta đều ư thức được ḍng chảy của tư tưởng, cảm xúc và t́nh cảm, những yếu tố phần lớn tạo nên con người mà ta cho là ḿnh. Vậy làm sao có thể nói về người bạn đồng hành quen thuộc và thường hằng ấy rằng: "Nó, cái bản ngă này không hề tồn tại"? Rơ ràng bản ngă quả thật hiện hữu, nhưng cũng giống như một đám mây, thực tại của nó chỉ là tạm thời và tùy thuộc vào các điều kiện. Muốn một đám mây thành h́nh th́ nhiều điều kiện phải hội đủ: lượng hơi nước thích hợp trong bầu khí quyển, nhiệt độ và độ cao kết hợp với nhau tạo nên một h́nh thể tồn tại trong một khoảng thời gian. Trong khi những điều kiện ấy c̣n duy tŕ, đám mây có h́nh dạng, có thể nh́n thấy, chuyển động trên bầu trời, mang mưa hoặc bóng mát xuống mặt đất. Rồi đến lúc nó tan biến, mọi thành phần của nó ḥa tan trở lại vào môi trường bao quanh. V́ vậy, có thể nói đám mây là có thật, nhưng chỉ chừng nào những điều kiện liên kết ấy c̣n tồn tại. Nó có thật, nhưng chỉ là một thực tại tương đối.

 

Quan điểm của Thông Thiên Học về Bản Ngă

Trong Thông Thiên Học, những điều kiện tạo nên thực tại của bản ngă được mô tả bằng nhiều thuật ngữ vay mượn từ các truyền thống tinh thần Đông và Tây. Trong Ch́a Khóa Thông Thiên Học (The Key to Theosophy), H. P. Blavatsky nhận xét về giáo lư Ngũ Uẩn của Đức Phật — Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức — và đánh đồng tất cả ngoại trừ Thức Consciousness với Tứ Hạ Lower Quaternary, (gồm bản ngă được cấu thành bởi thể xác, các năng lượng, dục vọng và trí năng bị dục vọng chi phối. Bà c̣n tiến xa hơn khi tŕnh bày cấu tạo của con người. Ngay phần mở đầu của Giáo Lư Bí Truyền (The Secret Doctrine), HPB mô tả nhân loại là điểm hội tụ của ba ḍng tiến hóa: tinh thần, trí tuệ và vật chất:

 

Mỗi một trong ba hệ thống ấy đều có những định luật riêng của ḿnh nó, và được cai quản, hướng dẫn bởi những nhóm khác nhau của các vị Dhyani hay "Logoi" cao cả nhất. Mỗi hệ thống đều được biểu hiện trong cấu tạo của con người, là Tiểu Thiên Địa của Đại Thiên Địa; và chính sự hợp nhất của ba ḍng tiến hóa ấy nơi con người đă làm cho con người phức hợp như con người hiện nay.

Nhưng bản ngă mà chúng ta tạo ra trong cơi con người này lại là một điều hơi khác. Nó là một cấu trúc tâm lư, qua đó chúng ta hoạt động.

 

Ngôi Nhà của Bản Ngă

Ở một khía cạnh nào đó, bản ngă giống như một ngôi nhà. Có người chỉ sống trong một căn pḥng; có người ở trong một căn hộ; có người ở trong một dinh thự hay cung điện. Dù lớn hay nhỏ, đó vẫn là không gian mà ta cư ngụ. Chúng ta trang trí nó, tô điểm nó, bảo vệ nó. Ta mua bảo hiểm để pḥng mất mát. Ta lắp đặt hệ thống báo động để canh giữ nó. Đó là nơi ta tích lũy tài sản, nơi ta trải nghiệm niềm vui và đau khổ, nơi ta sống rồi cuối cùng cũng chết.

Nhưng điều ǵ thực sự xác định nên không gian ấy? Sau cùng, chính những bức tường là yếu tố định nghĩa nó — chính những ranh giới bao bọc lấy nó. Nếu ta tự hỏi: Điều ǵ sẽ xảy ra nếu những bức tường ấy bị dỡ bỏ? Th́ lúc ấy ta đă bắt đầu tiến đến trọng tâm của cuộc truy tầm vấn tinh thần.

 

Neti, Neti: Tiến Tŕnh Giải Cấu trúc Căn Tính

Trong tu tập truyền thống có câu neti, neti — nghĩa là "Không phải cái này, không phải cái kia." Đó là một tiến tŕnh giải cấu, dỡ bỏ cấu trúc, trong đó người hành giả khảo sát từng thành phần cấu tạo nên bản ngă. "Thể xác này có phải là ta không?" "Các cảm giác hay cảm xúc này có phải là ta không?" "Những tư tưởng hay cái tâm trí năng này có phải là ta không?" Chúng ta đặt câu hỏi, kiểm nghiệm câu trả lời của ḿnh, rồi từng lớp một của căn tính dần dần rơi rụng. Không phải cái này. cũng không phải cái kia.

Tiến tŕnh ấy rất giống như bóc từng lớp của một củ hành. Nếu kiên tŕ cho đến cùng, cuối cùng chỉ c̣n lại một lớp sau hết. Và khi lớp ấy cũng được bóc đi, điều ǵ c̣n lại? Có người nói rằng chẳng c̣n ǵ cả. Có người khác lại nói rằng điều c̣n lại chính là điều vốn luôn hiện hữu từ trước đến nay: không gian vô hạn, bất khả phân chia và hiện diện khắp nơi. Chính chúng ta là những kẻ dựng lên những ngôi nhà nhỏ bé ấy, rồi tưởng rằng khoảng không gian của ḿnh — bản ngă của ḿnh — không biết làm sao lại tách biệt khỏi tất cả những khoảng không khác.

Và rồi câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào để giải trừ những bức tường giam hăm ấy? Làm thế nào để làm suy giảm quyền lực của bản ngă, hay thậm chí khiến nó tan biến? Đây chính là nơi con đường tinh thần bắt đầu, cùng với tất cả những giáo huấn của nó, kỷ luật và phương pháp tu tập của nó. Có bản ngă cá nhân, và có Bản Ngă đại đồng; nhưng ở giữa hai điều ấy là một trạng thái thường được gọi là "vô ngă" (no-self). Chính trạng thái vô ngă ấy là cây cầu đưa đến Đại Ngă, Đại đồng và không có tính cá nhân.

 

Tâm Trí Là Bức Tường Ngăn Cách

Trong Tiếng Nói Vô Thinh (The Voice of the Silence), HPB chỉ rơ rằng chính tâm trí mới là vấn đề: "Tâm trí là kẻ sát hại Thực Tại." Tâm trí phân cách chúng ta khỏi Đại Ngă, v́ thế: "Chúng ta phải giết kẻ sát nhân ấy."

Phật giáo cũng đưa ra những giáo huấn tương tự. Trong Lục độ Ba-la-mật (Pāramitā) hay hoàn hảo, đức hạnh cuối cùng là Bát-nhă (Prajñā) — Trí tuệ. Nhưng trí tuệ ở đây không đơn giản chỉ có nghĩa là hiểu biết về sự vật. Theo nhiều phương diện, nó gần như mang ư nghĩa ngược lại. Trí tuệ bắt đầu bằng sự nhận ra tánh Không — rằng không có bất cứ sự vật nào ǵ sở hữu một hiện hữu độc lập, tự thân. Lấy chiếc ghế làm ví dụ, chiếc ghế vốn không phải là một "chiếc ghế". Điều ǵ khiến nó trở thành chiếc ghế? Có phải những cái chân? Hay gỗ? Hay h́nh dạng của nó?

 

Khi khảo sát sâu hơn, ta khám phá rằng mọi sự đều được cấu thành bởi vô số yếu tố tương thuộc lẫn nhau. Gỗ sinh trưởng từ một cái cây được nuôi dưỡng bởi đất; đất lại được h́nh thành từ sự phân ră của vô số sinh vật. Mưa tưới nước cho cây. Ánh nắng nuôi sống nó. Người thợ mộc tạo h́nh nó. C̣n một người khác lại chế tạo dụng cụ của người thợ mộc. Mỗi một vật thể đều là một phần của mạng lưới vô lượng nhân duyên và điều kiện. Đối với chính chúng ta cũng hoàn toàn như vậy. Đă hơn một trăm năm kể từ khi khoa học hiện đại từ bỏ quan niệm về "nguyên tử tối hậu", tức đơn vị vật chất cuối cùng và bất khả phân chia, để rồi khám phá ra những hạt hạ dưới nguyên tử ngày càng vi tế hơn. Không hề có một đơn vị vật chất cô biệt lập, tối hậu và hoàn toàn độc lập. Mọi sự đều hiện hữu trong mối tương duyên tương thuộc. Nếu chúng ta thật sự có thể thấu triệt điều ấy, sự kiểm soát của bản ngă có lẽ sẽ dần buông lỏng. Khi ấy, chúng ta sẽ thấy rằng tất cả những ǵ ta gọi là "tôi" đều là sản phẩm của vô số chúng sinh, vô số lực tác động và vô số tầng mức ư thức cùng tham dự vào một tiến tŕnh chung.

Chỉ có chết mới có cái Đại ngă

Ḍng cuối cùng trong Lời nguyện của Thánh Phanxicô diễn tả ư niệm này một cách thật đẹp:

“Chính khi chết đi [đối với bản ngă] ta mới thức tỉnh vào sự sống vĩnh cửu.”

Không phải cái chết của thân xác, mà là chết đi đối với bản ngă. Bản ngă đă dựng lều “cái tôi”. Khi nó tan ră, th́ sự tái sinh vào sự sống vĩnh cửu, vào Thần tính, vào tâm thức đại đồng, vào Đại Ngă (Self) mới diễn ra. Điều này đặt ra một câu hỏi thực tiễn: Làm thế nào chúng ta có thể tham dự vào tiến tŕnh chết đi của bản ngă? Các giáo huấn tinh thần đưa ra nhiều cách tiếp cận khác nhau.

Trong bài tiểu luận What is Truth? (Chân lư là ǵ?), HPB viết rằng tiểu ngă phải bị làm cho tê liệt th́ đời sống nội tâm mới có thể được trải nghiệm. Bà nói đến việc “làm tê liệt những dục vọng của nhân cách thấp” — không phải là bỏ đói thân xác, mà bỏ đói, không nuôi dưỡng những khuynh hướng và ham muốn vốn làm gia tăng bản ngă của cái tôi.

Trong Ánh Sáng Trên Đường Đạo (Light on the Path), ngôn từ c̣n mạnh mẽ hơn nữa. Một trong những lời chỉ dạy được nhấn mạnh lặp đi lặp lại là: “Hăy diệt trừ…” Hăy diệt trừ dục vọng. Hăy diệt trừ tham vọng. Hăy diệt trừ ư nghĩ về sự chia rẽ phân ly.

Thế nhưng, ngay lập tức một vấn đề nảy sinh: Ai là người đang thực hiện việc diệt trừ ấy? Ai là người đang bỏ đói bản ngă? Chính bản ngă lại được yêu cầu tham gia vào sự giải thể của chính  ḿnh. Cái ngă được huy động để làm cho chính cái ngă im lặng. Điều đó có thực sự khả thi không? Nghịch lư này xuất hiện xuyên suốt các truyền thống tinh thần. Trong biểu tượng của Phật giáo, Luân hồi (Samsāra) là bánh xe được duy tŕ bởi vô minh; và chính vô minh ấy đưa chúng ta đến niềm tin rằng cái ngă riêng biệt là có thật và duy tŕ cái ngă riêng biệt này

 

Câu Hỏi Bất Khả Thi

Nhà thần bí người Mỹ Joel S. Goldsmith là tác giả của nhiều tác phẩm. Lời đề tặng trong tất cả các sách của ông đều trích một câu trong Thánh Vịnh của Kinh Thánh, trực tiếp nói đến nghịch lư này:

“Nếu Chúa không xây nhà, th́ những người xây cất chỉ lao nhọc uổng công.”

Nếu cấu trúc của đời sống chúng ta không được xây dựng bởi một ư thức hợp nhất với Thần linh tính, th́ mọi nỗ lực của con người cũng chỉ là một công tŕnh khác của bản ngă mà thôi.

Jiddu Krishnamurti tiếp cận vấn đề theo một cách khác. Trong loạt bài nói chuyện được tập hợp thành The Impossible Question (Câu hỏi bất khả), ông cho rằng sự chuyển hóa đ̣i hỏi phải đặt ra những câu hỏi mà không thể t́m được lời giải trong phạm vi giới hạn của bản ngă, của cái đă biết. (giới hạn của bản ngă là giới hạn của cái trí. LND) Một câu hỏi như thế là: Liệu tâm trí có thể tự giải thoát chính ḿnh không? Liệu tâm trí có thể tự làm trống rỗng mọi cái đă biết — không phải bằng nỗ lực cá nhân hay sự kiểm soát của ư chí, mà một cách tự phát, tự nhiên, không có sự can thiệp của bản ngă? Chỉ riêng việc đặt ra câu hỏi ấy cũng đă bộc lộ tính bất khả thi của nó. Làm sao “tâm trí của tôi” có thể thoát khỏi mọi điều kiện hóa mà không cần có “tôi” làm điều ǵ đó?

Có lẽ câu trả lời cho câu hỏi bất khả thi này lại chính là một câu hỏi khác. Có phải cây non phá vỡ lớp vỏ hạt giống và lớn lên là nhờ bản ngă chăng? Có phải gà con cứ măi mổ cho đến khi vỏ trứng nứt ra là do tư tưởng hay động cơ cá nhân chăng? Sau một thời gian dài chuẩn bị và tăng trưởng âm thầm, cây non và gà con xuất hiện; thế giới khép kín của hạt giống và vỏ trứng được bỏ lại phía sau, không phải do ư chí của bản ngă, mà v́ đó là điều mà Sự Sống đ̣i hỏi khi thời điểm đă đến. Không có một quyết định nào. Không có một kế hoạch nào. Không có sự lựa chọn nào cả. Cũng như cây non ngủ yên trong hạt giống và phôi thai nằm trong quả trứng, con người cũng trải qua một thời kỳ thai nghén tưởng như bất động; trong thời gian ấy, một nguồn năng lượng và trí tuệ ngày càng tích tụ và lớn dần, để rồi bùng nở thành một sự sinh ra mới vào một đời sống cao rộng hơn — vượt khỏi lớp vỏ, vượt khỏi bản ngă.

Ramana Maharshi nhiều lần nêu lên câu hỏi: “Tôi là ai?”

Thoạt đầu, chúng ta trả lời theo những cách thông thường: thân xác này, nhân cách này, quá khứ này. Nhưng khi sự truy vấn đi sâu hơn, ta nhận ra rằng bất cứ điều ǵ có thể được quan sát th́ đều không thể là Đại Ngă (Self) chân thực.

Nếu tiếp tục đào sâu đủ mức vào câu hỏi ấy, cuối cùng ngay cả người quan sát độc lập cũng bắt đầu tan biến. Cái “tôi” không c̣n tồn tại như một thực thể riêng biệt nữa. Chính tại điểm ấy, kinh nghiệm về vô ngă trở nên khả hữu. Và cũng chính tại điểm ấy, người ta nói đến giác ngộ.

 


 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS