|
|
HOME T̀M HIỂU NHẬP MÔN sách TIỂU SỬ BẢN TIN H̀NH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 NỮ THẦN ISIS
|
|
TIẾT 50 – HIỆU ĐÍNH
THÊM MỘT VÀI ĐIỀU HIỂU LẦM NỮA
Trích Giáo Lư Bí Truyền Quyển 5 Tác giả H.P.Blavatsky Bản dịch www.thongthienhoc.com |
|
TIẾT 50 – HIỆU ĐÍNH THÊM MỘT
VÀI ĐIỀU HIỂU LẦM NỮA
Những Giáo lư cao cả của Đức
Phật chỉ được các Điểm đạo đồ trân trọng - Phật giáo không được hiểu đúng
đắn - Những Lời dạy của Đức Phật có một Ư nghĩa kép - Bảy và Mười hai Cấp
bậc của Đại đoàn Thánh sư dựa vào Ba Cấp bậc Chính: Độc giác Phật, Bồ tát và
Phật “Toàn giác” - Các
Giáo lư của Đức Long thọ và Vô trước -
Trạng thái cái Chân đế là một Trạng thái vượt lên mọi Ảo tưởng - Các Hệ
thống Yoga Bí pháp đều có tính cách Nội môn - Yoga Bí pháp và
phái của Vishishtādvaitas
Tây Tạng - Pháp thân Bồ tát không thể sai lầm khi
thật sự nhập Đại định - Đạt tới Con đường Giải thoát bằng Tri thức (Điểm
đạo) - các Đông phương học giả
Duy vật - Nhật kỳ của Phật giáo Tây Tạng.
TIẾT 50
HIỆU ĐÍNH THÊM MỘT VÀI ĐIỀU HIỂU LẦM NỮA
Cho dù có rất nhiều quan điểm sai lầm và điều lầm
lạc - thường là rất tức cười đối với người nào có hiểu biết chút ít về các
giáo lư chân chính - về Phật giáo nói chung và Phật giáo Tây Tạng nói riêng,
song mọi Đông phương học giả đều đồng ư rằng hoài băo tối thượng của Đức
Phật là việc dắt dẫn con người đến chỗ giải thoát bằng cách dạy cho họ thực
hành đức hạnh và sự thanh khiết cao quư nhất, bằng cách giúp cho họ thoát ly
khỏi việc phục vụ cho thế giới hăo huyền này, và không c̣n đắm đuối vào cái
điều c̣n hăo huyền hơn nữa (v́ rất là vô thường và không có thật) đó là:
thân xác của ḿnh. Thế th́ một cái đời sống phẩm hạnh luôn luôn tuân theo
giới luật và đau khổ có ích chi nếu kết quả duy nhất của nó rốt cuộc chỉ là
sự hủy diệt? Nếu ngay cả việc thành tựu được cái sự hoàn hảo tối thượng
khiến cho bậc Điểm đạo đồ nhớ được toàn bộ chuỗi kiếp sống đă qua của ḿnh
(túc mạng thông) và tiên tri được các kiếp sống sắp tới, bằng cách phát
triển trọn vẹn được đạo nhăn nơi nội tâm và có được cái kiến thức suy ra
nguyên nhân của mọi chu kỳ luân hồi
[[1]]
- cuối cùng khiến cho ngài trở nên không hiện hữu và chẳng có ǵ hơn thế
nữa, th́ toàn bộ hệ thống này thật là ngu độn và chủ nghĩa khoái lạc của
Epicure c̣n có giá trị về mặt triết học hơn hẳn một thứ Phật giáo như
thế. Kẻ nào không thể hiểu được sự khác nhau tế nhị thế nhưng sâu sắc biết
bao giữa kiếp sống trong một trạng thái vật chất phàm trần và kiếp sống
trong một trạng thái hoàn toàn tâm linh - sự sống của Tinh thần hoặc Linh
hồn - kẻ đó sẽ chẳng bao giờ thẩm định được trọn vẹn giá trị của những lời
giáo huấn cao cả của Đức Phật, ngay cả dưới dạng công truyền. Kiếp sống cá
nhân là nguyên nhân của mọi đau khổ và phiền năo, cuộc sống vĩnh hằng tập
thể và vô ngă có biết bao nhiêu là niềm hoan lạc miên viễn và phúc lạc
thiêng liêng mà chẳng nhân quả nào làm mờ ám ánh sáng chói lọi của nó. Và
niềm hi vọng về một cuộc sống vĩnh hằng như thế là chủ điểm của Phật giáo.
Và nếu người ta bảo rằng không hề có kiếp sống vô ngă mà chỉ có sự hủy diệt
(một số người Pháp nghiên cứu về luân hồi quả quyết như vậy) th́ ta ắt hỏi
ngược lại: Liệu có ǵ khác nhau chăng trong những tri thức tâm linh của một
Chơn ngă (cho dù chơn ngă nhập vào Niết Bàn và chỉ nhớ các kiếp sống của
riêng ḿnh - theo các nhà nghiên cứu về luân hồi hiện đại th́ có tới 100.000
kiếp sống - hay là cho dù khi hội nhập hoàn toàn vào trạng thái Đại Phạm
thiên, Chơn ngă hiệp nhất với Toàn thể, hiệp nhất với tri thức tuyệt đối và
cảm xúc tuyệt đối của tập thể loài người đại biểu? Một khi mà Chơn ngă đó
chỉ sống mười kiếp cá nhân riêng rẽ th́ Chơn ngă tất yếu phải đánh mất bản
ngă của ḿnh và bị trộn lẫn - có thể nói là ḥa tan - với mười bản ngă này.
Quả thật dường như là chừng nào mà cái điều bí nhiệm ghê gớm này c̣n là một
thách đố đối với thế giới những nhà tư tưởng phương Tây và nhất là đối với
các Đông phương học giả, th́ các nhà Đông phương học càng khó ḷng mà giải
thích Sự thật một cách tốt đẹp.
Trong số những triết học tôn giáo đang hiện hữu
th́ người ta ít hiểu được Phật giáo nhất, những ông Lassens, Webers,
Wassiliefs, Burnoufs và Juliens, ngay cả “những chứng nhân” của Phật giáo
Tây Tạng như Csoma de Köros và Schlagintweits cho đến nay đă chỉ làm cho mọi
chuyện đă rối càng rối thêm. Không có một người nào trong đám người này đă
từng nhận được thông tin từ một nguồn tin Gelugpa chân chính: mọi người đều
khẳng định Phật giáo từ những mảnh tri thức rời
rạc mà người ta góp nhặt được ở các tu viện Lạt ma giáo nơi biên giới Tây
Tạng, ở những xứ đông dân gồm những người Bhutān
và những người Lepchas và những vị Böns và
những vị Dugpas mũ đỏ dọc theo triền núi Hi mă
lạp sơn. Người ta đă mua hàng trăm quyển sách của những người Burats, các
Shamans và những Phật tử Trung Quốc, người ta đă đọc và dịch, đă chú giải và
đă giải thích lệch lạc theo những thông tin có tính chất tập tục bất di bất
dịch. Các trường Bí truyền ắt không xứng danh đó nữa nếu kho tài liệu và
giáo lư của các trường này biến thành tài sản của những nhà nghiên cứu tôn
giáo phàm phu tục tử chứ đừng nói đến là thành tài sản của công chúng ở
phương Tây. Điều này cũng hợp với luận lư và lương tri thông thường thôi.
Tuy nhiên đây là một sự kiện mà các Đông phương học giả chẳng bao giờ chịu
thừa nhận: v́ thế họ cứ măi miết làm; nghiêm chỉnh thảo luận về những công
đức tương đối và những điều phi lư của các ngẫu tượng, những “bảng bói
toán”, những “h́nh ma phương Phurbu”
[[2]]
về “con rùa ma phương”. Chẳng có thứ nào dính dáng tới Phật giáo chân chính
Gelugpa hoặc ngay cả của những giáo phái có học
thức nhất trong các giáo phái Sakyapa và Kadampa.
Người ta thú nhận rằng mọi “tấm” như thế và những bảng hiến tế như thế,
những Chinsreg (tế thần bằng cách đốt sớ), những ṿng ma phương v.v. . . đều
được kế thừa của những người Sikkhim, những người Bhutān và những người phía
Đông Tây Tạng, đó là những vị Böns và Dugpas. Thế mà người ta dám bảo đây là
đặc trưng của Phật giáo Tây Tạng! Điều này chẳng khác nào xét đoán cái triết
không thực của Giám mục Berkeley sau khi nghiên cứu về Kitô giáo qua việc
sùng bái ngẫu tượng như tṛ hề
của Neapolitan lazzaroni, nhảy một vũ điệu trước
ngẫu tượng của Thánh Pip, hoặc mang cái tượng dương vật bằng sáp của các
Thánh Cosmo và Domiano ở Tsernie.
Quả thật là những vị Thanh văn
(Shrāvakas) nguyên
thủy và những Sa môn (Shramanas) đă bị biến chất và nhiều giáo phái của đạo
Phật chỉ c̣n là giáo điều và nghi thức. Cũng giống như mọi giáo huấn Bí
truyền bán công khai khác, những lời của đức Phật đều mang một ư nghĩa kép,
và mọi giáo phái đều dần dần tự cho rằng ḿnh là giáo phái duy nhất biết
được nghĩa đúng đắn, và thế là ăn đứt các giáo phái khác. Sự chia rẽ len lỏi
vào và càng ngày càng khuếch đại giống như một khối ung thư gớm ghiết trên
cơ thể lành lặn của Phật giáo nguyên thủy. Hệ thống Đại thừa của Đức Long
Thọ đối nghịch với lại hệ thống Tiểu thừa, và ngay cả trường phái
Yogāchārya của Đức Vô trước (Āryāsanga) cũng bị biến thái khi những cuộc
hành hương thời sơ khai từ Ấn Độ đến bờ biển Mansarovara mang theo một đám
du thủ du thực chế nhạo các vị đạo sĩ Yoga và các nhà fakirs, đám này thích
làm như vậy hơn là làm việc. Việc có một t́nh cảm tiêu cực, ghét đời và việc
thực hành một cách tẻ nhạt và vô ích như sổ tức (đếm hơi thở ra và hít vào)
dùng làm phương tiện để tạo ra sự yên tâm tuyệt đối hoặc là phương tiện để
tham thiền, đă khiến cho trường phái này đi lạc sang lĩnh vực Hatha Yoga và
khiến cho nó được kế thừa những vị Tīrthikas
của Bà la môn giáo. Và mặc dù mọi trường phái đều
có cùng quả vị là Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm và A la hán
[[3]],
song giáo lư của mỗi trường phái khác nhau rất nhiều và không trường phái
nào đạt được thực sự Abhijnas (ngũ thông).
Một trong những sai
lầm chính của các Đông phương học giả khi phán đoán về “bằng chứng nội tại”
- họ gọi như vậy - đó là việc họ giả sử rằng Bích Chi Phật, Bồ Tát và Đức
Phật “Toàn giác” là những sự thêm thắt sau này của đạo Phật. Đó là v́ bảy và
mười hai cấp trong Huyền giai các Cao đồ đều dựa vào ba quả vị chính yếu
này. Bích Chi Phật (Pratyeka Buddhas) là những vị đă đạt được Minh triết (Bồ
đề của chư Phật) nhưng không giảng dạy Pháp lư
[[4]].
Các vị Bồ Tát (Bodhisattvas) mang xác người, có thể nói là những ứng viên
của quả vị Phật toàn giác (trong những kiếp tới) và họ có quyền dùng các
quyền năng của ḿnh ngay từ bây giờ, nếu cần. Các vị Phật “toàn giác” chỉ là
các bậc Điểm đạo đồ “toàn bích”. Mọi Đấng này đều là người chứ không phải là
những Thực thể đă thoát xác mà kinh điển công truyền Tiểu thừa giảng dạy.
Người ta thấy được tính cách đúng đắn của các ngài trong những
sách bí mật của Lugrub tức Đức Long Thọ, tổ sư của hệ thống Đại thừa, nghe
nói Đức Long Thọ đă được các Nāgas điểm đạo (Nāgas là những “con Rắn” thần
thoại, hồng danh bí mật của một Điểm đạo đồ cao cấp tức Mahātmā). Trong kho
sử liệu của Trung Quốc có truyện ngụ ngôn cho rằng Đức Long Thọ coi giáo lư
của ngài đối nghịch với giáo lư của Đức Phật Thích Ca, cho tới khi ngài khám
phá ra rằng theo các Nāgas th́ giáo lư này chính là giáo lư mật truyền của
Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Câu chuyện nêu trên chỉ là một ẩn dụ và có nguồn
gốc là sự dung ḥa các trường phái bí mật của Bà la
môn giáo nơi Hi mă lạp sơn với các giáo lư Bí
truyền của Đức Phật Thích Ca, cả hai bên thoạt đầu đều có mục đích cạnh
tranh với nhau. Trường phái bí mật của Bà la môn giáo là cha đẻ của mọi
trường phái khác, đă được xác lập xuyên Hi mă lạp sơn từ biết bao thời đại
trước khi Đức Thích Ca Mâu Ni xuất hiện. Đức Phật Thích Ca cũng là đệ tử của
trường phái này; chính các vị Thánh hiền Ấn Độ này đă dạy cho ngài
chân lư về Tính không Shūnyatā (tính không và tính vô thường của mọi sự việc
phù du trên trần thế) và các bí pháp về Bát nhă ba la mật đa (tức tri thức
giúp ta vượt qua bờ bên kia) để rồi cuối cùng khiến cho bậc “Toàn giác” thể
nhập vào lănh địa của Thực tại Duy nhất, nhưng chư La hán không phải là Đức
Phật. Một số vị La hán c̣n có tham vọng và họ đă sửa đổi giáo lư sau những
kỳ kiết tập kinh điển vĩ đại và chính v́ có những điều “dị giáo” này mà
Trường phái Mẹ nguyên thủy thoạt tiên không cho các trường phái kia ḥa nhập
vào ḿnh khi cơn pháp nạn bắt đầu trục xuất Huyền giai Bí nhiệm ra khỏi Ấn
Độ. Nhưng khi cuối cùng, hầu hết những vị này đều chung chịu sự hướng dẫn và
kiểm soát của các Đạo tràng chính th́ trường phái Yogāchārya của Đức Vô
Trước đă ḥa lẫn vào Chi bộ xưa nhất. Đó là v́, từ lâu rồi ở đấy đă có chứa
niềm hy vọng và ánh sáng cuối cùng của thế gian để cứu độ nhân loại. Có rất
nhiều tên gọi trường phái và vùng đất ấy, hiện nay các nhà Đông phương học
coi như tên gọi của vùng
đất ấy là tên gọi thần thoại về một xứ sở thần
thoại. Tuy nhiên, chính từ vùng đất bí nhiệm này mà tín đồ Ấn giáo mong đợi
hóa thân Kalki, người Phật tử mong đợi Đức Di Lặc, tín đồ Bái Hỏa giáo mong
đợi Đức Soshios, tín đồ Do Thái giáo mong đợi đấng Cứu thế Messiah, cũng như
là tín đồ Ki tô giáo mong đợi đấng Christ xuất hiện từ đó - miễn là y có
biết chuyện này.
Ở
đó và chỉ ở đó mới có Đại Bát Niết Bàn, Paranishpanna (Yong
Grüb),
sự hiểu biết toàn bích trọn vẹn (viên giác) về Hữu và Vô, sự Tồn tại chân
thực thường trụ nơi Tinh thần, ngay cả trong khi Tinh thần dường như vẫn c̣n
ngự trị nơi thể xác, mọi cư dân của cơi giới đó đều “Vô ngă” v́ ngài đă trở
thành một Chơn ngă Toàn bích. Sự trống rỗng của các ngài là “tự tại và toàn
bích” - nếu như có những mắt phàm cảm giác và tri giác được sự trống rỗng
này - v́ nó đă trở nên tuyệt đối; điều không thực được chuyển hóa
thành Thực tại vô điều kiện, và những thực tại của thế giới mà ta đang sống
tự thân nó đă tiêu tan thành mây khói. “Chân đế” (Dondam-pay-den-pa; tiếng
Bắc phạn: Paramārthasatya) đă chiến thắng được “tục đế” (tiếng Tây Tạng là
Kunza-bchi-den-pa; tiếng Bắc phạn là Samvritisatya); vậy là những cư dân của
cơi bí nhiệm này được giả định là đă đạt tới trạng thái mà thuật ngữ Thần bí
học gọi là Svasamvedanā (“sự phản ảnh tự phân tích”) và Paramārtha tức là
tâm thức tuyệt đối của cá nhân ḥa lẫn vào Chơn nhơn vô ngă, Chơn nhơn này
vốn vượt trên tất cả v́ vậy cũng vượt trên sự hăo huyền theo đủ mọi nghĩa.
Theo đầu môi chót lưỡi của mọi Phật tử th́ các
vị Phật và Bồ Tát “Toàn giác” của nó có thể giống
như là thuộc về thiên giới, v́ vậy không ai đạt tới được, trong khi mà những
hồng danh này có thể chỉ gợi ư chẳng được bao nhiêu cho tri thức đần độn của
kẻ phàm phu Âu Tây. Điều này cũng chẳng có nghĩa ǵ đối với những bậc mặc dù
c̣n ngự nơi thế gian này, song vẫn sống vượt ra ngoài và vượt xa trần thế
hăo huyền của ta! Bên trên các ngài chỉ có một lớp các Đấng đă nhập Niết
Bàn, nghĩa là Pháp thân (Chos-ku) tức là các Đấng nhập Niết Bàn vô dư
- Thần Khí - thanh khiết vô sắc.
[[5]]
V́ thế cho nên, đôi khi
các Bồ Tát mới xuất hiện trong các hóa thân Prul-pa-ku có dáng vẻ b́nh
thường để giáo hóa nhân loại. Có những hóa thân lâm phàm một cách hữu thức
cũng như vô thức.
Giống như những hệ thống khác, hầu hết các giáo lư thuộc hệ
thống
Yogāchārya, (hệ thống Đại thừa) đều có tính cách Bí truyền. Có lúc kẻ phàm
phu theo Ấn giáo và Phật giáo
sẽ có thể bắt đầu lấy từng mẩu Thánh kinh mà nghiên cứu nghĩa đen của nó.
Giáo dục đang được truyền bá nhanh chóng ở Á châu và người ta đă thực hiện
một vài sự toan tính như vậy theo chiều hướng này, để cho phía những tín đồ
Kitô giáo cũng phải chịu những cái kết quả đó một cách độc ác. Cho dù tín đồ
Ấn giáo và Phật giáo kết luận như thế nào đi chăng nữa th́ ư kiến của họ sẽ
chẳng bao giờ phi lư và bất công như một số thuyết mà tín đồ Kitô giáo đưa
ra để bác bỏ các thuyết của Ấn giáo và Phật giáo. Vậy là theo Spence Hardy
khi lâm chung, bậc La hán nhập Niết Bàn:
nghĩa là ngài không c̣n tồn tại nữa.
Và theo Thiếu tá Jacob th́
bậc Jīvanmukta,
đă bị thu hút vào trong Brahmā, nhập vào một sự
tồn tại vô ư thức và giống như gỗ đá.
[[6]]
Người ta đă cho thấy Shankarāchārya nói trong lời
nói đầu của Shvetāshvetara:
Một khi đă xuất lộ th́ trực quan ngộ đạo chẳng cần ǵ nữa để cho người ta có
thể nhận được kết quả của nó: tri thức thông thường chỉ cần biến đi
th́ trực quan ngộ đạo có thể xuất lộ rồi.
Người ta đă lập luận rằng chừng nào mà nhà Thông
Thiên Học c̣n sống th́ y có thể tùy ư làm thiện hay làm ác, mà không chuốc
lấy t́ vết nào cả, trực quan ngộ đạo hữu hiệu như thế đấy. Người ta c̣n quả
quyết rằng giáo lư về Niết Bàn chỉ gây ra những sự suy diễn vô luân và những
người theo thuyết Tịch tĩnh trong mọi thời đại đều bị gán cho là vô luân.[[7]]]
Theo Wassilief
[[8]]
và Csoma de
Körös
[[9]],
trường phái Prasanga đă chấp nhận một cách thức
kỳ lạ để
Suy diễn ra tính phi lư và tính sai lầm của bất
kỳ ư kiến bí truyền nào.
[[10]]
Những sự thuyết giải sai lạc này về triết thuyết Phật giáo đạt đỉnh cao với
vẻ huy hoàng hào nhoáng về một luận đề của trường phái Prasanga, theo đó:
Ngay cả vị La hán cũng đọa địa ngục nếu ngài nghi
ngờ bất cứ điều ǵ.
[[11]]
Vậy là khiến cho tôn giáo được tự do tư tưởng nhiều nhất trên thế giới trở
thành một hệ thống đức tin mù quáng. Sự “đe dọa” chỉ nhằm cái luật mà ai
cũng biết đó là: ngay cả một bậc Điểm đạo đồ cũng có thể thất bại và thế là
mục đích của ngài cũng hoàn toàn sụp đổ, nếu ngài chỉ cần nghi ngờ trong
chốc lát hiệu lực của phép thần thông mà ngài đạt được - mọi môn đồ kinh
Kabalah đều biết đây là a b c
của Huyền bí học.
Ta chẳng bao giờ có thể đối chiếu trong một lúc
giáo phái Ngo-vo-nyid-med par Mraba của Tây Tạng (“những kẻ chối bỏ sự tồn
tại” hoặc là “coi thiên nhiên là Hăo huyền”)
[[12]]
với một vài trường phái duy vật hoặc hư vô chủ nghĩa của Ấn Độ, chẳng hạn
như trường phái Chārvāka. Đây là những tín đồ Vedānta thuần thành - nếu họ
là một tín đồ nào đó - theo quan điểm của họ. Và nếu ta có thể so sánh
trường phái Yogāchāryas với (hoặc gọi trường phái này là) trường phái
Vishistādvaitis của Tây Tạng th́ Trường phái Prasanga chắc chắn là triết lư
Nhất nguyên (bất nhị) Advaita.
Nó được chia thành hai trường phái: một trường phái thoạt tiên do
Bhavaviveka sáng lập, đó là
Trường phái Svatāntrika Mādhyamika, c̣n Trường phái kia do Buddapālita sáng
lập nên; cả hai đều được chia làm các phần công truyền và bí truyền. Chỉ cần
thuộc về Trường phái Bí truyền là biết được bất kỳ điều ǵ về các giáo lư bí
truyền của giáo phái đó;
đây là những giáo lư có tính cách siêu h́nh và đầy triết lư hơn cả
Chandrakīrti (Dava
Dagpa) đă viết về giáo lư của Prasanga và công khai dạy giáo lư này; ông nói
huỵch toẹt rằng có hai cách để nhập vào Niết Bàn. Bất kỳ một người nào có
đức hạnh đều có thể nhập Niết Bàn nhờ vào Naljorbgonsum (tức là “tham thiền
bằng cách nhận thức về chính ḿnh”) tức là sự hiểu biết trực giác về Tứ diệu
đế, mà không cần thuộc về một ḍng tu hoặc đă từng được khai tâm. Trong
trường hợp này người ta coi đó là một điều dị giáo khi khẳng định rằng những
h́nh ảnh xuất lộ tiếp theo sau những cuộc tham thiền như thế tức là Vishna
(tri thức nội tại) không thể sai lầm (Namtog tức là những h́nh ảnh sai lầm)
v́ thật ra th́ chúng có thể sai lầm. Chỉ có A lại da
(Ālaya) v́ tồn tại một cách tuyệt đối và vĩnh
hằng, mới có thể có được tri thức tuyệt đối; và ngay cả bậc Điểm đạo đồ khi
ở trong hóa thân (Nirmānakāya)
[[13]]
cũng đôi khi có thể sai
lầm chấp nhận điều không đúng thay v́ chấp nhận
điều chân thật trong lúc ngài thăm ḍ Thế giới “vượt trên Nhân quả”. Đức Bồ
Tát ở trong Pháp thân (Dharmakāya) mới không thể sai lầm khi ngài đă thực sự
Nhập định Samādhi. A lại da tức Nying-po vốn là cội nguồn và nền tảng của
tất cả, mắt người không thể thấy được, và trí người không thể hiểu được, th́
A lại da chỉ có thể phản ánh phần phản ánh của nó chứ không phản ánh được
Chính nó. Như vậy, phần phản ánh đó sẽ được soi rọi trong gương giống như
mặt trăng soi xuống mặt nước trong trẻo và yên tĩnh chỉ nơi một cái trí của
Pháp thân không có đam mê, bất cứ một h́nh ảnh thoáng qua nào của vạn vật mà
cái trí nhận thức được đều làm méo mó sự phản ánh đó chẳng khác nào mặt nước
v́ xao động.
Tóm
lại, giáo lư này của Rāja Yoga dạy phần thực hành hai loại trạng thái
Samādhi. Một trong những “Con đường” này sẽ dẫn con người ta tới cơi cực lạc
tức Sukhāvatī hay Devachan; nơi đây con người vẫn được một hạnh phúc toàn
bích không bị pha trộn, nhưng vẫn c̣n liên hệ với kiếp sống cá nhân, c̣n Con
đường kia đưa tới việc hoàn toàn giải thoát khỏi những thế giới hăo huyền
của bản ngă và điều không phải là thực tại. Mọi người đều
có thể đi trên con đường thứ nhất và chỉ cần làm phước là đủ; người
ta chỉ đạt được con đường thứ hai - nhanh hơn gấp cả trăm lần - nhờ vào tri
thức (Điểm đạo). Như vậy là các tín đồ của Trường phái Prasanga gần gũi với
Phật giáo Bí truyền hơn là của Trường phái Yogāchārya; v́ quan điểm của họ
là quan điểm của những Trường phái bí mật nhất và người ta chỉ nghe thấy dư
âm của những giáo lư này trong tác phẩm Yamyangshapda, cũng như là
những tác phẩm khác đang được lưu truyền trong công chúng. Chẳng hạn như
trong các tác phẩm công truyền có tŕnh bày tính không thực của hai trong ba
phép chia thời gian, nghĩa là (a) chẳng có quá khứ mà cũng chẳng có tương
lai, v́ hai cách chia các thời gian này đều có liên quan tới hiện tại; (b)
ta chẳng bao giờ cảm giác hoặc tri giác được thực tại của các sự vật nếu
chưa từng có được Pháp thân; ở đây ta lại gặp một
khó khăn v́ thể “vô dư” này khiến cho vị Điểm đạo đồ nhập Đại Bát Niết Bàn,
Paranirvāna (nếu ta chấp nhận cách giải
thích công truyền theo sát từng chữ một) và nếu nhập được Đại Bát Niết Bàn
rồi th́ ta chẳng thể nào cảm giác hoặc tri giác ǵ hết. Nhưng rơ rệt là các
nhà Đông phương học không cảm thấy được sự cảnh báo nơi những điều
tiền hậu bất nhất như thế và họ cứ tha hồ suy đoán mà chẳng dừng lại để suy
nghĩ về điều này. Kho tài liệu về Thần bí học thật là mênh mông và nước Nga
v́ được tự do giao dịch với những người Burats, các Shamans và những người
Mông Cổ, cho nên mới mua được trọn cả những thư viện viết về Tây Tạng. Những
học giả vào lúc đó đă biết được hơn hết thảy. Tuy nhiên chỉ cần đọc điều mà
Csoma viết về nguồn gốc của Hệ thống
Kāla Chakra
[[14]]
hoặc là điều mà Wassilief viết về Phật giáo, th́ người ta cũng đủ từ bỏ mọi
hy vọng thấy rằng ḿnh đă có được “trái cấm”. Khi ta thấy Schlagintweit nói
rằng thần bí học của Tây Tạng không phải là Yoga:
Cái ḷng sùng tín trừu
tượng khiến cho ta đạt được những thần thông,
[[15]]
đó là Yoga theo định nghĩa của
Wilson, nhưng
có liên hệ trực tiếp tới phái Phù thủy Shamanism ở vùng Siberia và “hầu như
đồng nhất với các nghi thức Tāntrika; c̣n Zung của Tây Tạng chính là
Đà la ni (Dhāranis), c̣n Gyut chỉ là các Tantras - Tantras
thời trước Công nguyên được xét đoán theo các nghi thức Tāntrikas thời hiện
đại. Người ta dường như đă có lư khi ngờ rằng các nhà Đông Phương học duy
vật hành động chẳng khác nào những người bạn và những người đồng minh thân
cận nhất của các nhà truyền giáo. Điều ǵ mà các nhà địa lư không biết th́
dường như là không có địa điểm đó. Vậy là:
Người ta nói rằng Thần bí học bắt nguồn nơi một
xứ sở tuyệt vời là Sambhala . . . . , nhờ nghiên cứu cẩn thận Csoma
đă xác định xứ sở (thần thoại?) này vượt quá Sir Daria [Yaxartes] giữa Bắc
vĩ độ 450 và 500. Ở Ấn Độ, người ta biết tới nó lần
đầu tiên vào năm 965 sau Công nguyên, nó được du nhập từ Ấn Độ vào Tây Tạng
qua ngă Kashmīr vào năm 1.025 sau Công nguyên.[[16]]
“Nó” ở đây có nghĩa là “Dus-kyi Khorlo”, tức là
thần bí học của Tây Tạng. Chúng tôi nghe nói rằng đây là một hệ thống xưa
như trái đất mà ở Ấn Độ đă biết và thực hành trước khi Âu châu trở thành một
lục địa, thế mà người ta lại bảo nó chỉ “được biết lần đầu tiên” cách đây
chín hoặc mười thế kỷ! Bản văn trong các sách vở của nó dưới dạng hiện nay
có thể đă “bắt nguồn” thậm chí c̣n sau này nữa, v́ các giáo phái đă giả mạo
ra rất nhiều bản văn như thế để thích ứng với những chuyện hoang đường của
mỗi giáo phái. Nhưng ai đă từng đọc quyển sách nguyên bản Dus-kyi Khorlo mà
Đức Tsong Kha pa đă viết lại cùng với phần B́nh luận? Xét v́ bậc cải cách vĩ
đại này đă thiêu rụi mọi sách vở về thuật Phù thủy mà ngài sờ tới vào năm
1.387 và xét v́ ngài đă bỏ lại trọn cả tủ sách gồm những tác phẩm của chính
ḿnh - người ta chưa từng biết tới một phần mười của tủ sách này - cho nên
những lời phát biểu nêu trên có thể nói là quá sớm. Người ta cũng rất ưa
chuộng ư tưởng - theo giả thuyết thú vị mà Tu viện trưởng Huc đưa ra - cho
rằng Tsong Kha pa có được minh triết và thần thông nhờ giao tiếp với một
người lạ ở phương Tây, có “đặc điểm là mũi dài”. Chính vị Tu viện trưởng tốt
bụng tin rằng người lạ này là “một nhà truyền giáo Âu Tây; v́ thế cho nên
nghi thức tôn giáo ở Tây Tạng mới giống khá nhiều với cách phụng vụ của Công
giáo La Mă. Tuy nhiên, vị “Lạt ma Jehovah” lạc quan không hề nói ai là năm
người nước ngoài đă xuất hiện ở Tây Tạng vào năm 371 sau Công nguyên để rồi
biến mất cũng đột ngột và bí nhiệm như lúc tới, sau khi đă để lại cho Quốc
vương Thothori-Nyang-tsan những lời giáo huấn về cách dùng một vài thứ trong
chiếc rương nhỏ “từ trên trời rơi xuống” đúng vào lúc ngài có mặt trước đó
40 năm tức năm 331 sau Công nguyên.
[[17]]
Các nhà học giả Âu Tây thường lầm lộn một cách
tuyệt vọng về ngày tháng tính theo phương Đông, nhưng không có ở đâu mà sự
lầm lộn này lại lớn như trong trường hợp Phật giáo Tây Tạng. Vậy là trong
khi một số người chấp nhận một cách đủ chính xác rằng thế kỷ thứ bảy là lúc
Phật giáo được du nhập vào Tây Tạng th́ có những người khác - chẳng hạn như
Lassen và Koeppen đă cho thấy dựa vào uy quyền lớn lao, một đằng là sự xây
dựng một Tu viện Phật giáo ở trên sườn rặng núi
Kailās vào năm 137 trước Công nguyên
[[18]]
và một đằng là Phật giáo đă được xác lập ở bắc Punjāb vào năm 292 trước Công
nguyên.
Sự khác nhau mặc dù không đáng kể - chỉ có đúng
một ngàn năm thôi - song lại gây cho ta bối rối. Nhưng ta có thể dễ dàng
giải thích được điều này dựa vào Nội môn Bí giáo. Phật giáo - Nội môn Bí
giáo mật truyền của Đức Phật - được xác lập và bén rễ vào thế kỷ thứ bảy sau
Công nguyên; trong khi đó Phật giáo Bí truyền chân chính tức cốt lơi, cái
thần của giáo pháp của Như Lai đă được chư La hán mà Đức Phật tuyển chọn
mang tới nơi khai sinh ra nó, tức là cái nôi của nhân loại. Đức Phật đă phái
chư La hán đi t́m cho giáo pháp này một nơi trú ẩn an toàn, v́
Bậc Thánh vương đă nhận biết được những nguy cơ ngay từ khi ngài nhập vào
Thonglam (“Con đường thấu thị” tức thần nhăn).
Toan tính này đă tỏ ra là thất bại trong đám dân cư vẫn ch́m sâu trong thuật
Phù thủy; chí tới khi Trường phái “Tâm pháp” đă ḥa lẫn với trường phái
trước nó (trường phái này đă được xác lập trước đó bao nhiêu thời đại trên
bờ dốc đối diện của phía Tây của Tây Tạng) th́ Phật giáo rốt cuộc mới được
ghép vào xứ sở
của Bön-pa (Phật giáo
có hai Trường phái riêng biệt là Trường phái Bí truyền và Trường phái Công
truyền).
---------------------------
[[2]]
[Phurbu, tức
là Purbu, nghĩa là “con dao sấm chớp”. Xem Phật Giáo Tây Tạng
tức Lạt ma giáo của L. Austine Waddell, Cử nhân Y khoa,
trang 340-341].
[[3]]
Tu đà hoàn là
người đă đạt được mức đầu tiên thấu hiểu được điều chân thực
và điều không chân thực. Tư đà hàm là ứng viên của một cuộc Điểm đạo
cao hơn; bậc nhất lai (chỉ c̣n tái sinh một lần nữa thôi); A na hàm
là vị đă được quả vị mức độ “thứ ba”, theo sát nghĩa là bậc bất lai
(không c̣n tái sinh nữa, trừ phi ngài muốn như vậy) v́ đă tự
chọn tái sinh trong một “thế giới Thần linh” khác hoặc là ở lại nơi
Devachan hoặc là chọn sinh ra trên trần thế v́ mục đích thương
người. La hán là vị đă đạt được
quả vị cao nhất, ngài có thể tùy ư nhập Niết Bàn ngay cả khi c̣n
sống trên trần thế.
[[4]]
[Bích Chi Phật
ngang hàng với Đức Phật, Nhưng công việc của ngài dành cho thế gian
không dính dáng ǵ tới giáo huấn, và chức vụ của ngài luôn luôn được
phủ đầy bí mật. Quan niệm thịnh hành cho rằng ngài - ở một mức độ có
quyền năng, minh triết, t́nh thương siêu nhân loại cao đến như vậy -
mà lại có thể ích kỷ, chỉ xuất hiện nơi các kinh sách công truyền,
mặc dù khó ḷng có thể hiểu được tại sao lại có một quan điểm như
vậy. H. P. B. trao trách nhiệm cho tôi hiệu đính lại lỗi lầm này v́
trong một lúc vô ư bà có thể sao chép lại một phát biểu như thế ở
đâu đó. - A. B.]
[[5]]
Chính một ư
tưởng sai lầm đă khiến cho các nhà Đông phương học chấp nhận nghĩa
đen giáo lư của trường phái Đại thừa dạy về ba loại thân khác nhau,
nghĩa là Prul-pa-ku, Longehod-dzocpaig-ku [tức long-sku] và Chos-ku,
v́ tất cả đều thuộc về trạng thái Niết Bàn. Có hai loại Niết Bàn:
Niết Bàn trên trần thế và Niết Bàn của những Chơn linh đă hoàn toàn
thoát xác. Ba “thân” này là ba lớp vỏ - tất cả ít nhiều đều có tính
chất vật lư - vốn ở trong tầm sử dụng của các bậc Cao đồ đă nhập vào
và vượt qua Lục độ Ba la mật của Đức Phật. Một khi mà ngài đă nhập
vào Ba la mật thứ bảy th́ ngài không c̣n có thể trở về trần thế được
nữa. Xem Csoma
de Korös,
Tạp chí của Hội nghiên cứu Á Châu
ở Bengal, tập vii, trang 142, và Xem
tác phẩm Phật giáo, của Schott, trang 9, ông tŕnh bày điều
này theo kiểu khác.
[[10]]
Tạp chí Hội nghiên cứu Á châu, ở Bengal,
quyển
vii, trang 144, được trích dẫn giống như trên.
[[12]]
Cũng khẳng
định có tồn tại một Bản thể thanh khiết Tuyệt đối Duy nhất,
Parabrahman; mọi vật ở bên ngoài Parabrahman đều hăo huyền; chỉ có
khoa Yoga mới dẫn dắt Linh hồn cá biệt - một Tia của “Linh hồn Vũ
trụ” - nhập vào bản chất chân thực của sự tồn tại và vạn vật.
[[13]]
Hóa thân (Nirmānakāya,
Nirvānakāya)
là thể của Chơn ngă “hữu dư” tức là chịu ảnh hưởng của những thuộc
tính trần tục (mặc dù đă
được tâm linh hóa) vẫn bám víu lấy Chơn ngă. Một bậc Điểm đạo đồ ở
trong Pháp thân, Dharmakāya tức là Niết Bàn “vô dư”, là một đấng
Jīvanmukta, một Điểm đạo đồ Toàn giác, ngài đă tách rời hoàn toàn
Chơn ngă của ḿnh ra khỏi thể xác trong khi Nhập định Samādhi. [Xin
lưu ư rằng hai từ này được dùng ở đây theo một nghĩa khác hơn được
dùng trước kia. A.B.] [ Nếu môn sinh có thắc mắc ǵ th́ xin xem phần
phía trước trang 366, 400 - 401].
[[14]]
“Thánh”
thư Dus-kyi Khorlo (Ṿng Thời gian). Xem Tạp chí của Hội nghiên
cứu Á châu, quyển ii, trang 57. Người ta đă bỏ mặc những tác
phẩm này cho các vị Dugpas ở Sikkhim từ thời cải cách của Đức
Tsong-Kha-pa.
[[15]]
Chú giải
thuật ngữ về Lợi nhuận và Pháp thuật,
mục “Yoga”, được trích dẫn trong Phật Giáo Tây Tạng, trang
47.
[[17]]
Phật Giáo
Tây Tạng, trang 63-64. Trong
huyền thoại công truyền có liệt kê những vật mà người ta thấy trong
cái rương nhỏ; những vật này dĩ nhiên là có tính cách biểu tượng.
Người ta có thể thấy kinh Kanjur đề cập tới chúng. Nghe nói
chúng gồm có: (1) là hai bàn tay chắp lại; (2) một cái Choten (Stūpa
tức là thánh tích) nhỏ xíu; (3) là một lá bùa có khắc chữ “Om Mani
Padme Hum”, (4) một quyển sách tôn
giáo Zamatog (có nghĩa là “một cái xe đă được xây dựng”).
HOME T̀M HIỂU NHẬP MÔN sách TIỂU SỬ BẢN TIN H̀NH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 NỮ THẦN ISIS