|
|
HOME T̀M HIỂU NHẬP MÔN sách TIỂU SỬ BẢN TIN H̀NH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 NỮ THẦN ISIS
|
|
Trích CON NGƯỜI từ đâu tới, Sinh hoạt ra sao và Rồi đi về đâu
Tác giả Annie Besant và C.W.Leadbeater
CHƯƠNG XXV
Giáo dục và gia đ́nh
Giáo dục trẻ con
|
|
CHƯƠNG XXV
Giáo dục và gia đ́nh
Giáo dục trẻ con
Tự nhiên ta ắt trông mong rằng cộng đồng này sẽ chú ư rất nhiều tới
việc giáo dục trẻ con. Nó được coi là có tầm quan trọng lớn lao đến
nỗi không điều ǵ giúp cho việc ấy, theo bất cứ đường lối nào mà lại
bị bỏ lơ và người ta vận dụng hết mọi thứ phụ trợ; màu sắc, ánh
sáng, âm thanh, h́nh tướng, điện khí đều được vận dụng để phụng sự
và các Thiên thần đóng vai tṛ rất lớn trong công tŕnh ấy qua việc
cầu viện tới đạo quân các tinh linh thiên nhiên. Người ta đă nhận
biết ra rằng nhiều sự kiện trước kia bị bỏ lơ hoặc coi là không đáng
kể, đều đóng vai tṛ và có ảnh hưởng trong các quá tŕnh giáo dục:
Chẳng hạn như môi trường xung quanh thuận lợi nhất cho việc học toán
tất nhiên không giống như môi trường xung quanh thích hợp nhất cho
việc học nhạc hoặc địa lư.
Thiên hạ đă học biết được rằng nhiều bộ phận trong óc phàm có thể
được kích thích bằng những ánh sáng và màu sắc khác nhau, đối với
một số đề tài th́ bầu không khí được tích điện một chút ắt là hữu
dụng, c̣n đối với những đề tài khác th́ nó dứt khoát là bất lợi. V́
vậy ở góc của mỗi lớp học đều có một loại máy điện nhờ vào đó người
ta có thể tùy ư thay đổi môi trường xung quanh. Một số pḥng học
được sơn màu vàng, trang trí toàn bằng hoa màu vàng và thấm nhuần
ánh sáng màu vàng. Ngược lại ở những pḥng học khác th́ màu xanh lơ,
màu đỏ, màu tím, màu xanh lục hoặc màu trắng lại chiếm ưu thế. Người
ta thấy đủ thứ mùi hương cũng có tác dụng kích thích và chúng cũng
được sử dụng theo một hệ thống chính qui.
Có lẽ sự cải tiến quan trọng nhất là công tŕnh của các tinh linh
thiên nhiên, chúng rất thích thú khi thi hành nhiệm vụ được giao phó
cho ḿnh, chúng vui ḷng trợ giúp và kích thích đám trẻ con cũng
giống như những người làm vườn thích thú trồng những cây đặc biệt
tốt đẹp. Ngoài ra chúng c̣n đảm nhiệm mọi tác dụng thích hợp của ánh
sáng, màu sắc, âm thanh và điện khí, tập trung những thứ đó lại rồi
có thể nói là xịt những thứ ấy lên đám trẻ con sao cho những thứ ấy
có thể tạo ra tác dụng tốt nhất. Thầy giáo cũng sử dụng tinh linh
thiên nhiên trong những trường hợp cá biệt; chẳng hạn như nếu một
học sinh ở lớp nào đó không hiểu được đề bài đưa ra cho ḿnh th́ một
tinh linh thiên nhiên ngay tức khắc bắt đầu tiếp xúc và kích thích
một trung khu đặc biệt nào đó trong óc của nó, thế là chỉ trong chốc
lát, nó có thể hiểu được điều ấy. Mọi thầy giáo đều phải có thần
nhăn, đây là điều kiện tiên quyết tuyệt đối để giữ chức vụ này. Các
thầy cô đều là thành viên của cộng đồng không phân biệt nam nữ. Các
Thiên thần thường hiện ra trong những dịp đặc biệt để giảng một vài
bài học, nhưng dường như chưa bao giờ chịu trách nhiệm hoàn toàn về
một trường học.
Ta thấy ở đây cũng có bốn loại h́nh lớn được tượng trưng bằng các
Đền thờ. Trẻ con được quan sát cẩn thận và xử trí theo kết quả quan
sát. Trong hầu hết mọi trường hợp th́ chúng được phân loại vào thời
kỳ rất sớm thành ra một trong các đường lối phát triển và người ta
cung cấp cho chúng mọi cơ hội để chọn theo đường lối mà chúng thích.
Ở đây cũng lại không có chuyện mang tính chất cưỡng chế. Ngay cả dám
trẻ con nhỏ xíu cũng hoàn toàn quen thuộc với mục đích của cộng đồng
và nhận thức rơ ràng rằng ḿnh có bổn phận và đặc quyền để sắp xếp
đời ḿnh theo đó. Ta phải nhớ rằng tất cả những người này đều luân
hồi ngay tức khắc và hầu hết ít ra cũng đều nhớ được một phần nào
mọi kiếp quá khứ của ḿnh sao cho đối với họ th́ giáo dục chỉ là quá
tŕnh kiểm soát càng nhanh càng tốt một tập hợp các hiện thể mới và
khôi phục càng nhanh càng tốt bất kỳ mối liên kết nào đă từng có thể
bị thất tung trong quá tŕnh chuyển dịch từ xác phàm này sang xác
phàm khác.
Cố nhiên tuyệt đối không có chuyện suy diễn rằng con vua th́ lại làm
vua, con săi thầy chùa lại quét lá đa, cha mà có năng khiếu âm nhạc
th́ con cũng phải đi theo đường lối ấy; v́ cha mẹ và thầy cô đều
luôn luôn biết kiếp trước của con trẻ cho nên chúng được tạo mọi
điều kiện dễ dàng để phát triển theo đường lối trong kiếp đă qua
hoặc theo đường lối khác mà dường như chúng thấy là dễ dàng nhất.
Giữa cha mẹ và thầy cô có sự hợp tác trọn vẹn nhất. Chúng tôi nhận
thấy có một thành viên đặc biệt dẫn con tới thầy cô, giải thích tỉ
mỉ đủ thứ cho thầy cô và thường xuyên đến gặp thầy cô để bàn luận
những điều có thể là cách ích lợi nhất cho con trẻ. Chẳng hạn như
nếu thầy cô nghĩ rằng một học sinh đặc biệt nào đó rất cần một loại
màu sắc nào đó th́ thầy cô thông báo ư tưởng ấy cho cha mẹ và màu
sắc ấy được áp dụng cho trẻ con khi ở nhà cũng như lúc đến trường; y
được bao quanh bằng màu sắc ấy, người ta dùng màu sắc ấy để may quần
áo cho nó v.v… Mọi trường học đều đặt dưới quyền Chơn sư
KH , và mọi thầy cô đều chịu trách nhiệm cá nhân đối với
ngài.
Rèn luyện óc tưởng tượng
Tôi xin xét một ví dụ nhà trường thực hành gắn liền với một trong
các Đền thờ màu vàng để xem họ bắt đầu như thế nào việc phát triển
trí tuệ ở lớp thấp nhất. Trước hết thầy giáo đặt trước mặt học sinh
một quả banh nhỏ chói sáng và yêu cầu chúng tạo ra h́nh ảnh quả banh
trong tâm trí ḿnh. Một số học sinh c̣n nhỏ chút xíu cũng có thể
thực hiện điều ấy tốt đẹp. Thầy giáo bảo:
“Các con có thể nh́n thấy khuôn mặt của ta; bây giờ hăy nhắm mắt lại
liệu các con c̣n có thấy nó chăng? Bây giờ các con hăy nh́n quả banh
này; liệu các con có thể nhắm mắt lại mà vẫn thấy quả banh chăng?”.
Nhờ
biết sử dụng năng khiếu thần nhăn cho nên thầy giáo có thể nh́n thấy
liệu đứa trẻ có tạo ra những h́nh ảnh thỏa đáng hay chăng. Những đứa
nào có thể làm được như vậy ắt phải bắt đầu thực hành hết ngày này
sang ngày khác với đủ thứ h́nh tướng và màu sắc đơn giản. Thế rồi
người ta yêu cầu chúng giả định rằng có một điểm đang chuyển động,
bỏ lại đằng sau một vệt giống như ngôi sao băng; thế rồi chúng hăy
tưởng tượng vật sáng ấy là một đường. Rồi người ta yêu cầu chúng
tưởng tượng đường này chuyển động vuông góc với chính ḿnh; mọi điểm
trên đường ấy đến đổ tại một vạch tương tự. Thế là đám trẻ con đều
tự ḿnh tạo ra trong trí một h́nh vuông. Rồi mọi loại chuyển vị và
phân chia h́nh vuông ấy lại được đề ra cho chúng. H́nh vuông được
phân ra thành đủ thứ tam giác và người ta giải thích cho chúng biết
rằng thật ra mọi thứ này đều là những biểu tượng sinh động có một ư
nghĩa nào đó. Ngay cả những đứa trẻ c̣n nhỏ chút xíu cũng được dạy
dỗ một số điều này.
“Điểm có nghĩa là ǵ đối với con?” Trả lời: “Đấng Nhất Như”. “Đấng
Nhất Như là ai?” Trả lời: “Thượng Đế”. “Ngài ở đâu?” Trả lời: “Ngài
ở khắp mọi nơi” .
Thế là giờ đây chúng đă học biết rằng hai có nghĩa là nhị nguyên,
Tinh thần và Vật chất, c̣n ba chấm thuộc một loại h́nh và màu sắc
nào đó nghĩa là ba Ngôi của Đấng thiêng liêng trong khi ba chấm
thuộc loại khác, nghĩa là linh hồn nơi con người. Sau này có một lớp
với ba chấm trung gian hiển nhiên ngụ ư là Chon Thần. Bằng cách này
qua việc khiến cho các ư tưởng lớn tạo nên sự liên
tưởng tới những sự vật đơn giản, ngay cả những đứa trẻ c̣n
nhỏ chút xíu cũng có được một lượng thông tin Thông Thiên Học mà
dường như rất đáng ngạc nhiên đối với kẻ nào quen thuộc với một hệ
thống giáo dục cổ điển hơn và kém thông tuệ hơn. Chúng tôi quan sát
thấy một loại máy kỳ diệu ở nhà trẻ, đó là một loại quả banh bằng
ngà – ít ra th́ nó cũng trông giống như ngà, khi người ta đụng vào
một ḷ xo th́ nó bung ra thành một chữ thập, trên đó có vẽ một đóa
hoa hồng giống như biểu tượng Hoa Hồng thập tự, từ đó lộ ra một số
quả banh nhỏ, đến lượt mỗi quả banh nhỏ lại được tế phần thêm nữa.
Bằng một chuyển động khác, người ta có thể khiến cho nó đóng trở lại
và cơ cấu ấy được che giấu đi một cách tài t́nh; cơ cấu này có ngụ ư
là trừu tượng để minh họa ư tưởng Nhất bổn tán vạn thù và để rồi rốt
cuộc vạn thù qui Nhất bổn.
Các lớp học cao cấp hơn
Đối với một lớp học sau này th́ h́nh vuông tỏa sáng đó lại chuyển
động vuông góc với chính ḿnh để tạo ra một h́nh khối vuông, thế rồi
măi sau này h́nh khối vuông ấy lại chuyển động thẳng góc với chính
ḿnh để tạo ra khối vuông bốn chiều đo và hầu hết những đứa trẻ đều
có thể nh́n thấy nó, h́nh dung nó rơ ràng trong tâm trí. Trẻ con có
thiên tài h́nh dung được dạy cho vẽ tranh, cây và thú, phong cảnh và
cảnh tượng trong lịch sử, mỗi đứa trẻ được dạy tạo ra bức tranh sống
động. Người ta dạy nó việc định trí thực sự có thể làm thay đổi bức
tranh trên cơi trần và đám trẻ con tự hào khi chúng có thể làm điều
đó thành công. Sau khi đă vẽ một bức tranh hết sức ḿnh, lũ trẻ định
trí vào nó và cố gắng cải tiến nó, biến đổi nó bằng tư tưởng của
ḿnh. Chỉ trong ṿng một tuần lễ tác động bằng việc định trí mỗi
ngày một lúc, chúng có thể tạo ra những biến đổi đáng kể và một đứa
trẻ 14 tuổi nếu thực hành nhiều có thể làm điều đó rất nhanh.
Sau khi đă biến đổi bức tranh, đứa trẻ được dạy tạo ra một h́nh tư
tưởng về bức tranh, nh́n vào h́nh tư tưởng ấy, chiêm nghiệm nó một
cách tha thiết rồi nhắm mắt lại và h́nh dung bức tranh. Trước hết, y
xét tới những bức tranh b́nh thường trên cơi trần rồi người ta cấp
cho nó một b́nh thủy tinh chứa chất hơi có màu, dùng nỗ lực ư chí nó
phải uốn nắn chất khí thành ra những h́nh dạng nào đó - dùng tư
tưởng khiến cho chất khí có một h́nh tướng - ; khiến cho chất khí
bên trong b́nh chứa trở thành một h́nh cầu, h́nh khối vuông, h́nh tứ
diện hoặc một h́nh thù nào đó. Nhiều đứa trẻ có thể dễ dàng làm được
điều này sau khi chỉ thực hành có một chút. Thế rồi người ta yêu cầu
chúng tạo ra h́nh hài của một con người, rồi tới h́nh tướng của bức
tranh mà trước đó chúng đă nh́n thấy. Khi chúng có thể uốn nắn chất
hơi này một cách khá dễ dàng th́ chúng cố gắng làm như vậy trong
chất dĩ thái rồi tới chất trung giới, rồi tới chất thuần túy trí
tuệ. Bản thân thầy giáo tạo ra sự hiện h́nh để cho chúng khảo sát
khi cần thiết và bằng cách này chúng dần dần tiến cao lên tới những
hành vi cao cấp hơn để tạo ra tư tưởng. Mọi lớp học này đều mở cửa
đón tiếp phụ huynh và bạn bè tới tham quan, thường thường th́ nhiều
người lớn tuổi cũng muốn tham dự lớp học và bản thân họ cũng thực
hành những bài tập dành cho đám con nít.
Hệ thống trường học
Không có điều ǵ có bản chất là trường nội trú và mọi đứa trẻ đều
sống hạnh phúc ở nhà rồi đi học ở trường nào thuận lợi nhất cho
ḿnh. Trong một vài trường hợp th́ các lễ sư Thiên thần huấn luyện
đám trẻ con thế chỗ cho ḿnh, nhưng ngay cả trong trường hợp này th́
trẻ con cũng không được tuyển mộ từ trong nhà cách ly với gia đ́nh
mặc dù nó thường được vây quanh bởi một lớp vỏ bảo vệ đặc biệt sao
cho ảnh hưởng mà Thiên thần tuôn đổ lên nó có thể không bị những
rung động khác can thiệp vào.
Một đứa trẻ không thuộc về bất kỳ lớp học nào giống hệt như những
phương pháp cổ truyền; mỗi đứa trẻ đều có danh sách một số môn học
khác nhau; nó có thể học lớp một về môn học này, học lớp ba về môn
học kia và học lớp năm về một môn học khác nữa. Ngay cả đối với con
nít th́ việc sắp xếp chương tŕnh học dường như là một loại pḥng
diễn giảng hơn là một lớp học. Muốn hiểu được hệ thống này ta phải
không lúc nào được quên rằng có việc tác dụng luân hồi tức khắc, cho
nên chẳng những đám trẻ con xét trung b́nh là thông minh và phát
triển hơn những đứa trẻ cùng tuổi, mà chúng c̣n phát triển không
đồng đều với nhau. Một số đứa trẻ bốn tuổi nhớ nhiều về kiếp trước
cũng như những ǵ chúng đă học trong kiếp đó hơn hẳn những đứa trẻ
khác 8 – 9 tuổi; lại có một số đứa trẻ khác nhớ được trọn vẹn và rơ
ràng một môn học nào đó, thế nhưng lại hầu như quên hết kiến thức về
một số môn học khác dường như dễ dàng hơn nhiều. V́ vậy ta đang bàn
tới một t́nh huống hoàn toàn bất b́nh thường và phải chọn theo những
hệ thống thích ứng với chúng.
Vào lúc tương ứng với ngày khai trường th́ cả lũ trẻ đứng lại cùng
nhau hát một bài ǵ đó. Buổi sáng chúng học bốn bài học, nhưng bài
học ngắn thôi và luôn luôn có nghỉ giải lao giữa giờ học để chơi.
Cũng giống như mọi căn nhà, pḥng học không có vách mà chỉ được nâng
đở hoàn toàn bằng những trụ cột sao cho thực tế là trọn cả cuộc đời
của lũ trẻ cũng như toàn thể cộng đồng đều sống ngoài trời; tuy
nhiên lũ trẻ không lấy cớ đó để tụ tập ở trong pḥng sau mỗi giờ học
mà rời pḥng học để chơi thơ thẩn trong công viên xung quanh trường
học. Trẻ con trai và gái đều được dạy lẫn lộn với nhau. Buổi sáng
bao gồm tất cả những ǵ có thể gọi là môn học bắt buộc (môn học mà
mọi người đều phải học); có một số bài học ngoại khóa vào buổi chiều
về những môn học phụ trợ cho những người nào muốn học, nhưng khá
đông trẻ con chỉ bằng ḷng học buổi sáng thôi.
Chương tŕnh học
Chương tŕnh học ở nhà trường khác hẳn chương tŕnh học của thế kỷ
20. Chính những môn học cũng khác nhiều và ngay cả những môn giống
như cũ đều được dạy theo kiểu khác hẳn. Chẳng hạn như môn số học đă
được đơn giản hóa rất nhiều, không có bất kỳ loại trọng lượng và số
đo nào phức tạp nữa, mọi thứ đều bố trí theo hệ thập phân; người ta
tính toán ít thôi và việc triển khai tỉ mỉ những ḍng con số dài
dằng dặc ắt bị buộc tội là tẻ nhạt không thể chịu nổi. Không điều ǵ
được dạy dỗ nếu không thực tế hữu dụng cho con người b́nh thường sau
khi chết. Mọi thứ c̣n lại chỉ là vấn đề tham khảo. Trong những thế
kỷ trước kia người ta có những sách logarit để tham khảo nhằm tránh
được những phép phức tạp tính dài ḍng; bây giờ người ta cũng có hệ
thống ấy được mở rộng bao la, thế nhưng, đồng thời lại rút gọn đi
rất nhiều. Đó là một sơ đồ mà người ta có thể t́m ra kết quả của hầu
hết bất kỳ phép tính khó khăn nào chỉ trong một vài giây phút nếu
biết cách sử dụng cuốn sách. Trẻ con cũng biết cách tính toán như
người lớn biết cách dùng logarít, thế nhưng chúng thường dùng một
quyển sách dành riêng cho chúng để tránh việc phí phạm thời giờ vào
những quá tŕnh tẻ nhạt liên quan tới những dăy số dài dằng dặc.
Đối với chúng th́ số học hầu như không đích thực là một môn học mà
chỉ được coi như đưa tới những phép tính toán liên quan tới h́nh học
vốn bàn về những h́nh khối và những chiều đo cao hơn. Toàn thể sự
vật khác hẳn với những ư tưởng trước kia đến nỗi ta chẳng dễ ǵ miêu
tả rơ ràng được nó, chẳng hạn như trong mọi phép tính cộng của trẻ
con th́ không có vấn đề tiền bạc và không có phép tính phức tạp. Chỉ
hiểu được tổng số và biết cách tính tổng số là đủ rồi. Trong đầu vị
thầy giáo không có ư muốn nhồi sọ cho học sinh c̣n bé mà chỉ muốn
phát triển năng khiếu của chúng, cho chúng biết t́m kiếm sự thật ở
đâu. Chẳng hạn như chẳng ai màng tới việc nhân một ḍng sáu con số
với một ḍng khác cũng sáu con số mà chỉ dùng hoặc là một máy tính
(máy tính rất thông dụng) hoặc một trong những quyển sách mà tôi đă
đề cập tới.
Toàn bộ vấn đề đọc và viết đơn giản hơn lối cổ truyền thông dụng bởi
v́ mọi cách phát âm đều theo sát ngữ âm và phát âm không thể sai khi
một âm tiết nào đó luôn luôn có một âm thanh nào đó. Chữ viết hơi
giống như dáng vẻ của chữ viết tắt. Người ta cần phải học về nó
nhiều điều nhưng đồng thời khi đă học rồi th́ đứa trẻ sở hữu được
một công cụ tinh vi hơn và linh hoạt hơn so với bất kỳ ngôn ngữ cổ
điển nào, bởi v́ nó có thể viết ít ra cũng nhanh như tốc độ của một
người b́nh thường nói. Có một số lớn qui ước về viết tắt, c̣n trong
cả một câu thường được biểu diễn bằng một kư hiệu giống như một tia
chớp.
Ngôn ngữ người ta nói tự nhiên là tiếng Anh v́ cộng đồng này xuất
hiện trong một xứ sở nói tiếng Anh nhưng nó đă được biến đổi đi khá
nhiều. Nhiều dạng phân từ đă biến mất và một số từ ngữ đều khác đi.
Mọi môn học đều được học rất khác thời nay không ai học lịch sử
ngoại trừ những câu chuyện rời rạc thú vị, nhưng trong nhà mọi người
đều có một quyển sách giúp người ta có thể t́m thấy một bảng tóm tắt
mọi môn lịch sử. Người ta vẫn c̣n học môn địa lư trong một chừng mực
giới hạn. Họ biết mọi dân tộc khác sống ở đâu và biết chính xác các
dân tộc này khác nhau ở chỗ nào và chúng đang phát triển những phẩm
tính ǵ. Nhưng người ta đă bỏ qua khía cạnh thương mại, không ai
buồn quan tâm tới xuất khẩu của xứ Bulgari; chẳng ai biết người ta
làm vải len ở đâu và cũng chẳng ai muốn biết. Người ta có thể tra
cứu mọi điều ấy khi chỉ cần chú ư một lúc tới những quyển sách vốn
là bộ phận được trang bị miễn phí cho mọi căn nhà, và xét ra là mất
thời giờ khi làm nặng nề trí nhớ bằng những sự kiện vô giá trị như
thế.
Xét về mọi mặt th́ hệ thống này hoàn toàn thực dụng; chúng không dạy
cho trẻ con bất cứ điều ǵ có thể dễ dàng t́m được trong bách khoa
từ điển. Người ta đă phát triển một hệ thống giáo dục chỉ hạn chế
vào kiến thức cần thiết và có giá trị. Một đứa trẻ lên 12 tuổi
thường có trong óc phàm toàn bộ trí nhớ mà ḿnh biết được trong
những kiếp trước. Chính phong tục đeo một lá bùa từ kiếp này sang
kiếp khác giúp cho đứa trẻ phục hồi lại trí nhớ trong hiện thể mới –
lá bùa mà nó đeo trong kiếp trước giúp cho nó hoàn toàn được chứa
đựng từ điển của kiếp ấy cho nên bây giờ nó có thể khơi động lại
chính những rung động cũ ấy.
Việc phụng tự trẻ con
Một đặc điểm thú vị khác về giáo dục chính là cái gọi là việc phụng
tự của trẻ con ở Đền thờ. Ngoài trẻ con ra c̣n nhiều người khác cũng
tham gia phụng tự, nhất là những người chưa tới mức được phụng tự
khác hơn những điều như đă mô tả. Việc phụng tự của trẻ con trong
Đền thờ âm nhạc hết sức đẹp đẽ; trẻ con thực hiện một loạt những
bước tiến đẹp mắt, vừa hát vừa chơi nhạc cụ khi chúng diễu hành.
Việc phụng tự trong Đền thờ màu sắc đặc biệt giống như vở kịch câm
sặc sỡ của Drury Lane và hiển nhiên đă được tập dượt cẩn thận nhiều
lần.
Có một trường hợp chúng mô phỏng lại vũ khúc đồng ca của các lễ sư ở
Babylone vốn biểu diễn chuyển động của các hành tinh xung quanh mặt
trời. Điều này được triển khai nơi b́nh nguyên khoáng đảng giống như
thường xảy ra ở Assyria, các nhóm trẻ con mặc quần áo có màu đặc
biệt (biểu diễn đủ thứ hành tinh) và chuyển động nhịp nhàng sao cho
chúng vừa chơi vừa học bài về thiên văn. Nhưng ta nên hiểu rằng
chúng hoàn toàn cảm thấy rằng ḿnh đang dấn thân vào một nghi thức
tôn giáo linh thiêng; thực hiện hoàn chỉnh và tốt đẹp điều ấy chẳng
những là trợ giúp ḿnh mà c̣n cấu thành một loại hiến tế phụng tự
cho Đấng thiêng liêng. Người ta đă bảo chúng rằng điều này thường
được thực hiện trong tôn giáo cổ truyền cách đây vài ngàn năm.
Đám trẻ con rất thích thú với điều ấy và chúng cạnh tranh với nhau
để được chọn là một bộ phận của Mặt trời. Đám phụ huynh hảnh diện
cũng nh́n chừng và măn nguyện khi tự nhủ rằng: “Hôm nay con tôi là
một bộ phận của Thủy tinh”. v.v… Các hành tinh đều có những vệ tinh
– trong một số trường hợp có nhiều vệ tinh hơn mức mà ta đă quen
biết tới tức là thiên văn học hiển nhiên đă tiến bộ hơn. Vành đai
Thổ tinh được biểu diễn rất đáng chú ư bằng một số trẻ con thường
xuyên chuyển động theo h́nh gần giống như “dây xích lớn” lúc bắt đầu
con số thứ năm của chuỗi số Lancers. Có một điều đặc biệt thú vị là
ngay cả vành đai bên trong giống như vải “nhiễu” của Thổ tinh cũng
được biểu diễn, bởi v́ những đứa trẻ ở bên trong của vành kế tiếp đă
mặc quần áo bằng vải the bay lỏa xỏa để biểu diễn việc ấy. Các vệ
tinh là những đứa trẻ đơn độc hoặc một cặp trẻ con luân vũ bên ngoài
ṿng đai. Mặc dù vui hưởng điều đó rất nhiều nhưng không lúc nào
chúng quên rằng ḿnh đang thực hiện một chức năng tôn giáo và đang
hiến tế điều ấy cho Thượng Đế. Một vũ điệu khác hiển nhiên biểu thị
việc chuyển dời sự sống từ Dăy Nguyệt tinh sang Dăy Trái đất. Người
ta ban cho lũ trẻ con đủ thứ giáo huấn theo cách ấy vừa là tṛ chơi
vừa là nghi lễ tôn giáo.
Các vũ khúc biểu tượng
Mỗi Đền thờ đều cử hành những đại lễ bằng việc đặc biệt thực hiện
những điều ấy mà nhân dịp này họ đă làm hết sức ḿnh để trang hoang
cho sặc sỡ. Dinh thự được bài trí sao cho những đường nét lộ ra một
loại quang lân tinh thường trực, nhưng không là một chùm đèn mà ánh
sáng dường như xuất phát từ vật liệu tạo ra đèn. Những đường nét
kiến trúc thật thanh bai và có tác dụng lộng lẫy. Việc phụng tự của
trẻ con là việc giáo dục về màu sắc. Các tổ hợp màu sắc thật sự kỳ
diệu và việc huấn luyện cho con nít thật là hoàn hảo. Những đám đông
con nít mặc đồng phục với màu sắc dễ thương nhất, thanh nhă nhưng
lại sáng sủa, chúng đi ra đi vào chen lẫn vào nhau thành những h́nh
phức tạp nhất. Trong vũ điệu ḥa ca, chúng được dạy chẳng những mặc
quần áo có màu của những ngôi sao v́ những mục đích ngoạn mục mà c̣n
phải cố gắng h́nh dung cũng màu sắc ấy trong tâm trí. Người ta dạy
chúng cố gắng tưởng tượng ra màu ấy và cố gắng nghĩ rằng ḿnh thật
sự là bộ phận của Thủy tinh hoặc Kim tinh tùy từng trường hợp. Khi
chúng diễu hành vừa đi vừa hát vừa chơi nhạc cụ th́ mỗi hành tinh
đều có hợp âm đặc biệt của riêng ḿnh sao cho khi chuyển động xung
quanh mặt trời các hành tinh có thể tạo ra việc mô phỏng lại âm nhạc
của các tinh cầu. Các Thiên thần thường tham gia vào việc phụng tự
của con nít, góp phần bằng màu sắc và âm nhạc. Cả Thiên thần dục
giới lẫn Thiên thần sắc giới đều trà trộn thoải mái trong đám nhân
quần và tham gia vào sinh hoạt hằng ngày.
Việc phụng tự của con nít liên quan tới Đền thờ màu vàng thật hết
sức thú vị. Ở đây chúng thường nhảy múa theo những h́nh kỷ hà nhưng
việc diễu hành khó mô tả hơn. Chẳng hạn như có một cuộc biểu diễn
hết sức mỹ lệ và hữu hiệu. Ba mươi hai đứa trẻ trai mặc áo dài gấm
hoàng kim sắp xếp theo một thứ tự nào đó. Tất cả không đứng trên
cùng một cấp mà trên những bậc được nâng cấp nào đó. Chúng hiển
nhiên biểu diễn các góc của một h́nh khối nào đó. Chúng cầm trong
tay những sợi dây thừng chắc chắn có màu hoàng kim và giữ cho những
sợi dây thừng ấy đi từ điểm này sang điểm kia biểu thị đường nét của
một h́nh nào đó, chẳng hạn như h́nh khối 12 mặt. Đột nhiên khi có
một dấu hiệu được xếp đặt trước chúng buông một dầu dây thừng hoặc
ném đầu dây ấy cho một đứa trẻ khác chụp lấy và chỉ trong chốc lát
đường nét đă thay đổi thành ra h́nh khối 20 mặt. Điều này thật hữu
hiệu một cách kỳ diệu và tạo ra tác dụng hăo huyền đáng kể nhằm biến
h́nh khối này thành ra h́nh khối khác. Mọi sự thay đổi như thế đều
diễn tiến theo một trật tự nào đó, bằng cách nào đấy nó có liên quan
tới sự tiến hóa của vật chất trong các cơi vào lúc bắt đầu của một
Thái dương hệ. Một sự tiến
hóa khác hiển nhiên minh họa một điều ǵ đó về việc tạo lập ra các
nguyên tử từ các bọt hư không. Đám trẻ con biểu diễn các bọt hư
không. Một số trẻ con ùa ra từ trung tâm rồi sắp xếp lại theo một
cách nào đó. Thế rồi chúng ùa trở lại vào trung tâm rồi cứ thế ùa ra
thêm nữa để rồi sắp xếp theo một kiểu khác hẳn. Mọi điều này cần
được huấn luyện nhiều nhưng lũ trẻ dường như rất háo hức với điều
ấy. Mọi điều này cần được huấn luyện nhiều nhưng lũ trẻ dường như
rất háo hức với điều ấy.
Ư tưởng căn bản
Việc giáo dục và tôn giáo ḥa lẫn vào nhau mật thiết đến nỗi thật
khó mà phân biệt rơ ràng được điều này với điều kia. Lũ trẻ đang
chơi trong Đền thờ. Ư tưởng căn bản mà chúng phải ghi nhớ là mọi
điều ấy chỉ là khía cạnh hồng trần của một điều ǵ đó c̣n cao cả và
vĩ đại hơn nhiều vốn thuộc về các cơi cao; điều này khiến cho chúng
cảm thấy rằng mọi chuyện mà chúng làm đều có một khía cạnh nội giới,
chúng hi vọng ngộ ra được điều này, có thể nh́n thấy và hiểu thấu
trực tiếp được nó; điều này luôn luôn được đưa ra làm phần thưởng
tối hậu cho những cố gắng của chúng.
Sống và chết
Đủ thứ ảnh hưởng đóng vai tṛ nổi bật trong việc giáo dục lũ trẻ đă
được tác dụng lên chúng ngay cả trước khi chúng chào đời. Một lần
nữa chúng tôi phải nhắc lại rằng khi sắp xảy ra sự giáng sinh th́ cả
cha lẫn mẹ và mọi phe hữu quan đều biết rơ chân ngă nào sắp đến với
ḿnh; v́ vậy họ đă chuẩn bị hằng tháng trời trước khi thực sự xảy ra
việc giáng sinh để tạo môi trường xung quanh thuận lợi về mọi mặt
cho chân ngă ấy sao cho điều này góp phần tạo ra một thể xác hoàn
chỉnh. Người ta đặc biệt chú trọng tới ảnh hưởng của môi trường xung
quanh đẹp đẽ. Người mẹ tương lai luôn luôn có trước mắt ḿnh những
bức ảnh dễ thương và những h́nh tượng duyên dáng. Toàn thể cuộc đời
đều thấm nhuần ư tưởng mỹ lệ đến nỗi mà người ta coi như có một tội
ác chống lại cộng đồng nếu bất kỳ sự vật nào tỏ ra xấu xí hoặc không
đẹp mắt. Trong mọi khoa kiến trúc th́ đường nét mỹ lệ và màu sắc đẹp
mắt này được chú trọng đầu tiên, điều này cũng đúng với mọi chuyện
thứ yếu trong cuộc sống, Ngay cả trước khi đứa trẻ ra đời th́ người
ta đă chuẩn bị sẵn cho nó; mẹ nó chủ yếu chỉ mặc quần áo có vài màu
sắc và sống trong môi trường xung quanh gồm hoa và ánh sáng được coi
là thuộc loại thích hợp nhất.
Cha mẹ là vấn đề dàn xếp giữa mọi phe hữu quan và việc chết thường
là tự nguyện. V́ các thành viên của cộng đồng sống cuộc đời hoàn
toàn lành mạnh và môi trường xung quanh hoàn toàn vệ sinh cho nên
bệnh tật hầu như đă bị loại bỏ sao cho ngoại trừ trường hợp hiếm hoi
là tai nạn, người ta chỉ chết lúc tuổi già và chỉ bỏ xác khi nó
không c̣n hữu dụng nữa. Họ tuyệt nhiên không cảm thấy ḿnh đang từ
bỏ cuộc sống mà chỉ đang thay đổi một hiện thể đă ṃn mỏi. Việc
không c̣n lo âu và thiếu vệ sinh chắc chắn có khuynh hướng nói chung
là kéo dài tuổi thọ. Không mấy ai già nua ít ra là tới 80 tuổi và
nhiều người hưởng thọ tới quá 100 tuổi.
Khi người ta bắt đầu thấy tuổi già sức yếu th́ y cũng bắt đầu ngó
dáo dác xung quanh để mưu t́m một sự tái sinh như mong muốn. Y tuyển
lựa một người cha và một người mẹ mà ḿnh nghĩ là thích hợp với bản
thân rồi xoay xở t́m cách cầu xin họ sẵn ḷng chấp nhận việc ḿnh hạ
sinh qua bố mẹ ấy. Nếu họ bằng ḷng th́ y cho họ biết chẳng bao lâu
nữa ḿnh sẽ từ trần, thế rồi y giao nộp cho họ một lá bùa hộ mệnh cá
nhân mà ḿnh đă đeo suốt đời, cũng như kư gởi cho họ một số tài sản
cá nhân mà ḿnh mong muốn mang theo vào kiếp sống tới. Vật hộ mệnh
này thường là một viên ngọc quí thuộc một loại đặc thù nào đó thích
hợp với chơn ngă ấy, tùy theo cung Hoàng đạo của Chơn ngă, mà nó đă
đạt được sự biệt lập ngă tính do ảnh hưởng của cung ấy. Y luôn luôn
đeo vật hộ mệnh này sao cho nó có thể thấm nhuần từ điển của ḿnh và
y cẩn thận dàn xếp trước để cho nó được chuyển giao cho ḿnh vào
kiếp sống tới ngơ hầu giúp y khơi dậy được trí nhớ của những kiếp đă
qua trong thể xác mới, khiến cho chơn ngă có thể dễ dàng thực hiện
được sinh hoạt không gián đoạn. Vật hộ mệnh này bao giờ cũng tương
ứng với tên chơn ngă của y tức là pháp danh của y từ kiếp này sang
kiếp khác. Trong nhiều trường hợp th́ người ta cũng dùng tên này
trong sinh hoạt đời thường mặc dù có những trường hợp khác họ đă duy
tŕ tên cố hữu khi gia nhập cộng đồng, mang theo nó từ kiếp này sang
kiếp khác chỉ thay đổi vi tố khiến cho nó thuộc giống đực hoặc giống
cái tùy theo giới tính trong kiếp ấy. V́ vậy mỗi người đều có tên
riêng của ḿnh là pháp danh thường trụ, ngoài ra trong mỗi kiếp luân
hồi y c̣n mang theo họ của gia đ́nh mà y ngẫu nhiên hoặc cố ư chọn
lựa sinh ra trong đó.
Tư trang không bao hàm bất cứ thứ ǵ có bản chất tiền bạc bởi v́
người ta không c̣n dùng tiền bạc nữa, không ai có được quyền lợi
suốt đời về nhà cửa hoặc đất đai hoặc bất kỳ tài sản nào khác. Nhưng
đôi khi y cũng có một vài quyển sách hoặc đồ trang sức mà y muốn bảo
tồn và nếu y muốn giao nộp những thứ ấy cho cha mẹ tương lai th́ khi
họ nghe nói y sắp chết, họ có thể bắt đầu chuẩn bị điều ấy cho y. Y
không thay đổi cách sống b́nh thường nào, y tuyệt nhiên không hề
giống như việc tự tử mà y chỉ không c̣n muốn sống nữa – có thể nói
là cứ để cho sự sống thoát ra – và thường thường y từ trần êm ái
trong khi ngủ trong một thời gian ngắn. Thật vậy y thường đến cư ngụ
nơi nhà cha mẹ tương lai ngay khi đă đạt được thỏa thuận rồi chết
trong nhà cha mẹ tương lai.
Không có bất cứ loại tang lễ nào v́ người ta không coi chết là một
biến cố quan trọng. Xác chết không được hỏa thiêu mà thay vào đó
người ta đặt nó vào trong một nồi cổ cong rồi trút vào một hóa chất
nào đó, có lẽ là một loại axít mạnh. Sau đó người ta niêm kín nồi cổ
cong và cho đi ngang qua đó một năng lượng giống như điện, nhưng
mạnh hơn nhiều. A xít sủi bọt mạnh mẽ và trong vài phút toàn bộ thể
xác hoàn toàn tan ră phân hủy. Khi quá tŕnh hoàn tất và nồi cổ cong
được mở ra th́ chỉ c̣n lại một thứ bột mịn màu xám. Người ta không
bảo tồn bột này hoặc coi nó là đáng kính. Thao tác xử trí xác chết
được thực hiện dễ dàng ở nhà và khí cụ được mang về nhà khi cần
thiết. Không có bất kỳ loại nghi lễ nào và bạn bè người chết cũng
không nhân dịp đó mà tụ tập lại. Tuy nhiên họ tề tựu đến viếng thăm
y ngay khi y tái sinh v́ việc nh́n thấy họ được giả định là giúp cho
thể xác của đứa trẻ sơ sinh hồi phục lại trí nhớ. Trong t́nh huống
ấy dĩ nhiên là không có một loại cầu nguyện hoặc nghi lễ nào dành
cho người chết và cũng không cần có sự trợ giúp trên cơi trung giới
v́ mọi thành viên của cộng đồng đều nhớ rơ các kiếp đă qua của ḿnh
và biết rơ hoàn toàn cơ thể mà ḿnh sắp chiếm hữu ngay khi nó được
chuẩn bị cho ḿnh. Nhiều thành viên của cộng đồng tiếp tục đóng vai
tṛ người pḥ trợ vô h́nh đối với các cư dân c̣n lại trên thế giới
nhưng trong nội bộ chính cộng đồng th́ không cần loại pḥ trợ ấy.
Đức Bàn Cổ cẩn thận ghi chép lại mọi kiếp lâm phàm lần lượt của mỗi
thành viên trong cộng đồng và trong một số trường hợp hiếm có, ngài
can thiệp vào việc chơn ngă chọn lựa cha mẹ. Theo thông lệ th́ mọi
thành viên của cộng đồng đều đă thanh toán hết những nghiệp thô
trược hạn chế sự chọn lựa của ḿnh, họ cũng biết đầy đủ về loại h́nh
của ḿnh cũng như thân phận mà ḿnh cần chọn lựa để không chọn phải
điều thiếu thích hợp sao cho trong hầu hết mọi trường hợp, họ đều
được cho hoàn toàn tự do dàn xếp theo riêng ḿnh. Tuy nhiên vấn đề
luôn luôn nằm trong tầm hiểu biết của Đức Bàn Cổ khiến cho Ngài có
thể thay đổi kế hoạch nếu ngài không phê chuẩn.
Theo thông lệ th́ người sắp chết được toàn quyền chọn lựa giới tính
của kiếp giáng sinh sắp tới và nhiều người dường như thực hiện việc
luân phiên tái sinh làm đàn ông rồi đàn bà; Vấn đề này thực ra không
được qui định và mọi thứ đều được để mặc cho tự do; nhưng đồng thới
tỉ lệ thích đáng của các giới tính trong cộng đồng phải được duy
tŕ. Và nếu số người thuộc một giới tính nào đó tạm thời giảm thấp
hơn mức cần thiết th́ Đức Bàn Cổ sẽ kêu gọi những người t́nh nguyện
một lần nữa đưa mọi việc trở về mức thăng bằng và hài ḥa. Bố mẹ
thường dàn xếp để có được 10 hoặc 12 đứa con trong gia đ́nh và
thường thường số con trai bằng số con gái. Trẻ sinh đôi thậm chí
sinh ba cũng không hề hiếm. Giữa lần sinh ra một đứa con này với một
đứa con kế tiếp hầu như có một thời khoảng là hai hoặc ba năm và
hiển nhiên có những thuyết bàn về vấn đề này. Mục đích cao cả là tạo
ra những đứa trẻ hoàn toàn, không để xuất hiện những người què quặt
hoặc tàn tật và cũng không có trẻ con bị chết yểu. Rơ ràng là việc
sinh con đẻ cái hầu như không c̣n đau đẻ nữa; thật vậy dường như ít
có tai biến nào lúc sinh nở, ngoại trừ có lẽ rắc rối một chút khi
sinh con đầu ḷng.
Hôn nhân
Điều này đưa ta tới vấn đề hôn nhân. Không có sự hạn chế nào về vấn
đề này ngoại trừ điều hạn chế lớn lao duy nhất là không ai được kết
hôn bên ngoài cộng đồng; nhưng nói chung người ta coi như không nên
để cho người thuộc cùng loại xúc cảm tôn giáo kết hôn với nhau,
không có qui định nào cấm điều ấy nhưng người ta ngầm hiểu rằng nói
chung th́ Đức Bàn Cổ không thích cho nó xảy ra. Có một sự biểu diễn
chắc mẫm và tự măn hầu như đă khiến cho bất kỳ vấn đề nào không c̣n
được phép bàn luận nữa: “Ư của ngài không muốn như vậy”.
Thiên hạ chọn người bạn đời của ḿnh – quả thật là phải ḷng – cũng
giống như thường lệ; nhưng ư tưởng chính yểu làm tṛn bổn phận luôn
luôn chiếm ưu thế và ngay trong vấn đề tiếng nói của con tim th́
cũng không ai cho phép ḿnh làm hoặc cảm nhận bất cứ điều ǵ mà ḿnh
nghĩ rằng không được tốt nhất cho cộng đồng. Động cơ thúc đẩy lớn
lao không phải là nỗi đam mê mà là bổn phận. Những nỗi đam mê t́nh
dục thông thường đă bị chế ngự khiến cho người ta giờ đây kết hôn
với nhau dứt khoát nhằm trưởng dưỡng cộng đồng và tạo ra những cơ
thể tốt đẹp v́ mục đích ấy. Họ coi cuộc sống lứa đôi chủ yếu là cơ
hội để đạt cứu cánh ấy, điều cần thiết để làm được điều ấy là một
tác động tôn giáo và pháp thuật mà người ta cần phải chỉ đạo cẩn
thận. Nó tạo thành những phần của sự xả thân cho Thượng Đế, sao cho
không ai phải mất thăng bằng hoặc mất lư trí liên quan tới điều đó.
Khi người ta phải ḷng nhau – và ta ắt nói họ dấn thân đến với nhau
– th́ họ kéo nhau tới chính Đức Bàn Cổ và xin ngài ban phúc cho sự
kết hợp ấy. Thường thường họ cũng dàn xếp có một đứa con trai hoặc
đứa con gái tương lai sao cho khi họ kéo tới Đức Bàn Cổ th́ họ bảo
rằng có một người nào đó đang muốn sinh ra làm con của ḿnh và xin
phép Đức Bàn Cổ được kết hôn. Đức Bàn Cổ khảo sát họ để xem đôi bên
có tâm đầu ư hợp hay chăng và nếu người phê chuẩn th́ ngài tuyên cáo
với họ một công thức: “Ta ban phước cho các con sống chung với
nhau”. Hôn nhân được xem như hầu hết là hoàn toàn theo quan điểm con
cái cho tương lai. Đôi khi nó thậm chí c̣n được chính con cái tương
lai dàn xếp. Một người sẽ kêu một người khác tới nói rằng: “Tôi dự
tính trong vài tuần nữa sẽ qua đời và tôi muốn nhận bạn và cô X làm
cha mẹ của ḿnh v́ tôi có một số liên hệ nhân quả với cả hai người
mà tôi muốn thanh toán, liệu bạn có đồng ư như vậy chăng?”.
Thường thường th́ đề nghị ấy dường như được chấp nhận và kế hoạch sẽ
được tiến hành suôn sẻ. Chúng tôi chọn ngẫu nhiên một người v́ mục
đích khảo cứu và thấy có ba chơn ngă muốn nhập thế thông qua y sao
cho khi y dẫn vợ tương lai tới ra mắt Đức Bàn Cổ th́ y thỉnh cầu:
“Liệu chúng con có thể kết hôn với nhau được hay chăng khi có ba
chơn ngă đang chờ đợi giáng sinh thông qua chúng con?”.
Và Đức Bàn Cổ tán thành. Không có hôn lễ nào khác hơn sự ban phước
của Đức Bàn Cổ, người ta cũng không nhân dịp đám cưới mà tổ chức
tiệc tùng hoặc tặng quà. Không có điều ǵ mang bản chất một tờ hôn
thú. Những sự dàn xếp độc nhất là đơn hôn và không có chuyện giống
như ly hôn, mặc dù thỏa thuận này luôn luôn có thể chấm dứt được nếu
cả hai bên đồng ư. Người ta kết hôn với nhau rơ ràng với mục tiêu
cung cấp một hiện thể cho một linh hồn nào đó và khi điều ấy đă được
thực hiện an toàn th́ dường như họ có toàn quyền lựa chọn liệu có
tiếp tục sự thỏa thuận ấy nữa hay chăng. V́ cha mẹ được chọn lựa cẩn
thận và trong đa số trường hợp th́ sự thỏa thuận ấy lại được tiếp
tục cho nên vẫn cứ là vợ chồng suốt đời; nhưng có những trường hợp
mà thỏa thuận ấy bị chấm dứt và cả hai đằng lại tái hôn. Ở đây cũng
như mọi thứ khác bổn phận là yếu tố chiếm ưu thế và người ta luôn
luôn sẵn ḷng hi sinh sở thích cá nhân cho điều được nghĩ là tốt
nhất đối với cộng đồng nói chung. V́ vậy cuộc đời họ có rất ít ḷng
đam mê hơn cuộc đời trong những thế kỷ đă qua và t́nh cảm khắn khít
nhất có lẽ là giữa cha mẹ và con cái.
Có những trường hợp mà qui định bất thành văn (theo đó người ta
không kết hôn với người cùng loại) bị hủy bỏ chẳng hạn như khi người
ta muốn sinh ra những đứa con có thể được các thiên thân rèn luyện
để làm lễ sư cho một Đền thờ đặc biệt nào đó. Trong trường hợp hiếm
có khi người ta bị tai nạn qua đời th́ y ngay tức khắc bị nhốt vào
thể vía và được dàn xếp để tái sinh ngay. Đa số người ta đều muốn
sinh ra làm con của những thành viên trong Hội đồng; tuy nhiên những
thành viên này cũng chỉ có số lượng con cái thông thường như mọi
người kẻo phẩm chất sẽ bị thoái hóa việc sinh ra trong gia đ́nh của
chính Đức Bàn Cổ là một vinh hạnh lớn nhất; nhưng cố nhiên chính
ngài tuyển lựa con cái. Giữa các giới tính không có sự phân biệt về
thân phận và họ đảm nhận bất kỳ công việc nào cần làm không phân
biệt nam nữ. Về vấn đề này thật thú vị khi ta ghi lại ư kiến của một
người vào thời kỳ ấy mà chúng tôi đă khảo sát v́ mục đích đặc biệt
này. Người ấy dường như không thấy có sự khác nhau nhiều giữa đàn
ông và đàn bà. Y bảo rằng cần phải có hai giống th́ mới tạo được
giống dân, nhưng chúng tôi biết rằng phụ nữ đang hợp thời hơn. Y cảm
thấy rằng khi sinh con đẻ cái th́ phụ nữ gánh phần việc nặng nhọc
hơn cho nên cần được thương cảm và che chở. Thế nhưng, Hội đồng gồm
toàn đàn ông và dưới quyền của Đức Bàn Cổ. Các thành viên của Hội
đồng đang làm thí nghiệm để tạo ra những thể xác do trí sinh ra. Họ
đă sản sinh ra một số bản sao khả kính của loài người, nhưng chưa
thành công đến mức thỏa măn được Đức Bàn Cổ.
HOME T̀M HIỂU NHẬP MÔN sách TIỂU SỬ BẢN TIN H̀NH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 NỮ THẦN ISIS