Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lư

 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS

Trích Giáo Lư Bí Truyền Quyển 5

Tác giả H.P.Blavatsky

Bản dịch www.thongthienhoc.com

TIẾT 32

DI TÍCH CỦA CÁC BÍ PHÁP

 

TIẾT 32

DI TÍCH CỦA CÁC BÍ PHÁP

Mục “Mặt trời” trong Bách khoa Từ điển Tam Điểm Hoàng gia nói:

Lúc nào th́ Mặt trời cũng tất yếu đóng một vai tṛ quan trọng là một biểu tượng, và nhất là ở Hội Tam Điểm. W. M tiêu biểu cho mặt trời mọc, J. M tiêu biểu cho mặt trời lúc giữa trưa và S. M là tiêu biểu cho mặt trời lặn. Trong các nghi thức Druid, Tổng-Druid tượng trưng cho mặt trời và được hai quan chức khác trợ giúp, một quan chức tượng trưng cho Mặt trăng ở phương Tây, c̣n quan chức khác tượng trưng cho Mặt trời ở phương Nam, trên thiên đỉnh. Hoàn toàn không cần bất kỳ sự bàn luận dài dài nào về biểu tượng này.

 Càng “không cần” v́ J. M. Ragon đă bàn luận về nó một cách rất rốt ráo (người ta có thể thấy điều này ở cuối Tiết 29), nơi mà người ta đă trích dẫn một phần những lời giải thích của ông. Như ta đă nói, các nghi thức của Hội Tam Điểm bắt nguồn từ Đông phương. Và nếu khi nói về các nhà Hoa hồng Thập tự hiện đại, thật là đúng khi bảo rằng “họ được trang bị một kiến thức về sự hỗn mang; có lẽ không đáng lĩnh hội lắm”, th́ nhận xét này c̣n đúng hơn nữa khi áp dụng cho các ngành khác của Hội Tam Điểm, v́ các Hội viên Tam Điểm không hề hiểu biết ǵ về ư nghĩa rốt ráo của biểu tượng ḿnh. Xét về các “Tháp tṛn” của Ái Nhĩ Lan, người ta đă cầu viện tới cả tá giả thuyết, giả thuyết này c̣n không chắc có thực hơn giả thuyết kia. Chỉ nội sự kiện này cũng đủ cho thấy sự dốt nát của các Hội viên Tam Điểm, nghĩa là, theo Bách khoa Từ điển Tam Điểm Hoàng gia, người ta có thể ngay tức khắc gạt bỏ ư tưởng “các Tháp tṛn có liên hệ với cuộc Điểm đạo Tam Điểm” cho là không đáng chú ư. Các “Tháp” này - vốn rải rác khắp Đông Á - có liên quan tới các cuộc Điểm đạo Bí nhiệm, nghĩa là liên quan tới Vishvakarman và các nghi thức Vikartana. Các ứng viên Điểm đạo được đặt trong tháp ba ngày ba đêm, nơi chẳng có đền thờ với một hầm mộ dưới đất ở gần đó. Những tháp tṛn này được xây dựng mà không có mục đích nào khác. Cho dù với giáo sĩ Kitô giáo không tín nhiệm những công tŕnh kiến trúc có nguồn gốc Ngoại đạo như thế - vậy là giới giáo sĩ ấy đă “làm dơ cái tổ của chính ḿnh” - song chúng vẫn c̣n là những di tích sống động và bất diệt của Minh triết thời xưa. Chẳng một điều ǵ tồn tại trong ngoại giới hăo huyền này của ta mà không thể bị người ta dùng phục vụ cho hai mục đích - một mục đích tốt và một mục đích xấu. Thế là sau này, các Điểm đạo đồ đạo và các nhà nhân chủng học nắm giữ hầu hết các di tích khả kính đó (bấy giờ đă im lặng và bị những người đồng môn minh triết trước tiên bỏ rơi) và quả thật biến chúng thành những công tŕnh của tục thờ cúng dương vật. Nhưng đây là việc thuyết giải sai lạc ư nghĩa chân thực của chúng một cách cố ư, có chủ tâm và độc hại, một sự lệch lạc đối với công dụng đầu tiên của chúng. Trong mọi tôn giáo b́nh dân công truyền, Mặt trời - mặc dù đă từng, thậm chí (đối với đại chúng) là ‘Ông Vua và Thần linh duy nhất trên trời” và là “Thần linh có Lời khuyên Tốt lành” của Orpheus - có một khía cạnh lưỡng phân mà kẻ phàm phu nhân h́nh hóa. Như thế Mặt trời là Osiris-Typhon, Ormuzd-Ahriman, Bel-Jupiter và Baal, thiên thể sáng ban cấp sự sống và sự chết. Và thế là cùng một tảng đá nguyên khối, cột trụ, kim tự tháp hoặc đền thờ - thoạt tiên được dựng nên để vinh danh nguyên lư hoặc ngôi một - sớm muộn ǵ cũng trở thành đền miếu thờ thần tượng, hoặc tệ hơn là một biểu tượng thờ cúng dương vật dưới dạng thô thiển và thô tục. Tượng dương vật của tín đồ Ấn Độ giáo có một ư nghĩa tâm linh và triết học cao siêu, trong khi các nhà truyền giáo thấy nó chẳng qua là một “biểu hiệu khiếm nhă”. Nó có ư nghĩa đúng như ư nghĩa của baalim, chammanim và bamoth với các cột trụ của tảng đá không được đẽo gọt trong Thánh kinh, được dựng nên để vinh danh Jehovah nam tính. Nhưng điều này không làm thay đổi được sự kiện pureia của người Hy Lạp, nur-hags của người Sardinia, teocalli của người Mexico v.v. . . .  đều thoạt đầu là có tính chất giống hệt như các “Tháp Tṛn” của Ái Nhĩ Lan. Chúng đă là những nơi chốn linh thiêng để Điểm đạo.

 Năm 1.877, khi trích dẫn thẩm quyền và ư kiến của một số học giả lỗi lạc hơn, tác giả dám quả quyết rằng có một sự khác nhau lớn lao giữa các từ ChrestosChristos, một sự khác nhau có ư nghĩa Bí truyền sâu sắc. Cũng vậy, trong khi Christos có nghĩa là “sống” và “được sinh ra vào một cuộc sống mới”, th́ Chrestos - trong thuật ngữ “Điểm đạo” - có nghĩa là sự tiêu vong của bản chất nội tâm, hạ đẳng tức phàm ngă nơi con người. Thế là điều này cung ứng ch́a khóa cho tước hiệu của Bà la môn “kẻ hai lần sinh ra” và cuối cùng, 

Từ lâu rồi trước Công nguyên đă có những người Chrestos và cộng đồng Essenes thuộc về những người này. [[1]] 

Đó là v́ người ta khó ḷng mà có thể t́m thấy tác giả nêu lên đặc trưng của những biệt hiệu này một cách đúng mức là chê trách. Thế nhưng lúc bấy giờ cũng như hiện nay, tác giả chẳng bao giờ thử phát biểu một cách nghiêm túc mà không dẫn chứng nhiều người có thẩm quyền tập hợp lại. Thế là ở trang kế tiếp có nói rằng: 

Lepsius cho thấy rằng từ Nofre nghĩa là Chrestos, “thiện” và một trong các tước vị của Osiris, “Onnofre” phải được dịch là “tính thiện của Thượng Đế hiển lộ”. Mackenzie giải thích: “Việc kính ngưỡng Đấng Christ không có tính cách phổ quát trên thế giới vào thời kỳ sơ khai này, như vậy là Tôi có ư muốn nói rằng việc kính ngưỡng Đấng Christ đó chưa được du nhập, nhưng việc kính ngưỡng Chrestos - Nguyên lư Thiện - đă có trước nó hàng bao nhiêu thế kỷ, và ngay cả vẫn sống c̣n sau khi người ta nói chung là đă chọn theo Kitô giáo; điều này được chứng tỏ trên các công tŕnh kiến trúc vẫn c̣n tồn tại . . . Lại nữa, trên một tấm văn bia ta thấy có một đoạn ghi khắc vốn là Tiền Kitô (Spon. Misc. Erud., Ant., x, xviii, 2), . . . . . . vàde

Rossi (Roma Sotteranea, quyển i, tav. xxi,) cung cấp cho ta một ví dụ khác từ các hầm mộ - “Ællia Chreste, in Pace [Ællia Chrestos, b́nh an”] [[2]]

Ngày nay, tác giả có thể thêm vào mọi bằng chứng này sự bổ chứng của một tác giả bác học, dựa vào thẩm quyền của chứng minh h́nh học, ông chứng minh được bất cứ điều ǵ mà ông đảm nhận việc chứng tỏ. Trong Cội nguồn các Số đo có một đoạn kỳ quặc nhất với những nhận xét và lời giải thích; tác giả của quyển sách này có lẽ đă chẳng bao giờ nghe nói tới “Thần linh Bí nhiệm”, Vishvakarman của những người Āryan sơ khai. Khi bàn về sự khác nhau giữa các thuật ngữ Chrest và Christ, ông kết luận bằng cách nói rằng: 

Có hai Đấng Messiah: một Đấng đi xuống địa ngục để cứu rỗi thế giới này, đây là Mặt trời bị cắt xén mất các tia hoàng kim, và được thưởng cho các tia bị nhuộm đen (biểu tượng của sự mất mát này) giống như những cái gai; Đấng kia là Đấng Messiah chiến thắng leo lên tới đỉnh khải hoàn môn trên trời và được nhân cách hóa là con Sư tử của Bộ tộc Judah. Trong cả hai trường hợp, Ngài đều có thập tự giá; một lần khi bị sỉ nhục c̣n một lần giữ nó trong tầm kiểm soát của ḿnh với vai tṛ là luật sáng tạo, Ngài là Jehovah.

Thế rồi tác giả tiến hành việc tŕnh bày “sự kiện” theo đó “có hai đấng Messiah” v.v. . .  như nêu trên. Và điều này - bỏ qua tính cách thiêng liêng và thần bí cùng với lời rêu rao về việc Chúa Giêsu hoàn toàn độc lập với biến cố đời sống hữu tử của Ngài - chứng tỏ cho Ngài thấy (một cách không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, trên cương vị là một Điểm đạo đồ của các Bí pháp Ai Cập) đâu là nơi cử hành cũng nghi thức ấy về sự Chết và sự Phục sinh tinh thần dành cho kẻ sơ cơ, tức là Chrestos đau khổ khi bị thử thách và cuộc sống mới do sự Phục sinh - đó là v́ đây là một nghi thức được mọi người chọn dùng một cách phổ biến.

 Như ta đă chứng tỏ trước kia “địa ngục” mà người ta khiến cho Điểm đạo đồ Đông phương đi xuống chính là Pātāla, một trong bảy vùng của âm phủ mà Vasuki (“Thần rắn” vĩ đại) chưởng quản. Trong biểu tượng hệ Đông phương, địa ngục Pātāla này cũng có ư nghĩa đa tạp giống hệt như ư nghĩa mà ông Ralston Skinner t́m thấy nơi từ Hebrew shiac khi nó được áp dụng vào trường hợp mà ta đang xét. Đó là v́ nó đồng nghĩa với Hổ cáp - các chiều sâu của Pātāla “thấm nhuần sự chói sáng của Mặt trời mới” - được biểu diễn bởi “kẻ mới được sinh” vào vinh quang; và theo một ư nghĩa nào đó, Pātāla đă và đang là “một cái hố, một ngôi mộ, nơi chốn của sự chết và cánh cửa của Âm ty tức Sheol” (cũng giống như trong các cuộc điểm đạo một phần là công truyền ở Ấn Độ, ứng viên phải đi qua tử cung của con bê cái trước khi đi tới Pātāla. Theo ư nghĩa phi thần bí, đó là điểm Đối cước - ở Ấn Độ, châu Mỹ được gọi là Pātāla. Nhưng trong biểu tượng hệ của ḿnh, nó có nghĩa là tất cả mọi điều đó, và c̣n nhiều hơn nữa. Chỉ nói sự kiện Vāsuki (Thần linh cai quản Pātāla)  được Đền thờ ở Bách thần Ấn Độ biểu diễn là con Rắn (Nāga) vĩ đại - chư Thần linh và Asuras dùng con Rắn này làm một sợi dây thừng quấn xung quanh núi Mandara, vào lúc khuấy động đại dương để chắt lấy nước cam lồ trường sinh bất tử Amrita - cũng đủ trực tiếp liên kết Ngài với sự Điểm đạo.

Đó là v́ Ngài cũng là Shesha Nāga, được dùng làm một cái giường của Vishnu, nâng đỡ bảy cơi; và Ngài cũng là Ananda “Đấng vô tận” biểu tượng của vĩnh hằng - v́ thế cho nên Ngài là “thần Minh triết Bí nhiệm”, mà Giáo hội đă làm cho thoái hóa xuống vai tṛ con Rắn cám dỗ tức quỷ Sa tăng. Ta có thể kiểm chứng tính chính xác của điều được nói ra bây giờ nhờ vào bằng chứng của ngay cả bản dịch công truyền các thuộc tính của đủ thứ Thần linh và Hiền triết nơi Đền thờ Bách thần của cả Ấn Độ giáo lẫn Phật giáo. Hai ví dụ ắt cũng đủ cho ta thấy các nhà Đông phương học khá nhất và uyên bác nhất có thể bàn tới biểu tượng hệ của các quốc gia Đông phương một cách ít chính xác và ít thích đáng xiết bao; trong khi đó, họ vẫn c̣n không biết tới những điều tương ứng vốn chỉ có trong Huyền bí học và Giáo lư Bí truyền. 

(1) Nơi một trong các tác phẩm về Tây Tạng, Giáo sư Emil Schlagintewit (nhà Đông phương học uyên bác và nhà du hành Tây Tạng) có đề cập tới một huyền thoại dân tộc với nội dung là: 

Long Thọ [học giả uyên bác người Đức nghĩ rằng đây là một nhân vật “thần thoại không thực sự tồn tại”] tiếp nhận Chân đế (hoặc là Kinh Hoa nghiêm, theo những người khác) từ các Nāgas, các tạo vật hoang đường có bản chất là những con rắn, chúng giữ một địa vị trong đám sinh linh cao hơn con người, và được coi là chư Long thần hộ tŕ Phật pháp. Người ta nói rằng Đức Phật Thích Ca đă dạy cho các thực thể tâm linh này một hệ thống tôn giáo có tính chất triết lư hơn hệ thống dành cho loài người, vốn không đủ tiên tiến để hiểu được nó vào lúc Ngài xuất hiện. [[3]]

 

Bây giờ con người vẫn chưa đủ tiên tiến để tiếp nhận nó, v́ “hệ thống tôn giáo có tính chất triết lư hơn” chính là Giáo lư Bí truyền, triết học Đông phương Huyền bí, vốn là ḥn đá tảng của mọi khoa học và những thợ xây thiếu minh triết vứt bỏ măi cho tới tận ngày nay, và ngày nay lại c̣n nhiều hơn bao giờ hết v́ thời đại của ta rất kiêu ngạo. Ẩn dụ chỉ có nghĩa là Long Thọ [sau khi đă được những “con Rắn” - các Cao đồ, “các Đấng Minh triết” - điểm đạo và bị người Bà la môn trục xuất ra khỏi Ấn Độ - người Bà la môn sợ các Bí pháp và Khoa học tư tế của ḿnh sẽ bị truyền bá ra ngoài (nguyên nhân thực sự của việc họ ghét Phật giáo), đă đi tới tận Trung Quốc và Tây Tạng, nơi ông điểm đạo cho nhiều người nhập vào các chân lư về các Bí pháp ẩn tàng mà Đức Phật Thích Ca đă dạy. 

 (2) Người ta đă chẳng bao giờ hiểu được biểu tượng hệ ẩn tàng của Nārada - bậc đại Thánh hiền, tác giả của một số Thánh ca Rig Veda, sau này, Ngài lại lâm phàm vào thời Krishna. Thế nhưng xét về các Khoa học Huyền bí, th́ Nārada, con trai của Brahmā, là một trong những nhân vật chính nổi bật nhất; trong kiếp lâm phàm thứ nhất, ông có liên hệ trực tiếp với các “Nhà Xây dựng” - v́ thế cho nên có liên hệ với bảy “Đấng Giám quản” của Giáo hội Kitô, các Ngài “trợ giúp Thiên Chúa giáo trong công tác sáng tạo”. Các nhà Đông phương học khó ḷng mà nhận thấy sự nhân cách hóa vĩ đại này, họ chỉ đề cập tới điều mà người ta cho rằng Nārada nói về Pātāla, nghĩa là: “đó là một nơi chốn để thỏa măn tính dục và nhục dục”. Người ta nghĩ rằng điều này thật là vui thú, và việc suy gẫm gợi ư rằng chắc chắn là Nārada “thấy chỗ này thật là thú vị”. Thế nhưng, câu này chỉ chứng tỏ rằng Nārada là một Điểm đạo đồ, có liên hệ trực tiếp với các Bí pháp; cũng như mọi kẻ sơ cơ khác bước đi trước và sau ông, Nārada phải bước đi trong “cái hố giữa bụi gai” trong “t́nh huống Chrest hi sinh”, v́ người ta bắt nạn nhân phải đi xuống đó - quả thật là một bí nhiệm!

 Nārada là một trong bảy Thánh hiền, “con trai sinh ra từ trí tuệ” của Brahmā. Lịch sử của ông đă chứng minh và bổ chứng cho sự kiện trong kiếp lâm phàm, ông đă là một Điểm đạo đồ cao cấp - cũng giống như Orpheus, ông đă sáng lập ra các Bí pháp. Mahābhārata có nói rằng Daksha đă nguyền rủa Nārada và kết án ông phải sinh ra một lần nữa, v́ ông đă làm phá sản kế hoạch khiến cho vũ trụ có đầy dân cư do ông muốn giữ đúng lời đại nguyện trinh khiết. Lại nữa, khi sinh ra vào thời Krishna, ông bị kết tội là đă gọi cha ḿnh (Brahmā) là “một đạo sư giả”, v́ Brahmā đă khuyên ông kết hôn và ông từ chối làm như thế. Điều này cho thấy ông đă là một Điểm đạo đồ, chống lại tôn giáo và sự kính ngưỡng chính thống. Thật là kỳ lạ khi ta thấy bậc Thánh hiền và Lănh tụ này trong đám các “Nhà Xây dựng” với “Tập đoàn Thiên giới” trên cương vị là nguyên kiểu của “thủ lĩnh” Kitô giáo cũng của “Tập đoàn” ấy - Tổng Thiên thần Michael. Cả hai đều là những nam nhân “c̣n tân”, và cả hai đều là những người duy nhất trong đám các “Tập đoàn” riêng của ḿnh không chịu sáng tạo. Nghe nói Nārada đă can gián các Hari-ashvas, (5.000 con của Daksha, do ông sinh ra để cho Trái đất có đông dân) đừng sinh con đẻ cái. Từ lúc đó, các Hari-ashvas đă “phân tán đi khắp các vùng và đă chẳng bao giờ trở lại”. Có lẽ phải chăng các Điểm đạo đồ là hiện thân của các Hari-ashvas này?

Chính vào ngày thứ bảy (lần thứ ba trong cuộc thử thách tối hậu của ḿnh) mà kẻ sơ cơ trỗi dậy. Đó là một kẻ đă phục sinh, sau khi đă trải qua sự giáng sinh tâm linh thứ hai của ḿnh, Ngài trở lại thế gian trên cương vị là một người chiến thắng vinh diệu đă chinh phục được Sự chết, một Đạo trưởng. Trong một tác phẩm chạm trổ nào đó của Đền thờ Bách thần của Moor, ta có thể thấy một kẻ sơ cơ nào đó trong t́nh trạng Chrest. Tác giả Moor đă nhầm lẫn một dạng khác của Mặt trời bị thập giá h́nh (tức Vishnu, Vithoba) với Krishna và gọi nó là “Krishna bị thập giá h́nh trong không gian”. H́nh chạm trổ này cũng được tŕnh bày trong Kitô giáo Đài Kỷ niệm của Tiến sĩ Lundy, trong tác phẩm này, tác giả khả kính đă sưu tập hết mức (mà quyển sách nặng nề của ông có thể dung nạp được) những bằng chứng về “các biểu tượng Kitô trước thời Kitô giáo” (ông diễn đạt như vậy). Thế là ông tŕnh bày với ta Krishna và Apollo là những mục tử tốt lành, Krishna cầm cái Vỏ ốc h́nh chữ thập và Bánh xe, và Krishna bị “thập giá h́nh trong Không gian” (ông gọi như vậy). Về h́nh này, quả thật là ta có thể nói (chính tác giả cũng nói về nó như vậy): 

 

Tôi tin rằng sự biểu diễn này có trước thời Kitô giáo. Xét về nhiều phương diện, ta thấy nó giống như một thập tự giá của Kitô giáo. H́nh vẽ, thái độ, những vết đinh ở tay và chân, biểu thị một nguồn gốc Kitô giáo, c̣n vương miện nhỏ Parthia gồm bảy điểm, sự thiếu gỗ và câu ghi khắc thường lệ, cùng với những tia vinh quang ở bên trên, dường như nêu rơ một nguồn gốc khác hơn là Kitô giáo. Phải chăng đây có thể là nạn nhân (hoặc vừa là tu sĩ vừa là nạn nhân) của thần thoại học Ấn Độ, ông đă hiến ḿnh hi sinh trước thế gian?

Chắc chắn là như thế rồi,

Có thể nào đó là Thượng Đế thứ hai của Plato vốn in dấu bản thân lên vũ trụ dưới dạng thập tự giá? Hoặc đó là con người thiêng liêng của ông, vốn bị roi vọt, hành hạ, xiềng xích, đốt mắt; và cuối cùng . . . . bị hành h́nh trên thập tự giá

 

Đó là tất cả mọi điều ấy và c̣n nhiều hơn nữa; Triết học tôn giáo cổ sơ vốn đại đồng thế giới và các Bí pháp của nó cũng xưa như con người. Đó là biểu tượng vĩnh hằng của Mặt trời được nhân cách hóa - được tẩy trược về mặt thiên văn học - xét theo ư nghĩa thần bí là được phục sinh, và được mọi Điểm đạo đồ dùng làm biểu tượng để tưởng nhớ tới một Nhân loại vô tội khi mọi người đều là “Con của Thượng Đế”. Giờ đây, loài người quả thật đă trở thành “Con của điều Ác”. Liệu mọi điều này có làm mất đi phẩm giá của đấng Christ trên cương vị là một lư tưởng hoặc phẩm giá của chúa Giêsu trên cương vị là một con người thiêng liêng? Tuyệt nhiên không. Ngược lại, khi được tách riêng ra và được tôn vinh vượt lên trên mọi “Con của Thượng Đế” khác, Ngài chỉ có thể kích động những cảm xúc ác độc nơi mọi quốc gia đông dân vốn không tin vào hệ thống Kitô giáo, khiến cho họ thù ghét, gây ra những cuộc tranh chấp và chiến tranh tội lỗi. Mặt khác, nếu ta đặt Ngài trong đám một chuỗi dài các “Con Thượng Đế” và “Con Ánh sáng Thiêng liêng” th́ ta có thể bỏ mặc cho mỗi người tự ư chọn Ngài trong đám nhiều ư tưởng mà y ắt chọn làm một vị Thượng Đế để cho y cầu nguyện và tôn thờ trên trần thế cũng như trên Trời.

 Nhiều người trong đám các Đấng tên là “Đấng Cứu thế” đều là các “mục tử tốt lành” (chẳng hạn như Krishna là một Đấng đó) cùng với tất cả các Đấng mà người ta nói là đă “đập nát đầu con rắn” - nói cách khác đă chinh phục được bản chất sắc dục của ḿnh, đă thấu triệt được Minh triết Huyền bí thiêng liêng. Apollo giết Python, một sự kiện khiến cho y miễn khỏi bị kết tội bản thân là con Rồng lớn, quỉ Sa tăng: Krishna giết con rắn Kālināga, Hắc xà; c̣n Thor của dân Scandinavia giă nát đầu con ḅ sát biểu tượng bằng cái chùy thập giá h́nh của ḿnh.

Ở Ai Cập, mọi thành phố quan trọng đều được một hồ linh thiêng cách ly với nơi chôn cất người chết. Cũng nghi lễ phán xét - được Tử Thư (“cái quyển sách quư báu và bí nhiệm” theo lời Bunsen) mô tả là diễn ra trong thế giới vong linh - diễn ra trên trần thế trong khi người ta chôn cất xác ướp. Bốn mươi hai thẩm phán hoặc hội thẩm tụ tập trên bờ hồ để phán xét “Linh hồn” người quá cố tùy theo các hành động của nó khi c̣n nhập xác. Sau đó, các lễ sư quay về bên trong các vùng ngoại vi linh thiêng và giáo huấn cho kẻ sơ cơ về số phận khả hữu của Linh hồn; thế rồi tới vở kịch long trọng diễn ra trong cơi vô h́nh mà Linh hồn đă đào tẩu về đó. Al-om-jah (danh xưng của Đạo trưởng cao nhất Ai Cập) đă khắc sâu tính bất tử của Tinh thần vào trong tâm trí của những kẻ sơ cơ. Sau đây là sự mô tả bốn trong số bảy cấp Điểm đạo của Crata Nepoa (các Bí pháp Lễ Sư ở Ai Cập).

Sau khi bị thử thách sơ bộ ở Thebes - nơi mà kẻ sơ cơ phải trải qua nhiều cuộc dự bị được gọi là mười hai “cuộc Hành hạ” - y được lệnh (để cho y có thể xuất lộ trong chiến thắng) chế ngự các đam mê của ḿnh và không bao giờ quên mất ư tưởng về Thượng Đế nội tâm tức Nguyên khí thứ bảy của ḿnh. Thế rồi, với vai tṛ là biểu tượng của việc Linh hồn chưa tẩy trược đi lang thang, y phải leo lên bảy cái thang và đi lang thang trong bóng tối của một hang động có nhiều cửa, mọi cửa đều bị khóa chặt. Sau khi đă vượt qua mọi điều đó, y nhận được cấp Pastophoris, sau đó y trở thành Neocoris và Melancphoris (cấp hai và cấp ba). Khi được đưa vào trong một buồng dưới đất quàn đầy xác ướp, y được đặt trước quan tài có chứa cái xác bị cắt xén của Osiris. Đây là sảnh đường tên là “Các Cổng Chết”, do đó mới có câu thơ trong Thánh thư Job:

 

Các cổng Chết có mở ra đón người chăng?

Ngươi có thấy các cánh cửa bóng tối chết chóc hay chăng?

 

“Đấng Chúa tể”, Đạo trưởng, Al-om-jah, Đấng Điểm đạo cho Job hỏi như thế, ám chỉ cấp điểm đạo thứ ba này. Đó là v́ Thánh thư Job là bài thơ tuyệt vời về Điểm đạo.

 Khi kẻ sơ cơ đă chế ngự được những nỗi khủng khiếp của cuộc thử thách này th́ y được dẫn tới “Chơn linh Sảnh” để cho các Chơn linh xét xử y. Trong những qui tắc mà y được giáo huấn th́ y được lệnh: 

Không bao giờ muốn hoặc t́m cách trả thù, luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ một huynh đệ đang bị nguy hiểm, cho dù phải liều mạng sống của chính ḿnh; chôn cất mọi xác chết; tôn vinh cha mẹ ḿnh trên hết; kính trọng người già và bảo vệ những người yếu hơn ḿnh; cuối cùng, bao giờ cũng ghi nhớ giờ chết và giờ phục sinh trong một cơ thể mới bất tử”.

 

Người ta rất khuyến khích hạnh trong sạch và trinh khiết, và người ta hăm dọa là kẻ ngoại t́nh sẽ bị chết. Thế là một đạo sinh sơ cơ Ai Cập được trở thành một Kristophoros. Ở cấp này, người ta trao truyền cho y Mật danh IAO.

 Xin độc giả hăy so sánh những điều cao cả nêu trên với những huấn điều của Đức Phật, và những điều răn cấm cao thượng trong “Quy tắc Sống” dành cho các tu sĩ khổ hạnh ở Ấn Độ; thế là y sẽ hiểu được tính thống nhất của Giáo lư Bí truyền ở khắp nơi.

 Không thể chối bỏ sự hiện diện của một yếu tố tính dục trong nhiều biểu tượng tôn giáo, nhưng sự kiện này tuyệt nhiên không thể bị chỉ trích, một khi mà thiên hạ nói chung đều biết rằng - trong các truyền thuyết tôn giáo của mọi xứ - trong giống “người” đầu tiên, con người không hề do cha mẹ sinh ra. Từ các “Con sinh ra từ trí tuệ của Brahmā” sáng rực, các Rishis và từ Adam Kadmon với các phân thân (Sephiroth) xuống măi tới các “Đấng vô phụ mẫu” (Anupādaka) tức các Thiền na Phật - chư Bồ tát và chư Mānushi-Buddha, các Điểm đạo đồ trên trần thế, tức các con người đều sinh ra từ chư Thiền na Phật - mọi quốc gia đều coi như giống người đầu tiên sinh ra không có cha mẹ. Con người, “Mānushi-Buddha”, Đấng Bàn Cổ Manu, “Enosh”, con của Seth tức “Con Người”  (ông được gọi như vậy) sinh ra theo cách hiện nay chỉ với vai tṛ là hệ quả, là định mệnh không thể tránh khỏi của luật tiến hóa tự nhiên. Loài người - sau khi đă đạt tới giới hạn cuối cùng và đă tới bước ngoặt mà bản chất tâm linh của nó phải nhường chỗ cho sự tổ chức chỉ thuần là vật thể - phải “sa vào vật chất” và sinh sôi nảy nở. Nhưng sự thăng thượng tiến hóa và giáng hạ tiến hóa của con người có tính cách tuần hoàn. Y sẽ chấm dứt ở nơi y đă bắt đầu. Dĩ nhiên là đối với các đầu óc đặc sệt duy vật của ta, ngay cả biểu tượng hệ cao cả về Càn khôn được thai nghén trong cái tử cung Không gian sau khi Đơn vị thiêng liêng đă nhập vào và làm cho nó đơm hoa kết trái theo sắc lệnh thiêng liêng, chắc chắn là gợi ra tính cách vật chất. Đối với loài người nguyên thủy th́ không phải như vậy. Nghi thức Điểm đạo trong các Bí pháp - Nạn nhân hy sinh bản thân chết, một sự chết tâm linh để cứu cho thế giới khỏi bị hủy diệt, thực ra là giảm dân số - được xác lập trong khi có Giống dân thứ Tư để tưởng niệm một biến cố (xét về mặt sinh lư học) giờ đây đă trở thành Bí nhiệm của các Bí pháp trong số các vấn đề thế giới. Trong kịch bản Do Thái giáo chính Cain và Abel (nữ) là cặp hy sinh và bị hy sinh - cả hai đều hiến ḿnh (với vai tṛ là chuyển vị của Adam và Eve, tức Jehovah lưỡng phân) và đổ máu “chia ly và kết hợp” để cứu chuộc và v́ ích lợi của loài người bằng cách khai sinh ra một giống dân sinh lư mới. Măi sau này như ta đă nói, khi kẻ sơ cơ - để được một lần nữa sinh trở lại vào trạng thái tâm linh đă mất - phải trải qua trong ḷng (tử cung) của một con ḅ cái tơ c̣n trinh [[4]] bị giết vào lúc có nghi thức, th́ điều này lại bao hàm một bí nhiệm lớn lao, v́ nó đề cập tới tiến tŕnh sinh sản, hoặc đúng hơn là việc con người lần đầu tiên nhập vào trần thế thông qua Vāch - “con ḅ cái du dương cấp sữa gồm có nước và chất dinh dưỡng” - và chính là Ngôi Lời nữ giới. Nó cũng nhằm nói tới chính sự hiến thân của “Đấng Thư hùng thiêng liêng” - của Căn chủng thứ Ba - sự biến đổi Nhân loại thành ra những người thực sự vật thể, sau khi đă mất mănh lực tâm linh. Khi người ta đă nếm trái ác cùng với trái thiện, kết quả là tính tâm linh dần dần bị teo tóp và tính vật chất được tăng cường nơi con người, th́ kể từ nay, số phận của y là sinh ra theo tiến tŕnh hiện tại. Đây là Bí nhiệm về Đấng Thư hùng mà Cổ nhân giữ bí mật và che giấu. Không phải là việc thiếu cảm xúc đạo đức, cũng chẳng phải là tính đa dục thô thiển khiến cho họ tưởng tượng ra các Đấng Thiêng liêng của ḿnh với một bản chất lưỡng phân, mà đúng hơn là chính kiến thức của họ về các bí nhiệm và tiến tŕnh của Thiên nhiên nguyên sơ mới khiến cho họ như vậy. Họ biết rơ về khoa sinh lư học hơn ta biết hiện nay. Chính nơi điều này có chôn vùi ch́a khóa của biểu tượng hệ cổ xưa, tiêu điểm chân chính của tư tưởng quốc gia và những h́nh ảnh lưỡng tính kỳ lạ của hầu hết Thần linh và Nữ thần trong các Đền thờ Bách thần của ngoại đạo lẫn độc thần giáo.

Trong Œdipus Judaïcus, Ngài William Drummond có nói:

Những chân lư khoa học là các bí quyết của các lễ sư v́ những chân lư này là nền tảng của tôn giáo.

 

Nhưng tại sao các nhà truyền giáo lại độc ác chê trách các kẻ tôn thờ Vishnu và Krishna đến như thế v́ giả định rằng các biểu tượng của họ có ư nghĩa thô tục không đứng đắn, trong khi những tác giả vô tư nhất đă minh giải - khiến người ta tuyệt nhiên không c̣n nghi ngờ ǵ nữa - rằng Chrestos trong cái hố (cho dù người ta coi như “cái hố” có nghĩa là ngôi mộ hay địa ngục đi chăng nữa) cũng có bao hàm một yếu tố tính dục, ngay từ căn nguyên của biểu tượng này.

Ngày nay người ta không c̣n chối bỏ sự kiện này nữa. Các “Huynh đệ Hoa hồng Thập tự” thời trung cổ cũng tốt như bất kỳ tín đồ Kitô giáo nào mà ta thấy ở Âu châu; tuy nhiên, mọi nghi thức của họ đều dựa vào những biểu tượng có ư nghĩa chủ yếu là thờ cúng tượng dương vật và có tính cách tính dục. Nhà viết tiểu sử của họ, Hargrave Jennings, người thời nay có thẩm quyền nhất về giáo thuyết Hoa hồng Thập tự, khi nói về Hội Huynh đệ thần bí này, mô tả làm thế nào mà

 

xét theo sự khải hoàn và pháp thuật linh thiêng vinh diệu của họ [Hoa hồng Thập tự] những sự hành hạ và sự hy sinh ở Calvary, sự chịu khổ h́nh trên Thập tự giá, lại là sự cam đoan và hiệu triệu.

Sự cam đoan - của ai? Xin đáp là sự cam đoan của Hoa hồng bị hành h́nh trên thập tự giá, biểu tượng lớn lao nhất và bí ẩn nhất trong mọi biểu tượng tính dục - Yoni và Lingam, “nạn nhân” và “kẻ sát nhân”, các nguyên lư âm và dương trong Thiên nhiên. Cứ mở tác phẩm cuối cùng của tác giả ấy ra [Tục thờ cúng tượng dương vật] và hăy xem ông dùng những lời lẽ sôi nổi xiết bao để mô tả biểu tượng hệ tính dục trong điều vốn thiêng liêng nhất đối với tín đồ Kitô giáo.

 

Máu chảy tuôn ra từ vương miện, tức là chiếc ṿng nhỏ xuyên thấu bao gồm những cái gai ở Địa ngục. Hoa hồng thuộc về nữ giới. Những cái gai bảo vệ những cánh hoa màu đỏ son rực rỡ của nó. Hoa hồng là nữ hoàng của Vườn Thượng Đế [Mary, Trinh nữ]. Chẳng phải chỉ có Hoa hồng mới là ư tưởng thần kỳ (tức chân lư). Nhưng chính “Hoa hồng bị hành h́nh trên thập tự giá” tức “Hoa hồng tử v́ đạo” (do đại h́nh tượng thần bí Khải huyền) mới là lá bùa, tiêu chuẩn, đối tượng tôn thờ của mọi “Con Minh triết” từ hội viên Hoa hồng Thập tự chân chính. [[5]]

Bằng bất cứ cách nào th́ cũng không phải là mọi “Con Minh triết”, thậm chí chẳng phải là hội viên Hoa hồng Thập tự chân chính. Đó là v́ hội viên Hoa hồng Thập tự chân chính ắt chẳng bao giờ lồng ghép biểu tượng vĩ đại nhất, cao quư nhất của Thiên nhiên vào sự cứu trợ kinh tởm như thế, vào một ánh sáng thuần túy sắc dục và trần tục (chứ đừng nói tới thú dục) như thế. Đối với hội viên Hoa hồng Thập tự, “Hoa hồng” là biểu tượng của Thiên nhiên, của Đất trinh nguyên và hằng đa sản tức Isis, mẹ nuôi dưỡng con người, được các Điểm đạo đồ Ai Cập coi là nữ giới và được biểu diễn là một người nữ c̣n trinh. Cũng như mọi sự nhân cách hóa khác về Thiên nhiên và Trái đất, bà là chị và vợ của Osiris, v́ cả hai nhân vật chính đều tương ứng với biểu tượng được nhân cách hóa của Trái đất, cả bà lẫn Mặt trời đều là con cái của cùng một vị Cha bí nhiệm, v́ - theo Thần bí học sơ khai nhất - Mặt trời làm cho Trái đất thụ thai bằng cách thổi vào nó một luồng thiêng liêng. Chính lư tưởng thuần túy của Thiên nhiên thần bí được nhân cách hóa nơi các “Trinh nữ Thế giới”, “Trinh nữ Thiên giới” và sau đây là Trinh nữ con người, Mary, Mẹ của Đấng Cứu thế, Salvator Mundi mà giờ đây Thế giới Kitô giáo lựa chọn. Và thần học đă phóng tác nhân vật chính trinh nữ Do Thái giáo theo biểu tượng kư cổ sơ [[6]], chứ không phải là biểu tượng Ngoại đạo vốn được uốn nắn cho cơ hội mới.

Herodotus cho ta biết rằng Orpheus - một vị anh hùng tiền bối của cả Homer lẫn Hesiod - đă mang các Bí pháp tới Ấn Độ. Người ta thực sự biết rất ít về Orpheus và măi cho tới gần đây, người ta vẫn gán kho tài liệu Orpheus (và ngay cả các anh hùng Argonauts) cho Onamacritus, một người đồng thời với Pisistratus, Solon và Pythagoras, người ta tin rằng Onamacritus biên soạn chúng dưới dạng hiện tại vào khoảng cuối thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên, tức 800 năm sau thời Orpheus. Nhưng nghe đâu vào thời Pausanias có một gia đ́nh tư tế - giống như người Bà la môn đối với kinh Vedas - đă minh tâm khắc cốt mọi Thánh ca Orpheus, thế là các thánh ca này thường được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bằng cách truy nguyên Orpheus tới tận 1.200 năm trước Công nguyên, khoa học chính thức - vốn cẩn thận xiết bao khi chọn niên đại (trong mỗi trường hợp) vào một thời kỳ càng mới gần đây càng tốt - ắt thừa nhận rằng các Bí pháp (hoặc nói cách khác, Huyền bí học được mang nhiều kịch tính) thuộc về một thời kỳ c̣n xa xưa hơn người Chaldea và người Ai Cập .

Bây giờ ta có thể đề cập tới sự suy đổi của các Bí pháp ở Âu châu. 


[[1]] Trong I. Peter, ii, 3, Chúa Jesus được gọi là “Chúa Chrestos” [trong văn bản tiếng Hy Lạp, mặc dù không có trong các bản dịch Hiệu đính có Thẩm quyền hoặc Bản dịch Douay].

[[2]] Nữ Thần Isis lộ diện, II, 323-324. 

[[3]] Phật giáo ở Tây Tạng, trang 31.

[[4]] Giống dân Āryan thay thế con ḅ cái sống bằng một con ḅ cái làm bằng vàng, bạc hoặc bất kỳ kim loại nào khác, và nghi thức được bảo tồn cho tới ngày nay, khi người ta muốn trở thành một người Bà la môn, một người được sinh ra hai lần, ở Ấn Độ.

[[5]] Sách đă dẫn, trang 141.

[[6]] Trong Thuyết Chính thống Tam Điểm của Ragon, trang 105, chú thích, ta thấy phát biểu sau đây - có lẽ được vay mượn của người Ả Rập Albumazar. “Trinh nữ của các Pháp sư và người Chaldea. Quả cầu Chaldea cho thấy trên trời một đứa bé mới sinh ra tên là Christ và Giêsu, nó được đặt vào trong ṿng tay của Trinh nữ Thiên giới, Eratosthenes, Quản thủ thư viện Alexandria, sinh năm 276 trước Công nguyên, gọi Trinh nữ này là Isis, mẹ của Horus”. Đây chỉ là điều mà Kircher tŕnh bày (trong Œdipus Ægyptiacus, iii, 5) trích dẫn Albumazar: “Nơi phân cung thứ nhất của cung Xử nữ xuất lộ một cô gái tên là Aderenosa, đó là trinh nữ vô nhiễm thuần khiết . . . . ngồi trên một cái ngai có thêu thùa và chăm sóc một bé trai . . ., một bé trai tên là Giêsu . . .  vốn có nghĩa là Issa, mà họ cũng gọi là Christ trong tiếng Hy Lạp”. (Xem Nữ thần Isis lộ diện, II, trang 491.)


 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS