|
|
HOME T̀M HIỂU NHẬP MÔN sách TIỂU SỬ BẢN TIN H̀NH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 NỮ THẦN ISIS
|
|
Trích GLBT của H.P.B.
Quyển 5
Bản dịch: www.thongthienhoc.com
TIẾT 33 – BÍ PHÁP CUỐI
CÙNG Ở ÂU CHÂU
|
|
TIẾT 33
BÍ PHÁP CUỐI
CÙNG Ở ÂU CHÂU
Tại sao các
thầy Thông giáo và các Đạo trưởng phải lập ra các Hội đoàn Huynh đệ
Bí mật - Sự Tiêu diệt những người Druid, các Lễ sư Giáo đoàn và các
Tân tín đồ ở Alesia xứ Gaul - Những Điều bí mật của các Đại Bí pháp
ở Âu Châu đă bị tiêu diệt ở Bibractis - Các Cao đồ chân chính trở
nên Hiếm có - Các Lễ sư Thông thái đă dạy khoa Luyện kim đan lần đầu
tiên ở Ai Cập.
TIẾT
33
BÍ PHÁP CUỐI CÙNG Ở ÂU CHÂU
Đúng như lời tiên đoán của Hermes vĩ đại trong buổi đàm thoại
với Æsculapius, quả thật đă đến lúc mà
những người nước ngoài vô đạo tố cáo Ai Cập tôn thờ các con quái vật
và chẳng có ǵ sống c̣n ngoại trừ những chữ khắc trên đá nơi các
dinh thự của Ai Cập - những câu đố mà hậu thế không thể hiểu nổi.
Những Kinh sư và Đạo trưởng linh thiêng của Ai Cập đă trở thành
những kẻ lang thang trên bề mặt trái đất. Những người c̣n lại ở Ai
Cập thấy ḿnh buộc ḷng phải - do sợ những Bí pháp linh thiêng bị
báng bổ - t́m cách tị nạn nơi núi non và sa mạc, tạo ra và lập nên
những hội huynh đệ và hội kín - chẳng hạn như cộng đồng Essenes.
Những người nào đă băng qua đại dương tới Ấn Độ và ngay cả tới (chỗ
giờ đây được gọi là) Tân Thế giới, bắt buộc phải long trọng thề kín
miệng và bảo mật Khoa học và Tri thức Linh thiêng của ḿnh; thế là
những điều này được chôn vùi măi măi khuất mắt con người. Ở Trung Á
và trên vùng biên giới phía Bắc Ấn Độ, thanh gươm chiến thắng của
học tṛ Aristotle đă quét sạch (ra khỏi con đường chinh phục của
ḿnh) mọi vết tích của điều đă từng có lần là một tôn giáo thuần
túy: và các Cao đồ của nó càng ngày càng lùi xa ra khỏi con đường đó
vào trong các các địa điểm ẩn khuất nhất trên địa cầu. Chu kỳ
* * * * *
khi đến hồi kết thúc th́ đă bắt đầu đến lúc các Bí pháp của các
Giống dân biến mất đối với nhà chinh phục Macedonia. Những tiếng
chuông đồng hồ đầu tiên của giờ cuối cùng của nó vang lên vào năm 47
trước Công nguyên. Theo như J. M. Ragon mô tả thật tuyệt vời th́
Alesia
[[1]]
đô thị nổi tiếng ở Gaul, Thebes của người Kelts, nổi tiếng xiết bao
về những nghi thức cổ xưa Điểm đạo và Bí pháp, chính là
Đô thị cổ xưa và ngôi mộ Điểm đạo của tôn giáo người Druid và của
nền tự do Gaul.
[[2]]
Giờ cuối cùng và tối cao của các Đại Bí pháp đă điểm trong ṿng thế
kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Lịch sử cho thấy đám dân cư ở miền
trung xứ Gaul nổi dậy chống lại ách nô lệ của người La Mă. Xứ sở
phải tuân
phục Cæsar và cuộc nổi dậy bị đè bẹp; kết
quả là việc tàn sát lực lượng đồn trú ở Alesia (tức Alisia) và mọi
cư dân của nó, kể cả người Druid, các lễ sư của hội đoàn và những kẻ
sơ cơ; sau đó toàn thể đô thị bị cướp bóc và san bằng thành b́nh
địa.
Bibractis, một đô thị vừa lớn vừa nổi tiếng ở không xa Alesia đă bị
diệt vong một ít năm sau đó. J. M. Ragon mô tả ngày tàn của nó như
sau:
Bibractis, mẹ của các khoa học, linh hồn của các quốc gia sơ khai [ở
Âu châu], một thị trấn cũng lừng danh nhờ có hội đoàn linh thiêng
người Druid, nền văn minh của nó, các trường học của nó, trong các
trường học này người ta dạy cho 40.000 sinh viên triết học, văn
chương, ngữ pháp, luật pháp, y học, chiêm tinh học, khoa học huyền
bí, kiến trúc v.v. . . . Vốn cạnh tranh với Thebes, Memphis, Athens
và Rome, nó có một khán đài ṿng xung quanh là những pho tượng khổng
lồ, chứa được 100.000 khán giả, đấu sĩ, một đài chiến thắng, các đền
thờ Janus, Pluto, Proserpine, Jupiter, Apollo, Minerva, Cybele,
Venus và Anubis; và ở giữa những dinh thự lộng lẫy này là Naumachy
với các vũng rộng mênh mông, một kiến trúc không thể tin được, một
công tŕnh khổng lồ trong đó nổi lềnh bềnh những chiếc thuyền và
thuyền galê dành riêng cho những tṛ chơi sông nước; rồi tới một
Trường đấu Hỏa tinh, một cống nước, những suối nước, những nhà
tắm công cộng; cuối cùng là những công sự và những vách lũy, việc
kiến tạo chúng diễn ra vào thời đại các anh hùng.
[[3]]
Đó là đô thị cuối cùng ở Gaul nơi mà đối với Âu châu, người ta đă
mất hết các bí nhiệm về các cuộc Điểm đạo của các Đại Bí pháp, các
Bí pháp Thiên nhiên và các chân lư Huyền bí của nó vốn đă bị lăng
quên. Cũng
chính Cæsar
[[4]]
đă thiêu đốt và hủy hoại những văn kiện
và bản thảo của thư viện Alexandria nổi tiếng, nhưng trong khi lịch
sử dèm pha hành động của viên tướng Ả Rập Amrus - ông rốt cuộc có
dính dáng tới hành vi hủy hoại công tŕnh văn hóa này mà nhà chinh
phục vĩ đại thực hiện - th́ lịch sử đă chẳng nói một lời nào tới
việc
Cæsar hủy hoại hầu như cùng một số lượng văn kiện quư giá ấy ở
Alesia, lịch sử cũng chẳng đả động ǵ tới
kẻ hủy diệt Bibractis. Trong khi Sacrovir - thủ lĩnh người Gaul, ông
đă nổi dậy chống lại chế độ độc tài của người La Mă dưới quyền
Tiberius và bị Silius đánh bại vào năm 21 sau Công nguyên - bị thiêu
sống (cùng với những kẻ âm mưu tổng hợp) trên một giàn hỏa táng
trước cổng thành (theo như Ragon kể lại) th́ thành này lại bị cướp
phá và cướp bóc, mọi kho tàng tài liệu của nó về Khoa học Huyền bí
đều bị lửa hủy hoại. Ragon giải thích điều đă từng một thời là thành
phố tráng lệ Bibractis, nay trở thành Autun.
Một ít đền đài cổ xưa vinh diệu vẫn c̣n đó, chẳng hạn như các đền
thờ Janus và Cybele.
Ragon tiếp tục:
Arles, vốn được lập nên 2.000 năm trước Công nguyên, đă bị cướp phá
vào năm 270. Đô thị này của Gaul - được Constantine phục hồi sau đó
40 năm - cho đến nay vẫn c̣n bảo tồn được một ít di tích huy hoàng
cổ xưa, khán đài ṿng, đài chiến thắng, một tháp kỷ niệm, một khối
đá hoa cương cao 17m, một khải hoàn môn, các hầm mộ v.v. . . .
Nền văn minh Gaul của người Kelt đă chấm dứt như thế đó. Trên cương
vị là một doanh nhân man rợ của Rome,
Cæsar đă hoàn
thành việc hủy diệt các Bí pháp cổ xưa bằng cách cướp phá các đền
thờ và những trường điểm đạo của chúng, và bằng cách tàn sát các
Điểm đạo đồ và người Druid. Rome vẫn c̣n đó nhưng nó chẳng bao giờ
có được ǵ ngoại trừ các Bí pháp thứ yếu, h́nh bóng của các Khoa học
Bí nhiệm. Cuộc Đại Điểm đạo đă bị mai một.
[[5]]
Ta có thể nêu ra một ít đoạn trích dẫn nữa từ tác phẩm Thuyết
Tam Điểm Huyền bí của ông, v́ chúng có liên quan trực tiếp với
chủ đề của ta. Cho dù có học thức uyên bác, tác giả ấy vẫn phạm phải
một số lỗi lầm quan trọng về mặt niên đại học. Ông nói:
Sau con người được thần thánh hóa (Hermes) là tới vị Thánh vương-Tư
tế [Đạo trưởng] Menes là nhà lập pháp đầu tiên và là người sáng lập
ra Thebes gồm 100 cung điện. Ông làm cho đô thị ấy tràn ngập vẻ lộng
lẫy nguy nga; thời đại tư tế Ai Cập bắt đầu từ thời kỳ ông. Các vị
tư tế trị v́ do bởi họ làm ra luật lệ. Nghe nói từ thời kỳ ông đă có
tới 329 [Đạo trưởng] - tất cả vẫn c̣n chẳng được ai biết tới.
Sau đó, khi các Cao đồ chân chính đă trở nên hiếm có, th́ tác giả
cho thấy các lễ sư chọn các Cao đồ giả mạo trong đám những người nô
lệ mà họ phô bày ra v́ đă tôn vương và thần thánh hóa họ để cho quần
chúng dốt nát sùng bái.
Mệt mỏi v́ việc cai trị một cách nô dịch như thế, các vị vua nổi
loạn và tự giải thoát được ḿnh. Rồi tới Sesostris người sáng lập ra
Memphis (họ nói rằng vào năm 1.613 trước Công nguyên). Nối tiếp cuộc
tuyển cử lên ngôi tư tế là cuộc tuyển cử của các chiến sĩ . . .
Cheops - vốn trị v́ từ năm 1.178 tới năm 1.122 trước Công nguyên -
đă xây Đại Kim tự tháp mang tên ông. Người ta buộc tội ông là ngược
đăi chế độ chính trị thần quyền và đóng cửa các đền thờ.
Điều này cực kỳ không chính xác, mặc dù Ragon lặp lại “lịch sử”. Kim
tự tháp mang tên Cheops chính là Đại Kim tự tháp, ngay cả Nam tước
Bunsen cũng gán cho việc xây dựng nó diễn ra vào năm 5.000 trước
Công nguyên. Trong Địa vị của Ai Cập trong Lịch sử Thế giới,
ông nói:
Nguồn gốc của Ai Cập được truy nguyên tới tận thiên niên kỷ thứ 9
trước Công nguyên.
[[6]]
Và v́ các Bí pháp được cử hành cũng như các cuộc Điểm đạo diễn ra
trong Kim tự tháp ấy - đó là v́ người ta quả thật xây dựng nó v́ mục
đích ấy - cho nên có vẻ kỳ cục và hết sức mâu thuẫn với các sự kiện
mà ta đă biết trong lịch sử các Bí pháp khi giả sử rằng Cheops (nếu
chính ông đă xây dựng Kim tự tháp đó) lại đă từng chống đối các Lễ
sư đă được điểm đạo và các đền thờ của họ. Hơn nữa, theo như Giáo lư
Bí truyền dạy, Cheops không hề xây dựng Kim tự tháp mang tên đó, cho
dù ông đă có thể làm ǵ đi chăng nữa.
Thế nhưng quả thật là:
Do bị Ethiopia xâm lược và mười hai tù trưởng liên minh cai trị,
quyền làm vua lọt vào tay Amasis, một kẻ hạ lưu.
Điều này xảy ra vào năm 570 trước Công nguyên, và chính Amasis đă
tiêu diệt quyền lực của giới tu sĩ. Và
thế là tiêu vong các chế độ chính trị thần quyền vốn phô trương các
tu sĩ đă được tôn lên làm vua trong biết bao nhiêu thế kỷ đối với Ai
Cập và toàn thể thế giới.
Ai Cập đă tập hợp được các môn sinh của mọi xứ xung quanh các lễ sư
và Đạo trưởng của ḿnh trước khi Alexandria được lập nên. Ennemoses
hỏi:
Chẳng biết tại sao mà người ta biết ít xiết bao về các Bí pháp và
những nội dung đặc thù của chúng, mặc dù đă trải qua biết bao nhiêu
thời đại đối với biết bao nhiêu người và biết bao nhiêu thời gian
khác nhau? Câu trả lời chính là: đó lại cũng là v́ người được điểm
đạo nói chung là miệng kín như bưng. Ta có thể t́m thấy một nguyên
nhân nữa nơi sự hủy hoại và thất lạc hoàn toàn mọi tài liệu ghi chép
lại tri thức bí mật của thời xa xưa nhất.
Những quyển sách của Numa - do Livy mô tả, bao gồm triết học tự
nhiên - được t́m thấy trong ngôi mộ của ông, nhưng người ta không
cho phép thiên hạ biết tới chúng, kẻo chúng sẽ tiết lộ các bí nhiệm
bí mật nhất của quốc giáo. Thượng nghị viện và ṭa án nhân dân đă
quyết định . . . . rằng chính những quyển sách này nên được thiêu
hủy và người ta đă làm như vậy.
[[7]]
Cassain đề cập tới một bộ khảo luận lừng danh vào các thế kỷ thứ tư
và thứ năm mà người ta gán cho Ham, con của Noah, đến lượt ông lại
nổi tiếng là đă tiếp nhận nó từ Jared hậu duệ bốn đời của Seth, con
của Adam.
Các lễ sư bác học Ai Cập trước hết đă dạy thuật luyện kim đan cũng
ở Ai Cập, mặc dù sự xuất hiện đầu tiên của hệ thống này cũng xưa như
trái đất. Nhiều tác giả đă tuyên bố rằng Adam là Cao đồ sơ khởi;
nhưng đó là một bức b́nh phong và một sự chơi chữ đối với danh xưng
này, một trong những nghĩa của nó là “đất đỏ”. Ta t́m thấy thông tin
chính xác - bên dưới bức màn ẩn dụ - nơi chương 6 trong Sáng thế
kư, vốn nói tới các “Con trai Thượng Đế” lấy vợ là các con gái
nhân loại, sau đó, họ trao truyền cho các bà vợ này nhiều bí nhiệm
và bí mật của thế giới hiện tượng. Olaus Borrichius nói rằng, ta
phải t́m kiếm cái nôi của thuật Luyện kim đan vào những thời kỳ xa
xưa nhất. Democritus ở Abdera là một nhà Luyện kim đan và một triết
gia phái Hermes, Clement ở Alexandria viết rất nhiều về khoa học,
c̣n Moses và Solomon được gọi là những người am tường khoa học. W.
Godwin bảo ta rằng:
Tài liệu đích thực đầu tiên về đề tài này chính là một sắc lệnh vào
khoảng năm 300 sau Công nguyên, nó ra lệnh cho người dân Ai Cập
chuyên cần t́m kiếm mọi quyển sách xưa bàn về thuật làm ra vàng bạc
mà họ nhất luật phó thác cho những ngọn lửa.
Thuật Luyện kim đan của người Chaldea và người cổ Trung Hoa thậm chí cũng không có dây mơ rễ má ǵ với thuật Luyện kim đan của người Ả Rập nhiều thế kỷ sau này. Có một thuật Luyện kim đan tinh thần và một sự biến tố vật lư. Kiến thức về cả hai thuật này được truyền thụ vào lúc được Điểm đạo.
[[1]]
Bây giờ được gọi là St. Reine (Bờ biển Vàng) trên hai
ḍng Ose và Oserain. Việc nó suy đồi là một sự kiện lịch sử
trong lịch sử xứ Gaul của người Kelts.
[[4]]
Năm 389 sau Công nguyên, quần chúng Kitô giáo đă hoàn tất
việc hủy hoại những ǵ c̣n lại; hầu hết các công tŕnh vô
giá được bảo lưu dành cho các môn sinh Huyền bí học, nhưng
thất truyền đối với thế gian.
[[5]]
Sách đă dẫn, trang 23. J. M. Ragon, một người nguyên quán
nước Bỉ và một hội viên Tam Điểm, biết về Huyền bí học nhiều
hơn bất kỳ tác giả nào khác chưa được điểm đạo. Ông đă
nghiên cứu các Bí pháp cổ xưa trong 50 năm ở bất cứ nơi đâu
mà ông có thể t́m thấy những bài tường thuật. Năm 1.800, ông
sáng lập ở Paris Hội Huynh đệ các nhà Minh triết Tam vị
học, ở Chi bộ này, trong nhiều năm, ông diễn thuyết về
cuộc Điểm đạo Xưa và Nay, (vào năm 1.818 và lại nữa vào năm
1.841) các bài diễn thuyết này đă được xuất bản, nhưng bây
giờ đă tuyệt bản. Thế rồi ông trở thành chủ bút của
Hermes, một tờ báo của Hội Tam Điểm. Các tác phẩm hay
nhất của ông là Thuyết Tam Điểm Huyền bí và Huân
công Biên niên sử Điểm đạo. Sau khi ông qua đời vào năm
1.866, một số Bản thảo của ông vẫn c̣n thuộc quyền sở hữu
của “Đại Đông Pháp”. Một chức sắc của Hội Tam Điểm có bảo
cho tác giả biết rằng trong nhiều năm, Ragon có liên lạc
bằng thư tín với hai nhà Đông phương học ở Syria và Ai Cập,
một trong hai người đó là một nhà quư tộc Kopt.
HOME T̀M HIỂU NHẬP MÔN sách TIỂU SỬ BẢN TIN H̀NH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 NỮ THẦN ISIS