Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lư

 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS

TIẾT 2 – ADAM – ADAMI

Trích Giáo Lư Bí Truyền Quyển 5

Tác giả H.P.Blavatsky

Bản dịch www.thongthienhoc.com

 

TIẾT 2 – ADAM – ADAMI

 

Adam-Adami là Tên gọi Tổng hợp chung chung của Giống người Biết nói Đầu tiên - Người Nabathe là những nhà Bái tinh thuộc dân Chaldea - Tác phẩm Nền Nông nghiệp Nabathe lập lại các Tín điều của Giáo lư Bí truyền – Nebo là Thần Minh triết và là một Đấng Sáng tạo - Các môn đồ kinh Kabalah dạy rằng có Tồn tại Bốn Adam riêng biệt - Các Chữ tượng h́nh Ai Cập dành cho Năm Giống dân.

tiết 2

adam-adami

 

Danh từ Adam-Adami được Tiến sĩ Chwolsohn sử dụng trong tác phẩm Nông nghiệp xứ Nabath của ông, đã bị ông Renan chế nhạo, có thể là một sự việc nhỏ nhen tầm thường. Tuy nhiên, đối với nhà Huyền bí học, khi một thuật ngữ được tìm thấy trong một tác phẩm tối cổ như đã dẫn chứng trên, quả là điều rất đáng kể. Chẳng hạn, nó chứng tỏ rằng Adami là một biểu tượng phức tạp, bắt nguồn từ dân tộc Āryan, như đã biểu lộ trong ngữ căn, đã vay mượn của dân Do Thái và các dân tộc Turanian [[1]]   như nhiều sự việc khác.

Adam-Adami là danh từ kép về chủng loại, xa xưa như ngôn ngữ. Giáo lý Bí truyền cho rằng Ād-i là danh từ phát sinh từ người Āryan, căn chủng biết phát ngôn đầu tiên của nhân loại, thuộc về Cuộc tuần hoàn này. Do đó, các danh từ Adonim và Adonai (dạng số nhiều của chữ Adon thời xưa) mà người Do Thái áp dụng cho Jehovah và các Thiên thần của họ chỉ là những đứa con tinh thần và dĩ thái của Địa cầu, của Thượng Đế Adonis, qua nhiều biến đổi có nghĩa là "Thiên Chúa đầu tiên". Adam do tiếng Bắc phạn Ādi-Nāth, cũng có nghĩa là Thiên Chúa đầu tiên, như chữ Ād-Īshvara hay bất cứ tiếp đầu ngữ Ādi (thứ Nhất) được đặt trước một tính từ hay thuộc từ. Chính những sự thật này đã tạo thành một di sản chung là lý do của sự việc ấy. Đó là sự thiên khải do nhân loại đầu tiên tiếp nhận trước thời đại mà Thánh kinh gọi là "thời đại nói cùng một thứ tiếng"; hay là thời đại độc từ. Sau này, kiến thức phát triển theo trực giác riêng của con người và về sau nữa, nó được giấu khỏi tất cả những điều phàm tục dưới một biểu tượng thích nghi. Theo những tác phẩm triết lý của Ibn Gebirol, tác giả Thánh kinh Do Thái Bí giáo Qabbalah, cho chúng ta thấy những người Do Thái giáo dùng chữ Ad-onaï (A Do Na Y), "Thiên Chúa," thay vì chữ Eh’ yeh, "Ta là" và YHVH rồi thêm Adonaï được dịch là "Thiên Chúa" trong Thánh kinh.

 

Sự mệnh danh thấp nhất, hay là Đấng Thiêng liêng trong Thiên nhiên, được gọi bằng danh từ tổng quát hơn là Elohim và phiên dịch là Thượng Đế. [[2]]

 

Một tác phẩm kỳ lạ được dịch thuật vào năm 1.860 hay gần đó bởi nhà Đông phương học Chwolsohn dưới nhan đề ngây thơ là Nông nghiệp xứ Nabath đã được trình bày cho thế giới Âu châu bao giờ cũng ngờ vực và khinh xuất. Theo ý kiến của dịch giả, quyển sách cổ này là một sự điểm đạo trọn vẹn trong những bí pháp của các dân tộc tiền Adam, căn cứ trên những chứng thư chánh thức không thể chối cãi. Đó là sách tóm lược vô cùng quí báu về đạo lý, nghệ thuật và khoa học, không những của người Chaldea mà còn cả người Assyria và người Canaan [[3]] thời tiền sử.[[4]] Theo ý kiến của một số nhà bình luận, những người Nabath ấy chỉ là những người Saba và người Chaldea sùng bái tinh tú. Tác phẩm  này là một bản dịch của người Ả Rập, theo ngôn ngữ mà nó đã được người Chaldea phiên dịch đầu tiên.

Sử gia Ả Rập Masoudi nói về những người Nabath ấy và giải thích nguồn gốc của họ như sau:

 

Sau trận Đại hồng thủy [?] các quốc gia được kiến thiết trên nhiều vùng khác nhau. Trong số các quốc gia này có người Nabath, họ xây dựng thành phố Babylon và tổ tiên của Ham, con thứ hai của Noah, cũng đã kiến tạo tỉnh lỵ như thế dưới sự lãnh đạo của Nimrod, con của Cush, Cush lại là con của Ham và là cháu của Noah . . . Việc này xảy ra trong thời kỳ Nimrod làm Thống đốc thành Babylon do sự ủy nhiệm của Dzahhak được mệnh danh là Biourasp. [[5]]

 

Dịch giả Chwolsohn nhận thấy sự quả quyết của sử gia này hoàn toàn phù hợp với sự xác nhận của Moses trong Sáng thế ký. Trái lại, nhiều nhà phê bình không có uy tín lớn có thể cho rằng chính vì lý do đó mà người ta đã nghi ngờ sự xác đáng của việc ấy. Tuy nhiên, bàn luận đến điểm không quan trọng đối với vấn đề hiện đại của chúng ta chẳng ích gì. Vấn đề xa xưa này đã bị phai mờ và quên lãng từ lâu, và sự khó khăn là việc giải thích một cách hợp lý nguồn gốc kỳ lạ về hàng triệu người của những căn chủng khác nhau và thuộc nhiều quốc gia, bộ lạc văn minh đã xuất phát từ ba cặp đôi – các con của Noah và các người vợ của ông sau trận Đại hồng thủy năm 346, [[6]] có thể quy trách cho tác giả Sáng thế ký, dù cho Moses hay Ezra. Điều lý thú trong tác phẩm mà chúng ta nghiên cứu chính là nội dung của nó, những học thuyết được trình bày trong đó và hầu như tất cả, nếu người ta đọc chúng trên phương diện nội môn, đồng nhất với Giáo lý Bí truyền.

Nhà Đông phương học Quatremère có nêu lên ý kiến cho rằng, quyển sách này có thể là một bản sao từ một thiên giảng luận cổ "vô cùng tối cổ", được thực hiện dưới triều đại của Hoàng đế Nebuchadnezzar II, trong khi căn cứ trên những bằng chứng bên trong lẫn bên ngoài, tác giả chủ trương rằng nguồn gốc Chaldea của nó được thảo ra từ những bài diễn văn và giáo lý của một nhà địa chủ phú hào ở thành Babylon, tên là Qū-tāmy, y đã sử dụng những tài liệu còn cổ sơ hơn những bài diễn văn này. Chwolsohn đã quay về bản dịch đầu tiên của những người Ả Rập hồi thế kỷ mười ba trước T.C. Trang đầu tiên của sự "khải thị" ấy, tác giả hay nhà sao chép là ông Qū-tāmy, tuyên bố rằng "các giáo lý được trình bày trong sách, trước hết do Saturn kể lại. . . cho Nguyệt cầu, Nguyệt cầu truyền lại cho ngẫu tượng của mình và ngẫu tượng khải thị nó cho kẻ trung tín với mình là tác giả   Vị Thánh nhân viết tác phẩm này chính là Qū-tāmy.

Những chi tiết được thiên khải về điều lành và sự giáo dục những người quá cố chứng tỏ rằng có những kỳ gian dài không kể xiết và một loạt vô số vương quốc và Triều đại đã có trước sự biểu hiện ấy trên Đất của Adami (vùng "đất đỏ"). Vì người ta có thể hy vọng như thế, nên những thời kỳ này đã kích thích những người bảo vệ niên biểu của Thánh kinh theo đạo luật không c̣n áp dụng hầu như đã phẫn nộ. Ông De Rougemont là người đầu tiên đã đứng lên chống lại dịch giả. Ông trách việc hy sinh Moses trước tác giả vô danh.[[7]] Ông yêu cầu ông Berosus ít nhất cũng phải tán đồng hoàn toàn theo nhà tiên tri về con người tối sơ khi y nói về Alorus-Adam, về Xisuthrus-Noah, và Belus-Nimrod v.v. . . . mặc dù có những sự sai lầm lớn về niên đại của ông. Ông nói thêm, do đó tác phẩm đã được ngụy tạo và được những người đồng thời với ông sắp xếp lại –  Quyển thứ tư về Esdras, Thánh thư về Enoch, những Sấm ngôn Sibylline và Thánh thư về Hermeskhông có quyển nào trong các quyển này xưa hơn hai hoặc ba thế kỷ trước T.C. Ông Ewald còn công kích Chwolsohn một cách gay gắt hơn và sau cùng, trong quyển Tạp chí Đức,[[8]] chính ông Renan đòi ông ta nêu lên những lý do cho thấy tại sao tác phẩm Nông nghiệp xứ Nabath không phải là sách ngụy tạo của một người Do Thái thuộc thế kỷ thứ ba hoặc thứ tư của thời đại chúng ta? Thật khó mà làm khác hơn, luận cứ của tác giả quyển Đời sống của Đức Jésus, vì trong quyển sách khổ đôi ấy về chiêm tinh học và pháp thuật phù thủy:

 

Chúng ta nhận thấy trong những nhân vật do Qū-tāmy giới thiệu có tất cả những vị tộc trưởng trong những chuyện tích của Thánh kinh, như Adam-Adami, Anouka-Noah và Ibrahim-Abraham của y , v.v. . . .

 

Nhưng điều này không phải là một lý do, vì Adam và các tên khác là những danh từ thuộc về chủng loại. Trong khi chờ đợi, chúng ta liều lĩnh cho rằng tất cả đều được xem như một tác phẩm ngụy tạo – dù là của thế kỷ thứ ba thuộc thời đại chúng ta, thay vì thế kỷ thứ mười ba trước T.C., cũng đủ xưa để được xét như một tài liệu chính xác, và làm thỏa mãn cho những đòi hỏi đúng đắn nhất về khảo cổ và phê bình. Ngay cả khi được chấp nhận, vì lợi ích của sự biện luận, việc di sản văn chương này đã được "một số người Do Thái ở thế kỷ thứ ba" sưu  tập – kết quả sẽ ra sao? Chúng ta hãy tạm gác sang một bên uy tín giáo lý của y, tại sao nó ít được tin tưởng hoặc ít có tính cách giáo dục vì phản ánh những ý tưởng xưa hơn tác phẩm tôn giáo nào khác, cũng được "sưu tập trong các bản văn cổ" hay khẩu truyền trong cùng một thời đại hay gần hơn? Trong trường hợp này, chúng ta cũng phải cho là "ngụy tạo" và bắt bẻ kinh Coran – đã xuất hiện ba thế kỷ sau – mặc dù như Minerva, chúng ta biết rằng nó đã trực tiếp thoát thai từ bộ óc của nhà tiên tri Ả Rập, và chúng ta phải xem nhẹ tất cả những giáo lý mà chúng ta có thể trích lấy trong Thánh kinh Talmud, trong hình thức hiện nay của nó, Thánh kinh này cũng là kết quả của sự sưu tập những tài liệu xưa hơn và không xa hơn thế kỷ thứ chín của thời đại chúng ta.

Sở dĩ quyển Thánh kinh kỳ lạ này của vị Thánh người Chaldea và những lời phê phán về nó (cũng như trong bản dịch của Chwolsohn) được chúng ta đề cập đến, vì nó có tính cách quan trọng đối với một số lớn công việc của chúng ta hiện nay. Về sự kháng biện của ông Renan, một sự bài trừ ngẫu tượng theo nguyên tắc – Jules Lemaītre đã gọi một cách đầy châm biếm là "Paganini trống rỗng" – hình như người ta đã tìm thấy sự lỗi lầm tệ hại ở quyển sách này; khi sự ngụy tạo kiêu hãnh cho rằng nó đã được truyền thụ dưới hình thức mặc khải cho một vị Thánh nhân, do "ngẫu tượng của Nguyệt cầu" đã thừa hưởng của "Saturn". Do đó, người ta kết luận một cách rất tự nhiên rằng đó là "thần thoại từ đầu đến cuối". Đối với vấn đề này có một câu trả lời như sau: chỉ có một thần thoại độc nhất là Thánh kinh, nếu một trong hai tác phẩm đổ vỡ, thì tác phẩm kia cũng không thể đứng vững. Dù phương pháp bói toán qua "ngẫu tượng của Nguyệt cầu" cũng giống như phương pháp đã được David, Saul và những vị Cố đạo Cao cấp của Thánh đường Do Thái thực hành theo lối Teraphim [[9]].

Thật ra, quyển Nông nghiệp xứ Nabath là một sản phẩm được sưu tập; nó không phải là tác phẩm ngụy tạo, song đã lập lại những giáo điều của Giáo lý Bí truyền, dưới hình thức ngoại môn của những biểu tượng thuộc dân tộc tính xứ Chaldea, vì muốn "khoác lấy" những giáo điều đúng đắn như những Thánh thư của Hermes và những Thánh kinh Purānas giống như người Ai Cập và Ấn Độ đã cố gắng thực hiện. Tác phẩm ấy được biết đến trong thời xưa cũng như trong Thời Trung cổ. Ông Maimonides đã nói về tác phẩm này và đã nhiều lần dẫn chứng thủ bản Chaldea-Ả Rập ấy, khi gọi những người xứ Nabath là các đồng đạo của họ, "những người sùng bái tinh tú" hay những người xứ Sabæ, nhưng không khám phá được dưới cái từ biến dạng "Nabathean" cái tên huyền bí của đẳng cấp sùng tín Đấng Nebo, tức Thượng Đế của Minh triết Bí nhiệm, điều này hiển nhiên chứng tỏ rằng những người xứ Nabath hợp thành một nhóm Huynh đệ Huyền linh.[[10]] Theo người Ba Tư Yezidi, người xứ Nabath đi từ nguồn ở vùng Basra đến xứ Syria, là những thành viên đã bị suy thoái của nhóm huynh đệ ấy; tuy nhiên, ngay trong thời kỳ cuối cùng này, tôn giáo của họ cũng là Do Thái Bí giáo thuần túy.[[11]] Nebo là Thần của thiên thể Mercury, còn Mercury là Thần của Minh triết hay Hermes, hay Đức Phật mà người Do Thái gọi là Kokab, "Đấng Tối cao, Đấng Kỳ vọng," và Nabo của người Hy Lạp, do đó mới có danh từ Nabatheans. Mặc dù Maimonides gọi giáo lý của họ là "tà giáo điên rồ" và nền văn học cổ xưa của họ là "Sabæorum fœtum [người Sabæ vô dụng]", ông đã xếp "nông nghiệp" của họ tức là Thánh kinh của Qū-tāmy vào hàng đầu của nền văn học cổ điển, và ông Abarbanel ngợi khen nó hết lời. Spencer [[12]] khi trích dẫn quyển sách này đã gọi nó là "tác phẩm Đông phương tuyệt diệu nhất" và nói thêm rằng chữ Nabatheans phải được giải thích như muốn chỉ những người Sabæ, người Chaldea và người Ai Cập, tóm lại, những dân tộc chống lại những cái mà luật của Moses áp dụng một cách nghiêm khắc nhất.

Nebo, vị Thần Minh triết cổ sơ nhất của xứ Babylonia và Mesopotamia, đồng nhất với Đức Phật Ấn Độ và Đức Hermes-Mercury của người Hy Lạp. Một sự thay đổi nhỏ trong phái giống của phụ mẫu chỉ là một sự tu chính. Như ở Ấn Độ, Phật là Con của Soma (Mặt trăng) và là vợ của Brihaspati (Jupiter), cũng thế, Nebo là con của Nữ thần Zarpanitu (Mặt trăng) và Merodach, sau khi tạo ra Nhật thần, vị này đã trở thành Jupiter. Như Thiên thể Mercury, Nebo là “kẻ canh chừng” thuộc bảy Hành tinh Đại Thiên thần; và khi là hiện thân của Minh triết Ẩn tàng, Ngài là Nabin, Đấng thấu thị và tiên tri. Moses cũng được xem như đã chết và biến mất trên linh sơn ở tại Nebo. Điều này chứng tỏ rằng ông là một Điểm đạo đồ và là một giáo sĩ của vị Thần này dưới một danh hiệu khác, vì Thần Minh triết này là Đấng Sáng tạo vĩ đại và được tôn thờ như thế. Không những ông được tôn thờ tại Borsippa trong Thánh điện hay hành tinh tháp lộng lẫy của ông; mà ông cũng được những người xứ Moab, Canaan, Assyria ngưỡng mộ trong khắp xứ Palestine. Vậy tại sao không phải là những người Do Thái? "Hành tinh điện của thành phố Babylon” có "chỗ Thiêng liêng nhất" của nó trong chánh điện của Nebo, vị Thần Minh triết Tiên tri. Trong những bài Giảng thuyết của Hibbert, chúng ta thấy như sau:

 

Những người Babylon thời cổ, có một vị môi giới giữa con người và các vị thần . . . còn Nebo là vị "công bố" hay "tiên tri", vì người biết được những ước muốn của cha Người là Merodach. [[13]]

 

Cũng như Đức Phật, Nebo là Đấng Sáng tạo của Căn chủng thứ Tư và cũng là của Căn chủng thứ Năm. Vì Nebo đã khai sinh một căn chủng mới của những vị Thánh nhân, và Đức Phật ở Triều đại Nhật Nguyệt tinh, hay ở nhân loại của các Căn chủng và Cuộc tuần hoàn ấy. Cả hai đều là những ông Adam của tạo vật kế tục. Adam-Adami là sự nhân cách hóa của cặp Adam song đôi của con người mẫu trên thiên giới, của Đấng Sáng tạo và của Adam hạ giới, thế tục, theo sự diễn tả của những nhà Do Thái Bí giáo, ông Adam này chỉ có Nephesh, tức "hơi thở của sự sống" mà không có  Linh hồn Linh hoạt, cho đến sau sự Sa đọa.

Vậy nếu Renan vẫn khăng khăng coi những Thánh thư của người Chaldea – hay những gì còn lưu lại trong đó – như những tác phẩm ngụy tạo, điều này không thể làm thay đổi chân lý và các sự kiện chút nào. Có những vị Đông phương học giả khác có thể có ý kiến không giống như thế và ngay cả những ý kiến khác, do đó, vấn đề này lại trở thành không đáng kể. Các học thuyết ấy chứa đựng những lời giáo huấn của Triết lý Nội môn và điều này ắt đủ rồi. Dưới con mắt của những người không hiểu chi cả về biểu tượng ký, việc ấy có thể giống như sự sùng bái tinh tú một cách thuần túy và đơn giản và cả đến "tà giáo điên rồ" đối với người bưng bít Chân lý Nội môn. Tuy nhiên, trong khi Maimonides hoàn toàn bày tỏ sự khinh thị đối với Giáo lý Nội môn của các tôn giáo thuộc những quốc gia khác, ông lại thừa nhận Lý thuyết Nội môn và biểu tượng ký của xứ sở mình, ông thuyết giảng sự tịch lặng và bí nhiệm của vấn đề ý nghĩa chân thật trong giáo lý của Moses, và sự kiện này chính là lý do của sự phiền lụy. Tóm lại, giáo lý của Qū-tāmy, người Chaldea, trình bày ẩn dụ về tôn giáo của những dân tộc đầu tiên thuộc Căn chủng thứ Năm.

Vậy tại sao ông Renan đề cập đến danh từ "Adam-Adami" với sự khinh bỉ một cách trịnh trọng như thế? Tác giả quyển Nguồn gốc của Thiên Chúa giáo hiển nhiên không hiểu gì về nguồn gốc của biểu tượng ký Tà giáo hay Nội môn, mặt khác ông cũng biết rằng, danh xưng Adam-Adami là hình thức của một biểu tượng phổ quát, không phải là một người, mà là bốn người hay bốn thứ nhân loại rõ rệt, ngay cả đối với người Do Thái. Điều này rất dễ minh chứng.

Theo những nhà Do Thái Bí giáo, thì có bốn ông Adam rõ rệt, hay sự biến đổi của bốn ông Adam kế tiếp, bắt nguồn từ Dyooknah, hay Ảo ảnh thiêng liêng, của Thiên Đế, là sự phối hợp dĩ thái của Neshamah, tức Linh hồn tối cao hay Tinh thần tối cao; dĩ nhiên giống dân Adam này không có xác người và thể cảm dục. Giống Adam ấy là Kiểu mẫu đầu tiên (Tzure) của giống dân Adam thứ hai. Chắc chắn các giống dân Adam đó tiêu biểu cho Căn chủng thứ Năm của chúng ta, như chúng ta có thể thấy qua sự mô tả trong Thánh kinh Kabalahh. Đầu tiên là giống dân Adam Thiêng liêng và Hoàn hảo, "một cái bóng đã biến mất" (các Hoàng Đế Edom); đã thoát thai từ Ảnh tượng thiêng liêng; giống thứ hai là giống dân Adam Nguyên sinh chất Bán thư bán hùng của giống Adam được phân biệt trên thế gian trong tương lai; giống dân Adam thứ ba là con người bằng "bụi" (giống dân Adam Vô tội thứ nhất); và giống dân thứ tư, tổ tiên được thừa nhận chính là căn chủng của chúng ta tức là Adam Mắc đọa. Tuy nhiên, chúng ta hãy xem sự mô tả sáng sủa tuyệt diệu về vấn đề này trong bộ Thánh kinh Qabbalah của Isaac Myer. Ông chỉ đề cập đến bốn giống dân Adam, chắc chắn là vì các vị Hoàng đế Edom [[14]] và ông nói tiếp:

 

Giống dân Adam thứ tư đã được phú cho da, thịt, thần kinh v.v. . . . Điều này thích ứng với sự hợp nhất hơi thở của Sự sống nội tại và Guff, tức là xác thân. Giống dân ấy có năng lực sinh sản như động vật và truyền giống liên tục. [[15]]

 

Đó chính là Căn chủng của nhân loại.

Khi đã đạt được đến điểm này, những nhà Do Thái Bí giáo hiện đại – đã bị hướng dẫn sai lầm bởi những thế hệ Thiên Chúa giáo thần bí lâu dài với những chứng tích thuộc Thánh kinh Bí giáo Kabalahh mỗi khi họ có thể thực hiện được – đã phân cách các nhà Huyền bí học qua những sự giải thích của họ, và làm cho lầm lẫn tư tưởng mới nhất với tư tưởng bản sơ. Thánh kinh Kabalah nguyên thủy hoàn toàn có tính cách siêu hình và không có sự quan hệ nào với những loài giống động vật hoặc thế tục; kinh Kabalah gần đây nhất đã trấn áp lý tưởng thiêng liêng dưới sức nặng của yếu tố sinh thực khí. Những nhà Do Thái Bí giáo nói: "Thượng Đế tạo nên con người phái nam và phái nữ". Tác giả Thánh kinh Kabalah cho rằng:

 

Theo những nhà Do Thái Bí giáo, điều tất yếu của sự sáng tạo và sinh tồn liên tục được gọi là sự Thăng bằng. [[16]]

 

Và vì không có sự "Thăng bằng" này liên kết với Maqom ("Nơi" bí nhiệm),[[17]] như chúng ta đã thấy, ngay cả Căn chủng thứ Nhất cũng không được những hậu duệ thuộc Căn chủng Adam thứ Năm nhìn nhận. Từ Thiên đế tối thượng, Adam Cao cả, mang tính chất "thư hùng" hay Bán thư bán hùng, đến giống dân Adam bằng bụi, tất cả những biểu tượng được nhân cách hóa này đều gắn liền với phái giống và sự sinh sản. Đối với những nhà Huyền bí học Đông phương thì hoàn toàn trái hẳn lại. Họ xem những sự liên hệ phái giống như một "Nghiệp quả" chỉ thuộc về sự liên hệ của con người bị Ảo ảnh trên thế gian này chi phối như một vật đặt bên cạnh lúc con người trở nên "khôn ngoan". Họ xem như một trường hợp may mắn nhất, nếu vị Đạo sư tìm gặp trong các đạo sinh một người có khả năng sống cuộc đời thanh khiết của một đạo sĩ khổ hạnh Bà la môn (Brahmachārya). Đối với những nhà Huyền bí học Đông phương này, biểu tượng kép của họ chỉ là hình ảnh thi vị của những sự liên hệ cao cả của những lực sáng tạo trong vũ trụ. Quan niệm lý tưởng ấy chiếu diệu như một tia sáng màu hoàng kim trên mỗi thần tượng, dù là có tính cách thô thiển và nực cười thuộc đại chúng bình dân trong những đền miếu tối tăm ở Ấn Độ hay ở những xứ sở sùng tín khác.

Chúng ta sẽ minh chứng điều này trong Tiết tiếp theo.

Trong khi đó, chúng ta có thể nói thêm rằng, đối với những người theo Trực quan thuyết (phái Ngộ đạo) (Gnostics), giống dân Adam thứ hai cũng thoát thai từ Con người Tối sơ, Ophite Adamas, trong "hình ảnh mà y đã tạo nên"; giống dân thứ ba – con người Bán thư bán hùng – được sinh ra từ Giống dân thứ hai này. Giống dân sau cùng được tượng trưng bằng những đôi thư hùng Thần linh thuộc Giống dân thứ Sáu và thứ Bảy, Amphain-Essumen và Vananin-Lamertade – Phụ mẫu [[18]] – trong khi ông Adam thứ tư, hay Căn chủng thứ Tư, được tượng trưng bằng một Dương vật quái gỡ. Giống dân sau cùng này – hậu Thiên Chúa giáo hoang tưởng – là bản sao bị suy thoái của biểu tượng ký thuộc phái Ngộ đạo Tiền Thiên Chúa giáo của "Đấng Toàn thiện" hay "Đấng Sáng tạo trước khi vạn hữu xuất hiện," Dương vật Thiêng liêng thực sự đã sinh ra từ Thần Venus và Thần Bacchus, khi vị Thần ấy trở về sau cuộc viễn du Ấn Độ, vì Venus và Bacchus là hậu nguyên mẫu của Đấng Tối cao vô hiện (Aditi) và Tinh thần. Sau này, mặc dù Dương vật không đồng nhất với Đấng Ban phúc (Agathodæmon), Đấng Cứu độ của phái Ngộ đạo, và ngay với những Chữ bí nhiệm, nó cũng không tiêu biểu cho biểu tượng ký của Quyền năng sáng tạo vô hình, và tượng trưng cho bốn ông Adam hay Căn chủng thứ Năm được tượng trưng bằng năm nhánh cây bị cắt từ Cây Sinh tồn trong đó có một ông già đứng giữa các viên ngọc của phái Ngộ đạo. Con số của Mẫu chủng được ghi trong các Thánh điện Hy Lạp cổ bằng bảy nguyên âm, có năm nguyên âm được đóng khung trong một tấm bảng gắn trong Phòng Điểm đạo của Chánh điện. Biểu tượng ký Ai Cập được tạo bởi một bàn tay với năm ngón x̣e ra, ngón thứ năm hay ngón út chỉ mở ra phân nửa và cũng của năm chữ "N’ s"–  những chữ tượng hình tiêu biểu cho chữ này. Những người La Mã sử dụng năm nguyên âm A E I O U trong đền miếu của họ; và biểu tượng ký này đã được thừa nhận như câu châm ngôn của Họ Hapsburgs thời Trung cổ. Rồi sự vinh quang cũng đi qua như thế! (Sic transit gloria!)


[[1]]  Các dân tộc phía Tây Trung Á. (LND)

[[2]] Thánh kinh Qabbalah của Myer, trang 175.

[[3]]  Dân tộc thuộc xứ Palestine. (LND)

[[4]] Xem Des Esprits của De Mirville, Quyển iii, trang 215 và tiếp theo.

[[5]] Sách đã dẫn, như trên.

[[6]] Xem Sáng thế ký và niên biểu được tín nhiệm. Trong chương viii "Noah rời chiếc bè" năm 2.348 trước T.C. Trong chương x, "Nimrod, nền đệ nhất quân chủ", trị vì năm 1.998 trước T.C.

[[7]]  Ki Tô Triết học Niên thư, tháng 6-1.860, trang 415.

[[8]]  30 tháng 4-1860.

 [[9]] [Trong ấn bản năm 1.888, bà Blavatsky có viết như sau: “Ở quyển III, phần II của tác phẩm này chúng ta sẽ thấy được những phương pháp thực tế mà thời xưa dùng để bói toán như vậy”.]

[[10]] Ông nói, "tôi sẽ kể cho bạn biết những tác phẩm . . . liên quan đến đức tin và tục lệ của người Sabæ. Quyển sách nổi tiếng nhất có nhan đề là Nông nghiệp của người xứ Nabath và đã được Ibn Wabohijah phiên dịch. Quyển sách này đầy dẫy những điều dị giáo điên rồ. Nó đề cập đến việc luyện linh phù, nghệ thuật lôi cuốn những quyền năng của chư Thần, Huyền thuật, Ma quỷ, và cả những Nữ yêu trú ngụ trên sa mạc” (Maimonides, do Tiến sĩ D. Chwolsohn trích dẫn; Die Ssabier und der Ssabismus, quyển II, trang 458). Những người Nabath ở núi Liban tin vào bảy Tổng Thiên thần, như tổ tiên của họ đã tin vào bảy Đại Tinh tú, là trú sở và hiện thân của các vị Tổng Thiên thần này, điều mà những người Công giáo La Mã tin tưởng cho đến hiện nay, như đã được chứng tỏ ở những nơi khác.

[[11]] Xem Nữ Thần Isis Lộ Diện, Quyển II, 197.

[[12]] Quyển I, trang 354.

[[13]] Sayce; xem trang 115, ấn bản lần 2.

[[14]] Biểu tượng ký của bảy căn chủng nhân loại. (LND)

[[15]] Sách đã dẫn, trang 418-419.

[[16]] Sách  đã dẫn, trang 118.

[[17]] Đó là tử cung, "nơi Linh thiêng nhất" theo người Do Thái.

[[18]] Xem Bảng Valentin trong Epiphanius, Adv. Hæres, I, xxxi, 2.


 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS