Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lư

 HOME  sách   TIỂU SỬ    BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN    BÀI VỞ   THƠ   gifts   TẾT 2006  BOOKS  MAGAZINES

 

LUÂN HỒI

(REINCARNATION)

Tác giả Annie Besant

Bản Dịch Tâm Như - 2007

 

 

NHÀ XUẤT BẢN THÔNG THIÊN HỌC - Adyar, Chennai 600 020, India

Ấn bản lần nhất                  1892

Ấn bản lần hai                    1897

Ấn bản lần ba, có hiệu đính 1898

Ấn bản lần tư, có hiệu đính  1905

đầu trang  phần 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 cuối trang mục lục

MỤC LỤC

1- Dẫn nhập

2 - Ư nghĩa của Luân Hồi

3 - Luân Hồi là ǵ

4- Luân Hồi không phải là ǵ

5 - Phương pháp Luân Hồi

6 - Mục tiêu của Luân Hồi

7 - Nguyên nhân của Luân Hồi

8 - Bằng chứng về Luân Hồi

9 - Những lư lẽ phản đối Luân Hồi

10 - Lời cuối cùng

  

đầu trang  phần 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 cuối trang mục lục

DẪN NHẬP

 

Nếu một chân lư mới khó ḷng được thiên hạ lắng nghe trong cuộc khẩu chiến đánh dấu nền văn minh hiện đại của ta th́ sự thật ấy c̣n khó được lắng nghe hơn nữa nếu nó chỉ trở nên mới lạ do sức mạnh của tuổi tác. Nếu ta có thể líếc nh́n qua lịch sử trí thức của loài người mở ra trước mắt ta trong cả trăm ngàn năm th́ có một khoảng trống khiến cho một ư tưởng nào đó phổ biến trên khắp thế giới chiếm được ưu thế mà chỉ mất có vài trăm năm phổ biến trong một số nhỏ các quốc gia và chỉ gây ảnh hưởng chút ít đối với chúng ta. Nhưng khi cái khoảng trống ấy – chỉ là một vết rạn nứt riêng phần trong quá khứ dài dằng dặc – bao gồm sự phát triển tri thức của Âu Tây, và được người Âu Tây khảo sát th́ nó lại có một tầm quan trọng quá khổ so với thời khoảng tương đối của nó cũng như trọng lượng tương đối của nó khi lập luận. Cho dù Âu châu có thể đóng góp nhiều điều có giá trị cho kho tàng trí tuệ của loài người th́ những người Âu Tây của chúng ta cũng thường đánh giá nó quá cao và quên mất rằng cái thời gian rất ngắn ngủi nhằm thành tựu được trí thức ở Âu Tây không thể được coi một cách hợp lư là vượt xa toàn bộ thành quả trí tuệ của các giống dân phi Âu Tây đă thu thập được trải qua cả ngàn thế kỷ. Cái quá khứ mới gần đây của chúng ta cứ lù lù trước mắt như thể một tấm kính ảnh giơ lên trước mắt ta khiến ta không thấy được mặt trời, nó che giấu quá khứ của thế giới trước tầm nh́n trí tuệ của ta; đây là một nguy cơ mà ta nên cảnh giác. Người khôn ngoan sẵn sàng lắng nghe những người có thói quen suy tư xa lạ nhất với chính ḿnh v́ hiểu rằng nhờ thế biết đâu họ lại chẳng thoáng nh́n được một khía cạnh chân lư mới mẻ nào đó, thay v́ một lần nữa chỉ thấy được sự phản ánh của cái khía cạnh đă quen thuộc rồi. Những thói quen chủng tộc, những truyền thống và môi trường xung quanh con người giống như những cặp kính màu mà họ nh́n mặt trời Chân lư thông qua đó; mỗi mắt kính khiến cho chùm tia sáng mặt trời có một màu sắc riêng và tia sáng trắng truyền qua thành màu đỏ, màu xanh lơ, màu vàng tùy ư. V́ ta không thể nào vứt bỏ đi cặp mắt kính ấy để có được ánh quang huy thuần túy không nhuốm màu cho nên khôn ngoan ra th́ ta tổ hợp các tia sáng màu lại để có được ánh sáng trắng.

Thế mà Luân Hồi là một sự thật đă ảnh hưởng tới tâm trí của vô số triệu người trong nhân loại chúng ta, nó đă uốn nắn tư tưởng của đại đa số mọi người trong vô vàn thế kỷ. Nó đă bị gạt bỏ ra khỏi tâm trí của người Âu Tây trong Thời đại Đen tối, và như vậy nó không c̣n ảnh hưởng tới sự phát triển trí tuệ và đạo đức của ta nữa – nhân tiện xin nói, nó đă gây tổn thương rất nhiều cho sự phát triển ấy. Đó là v́  trong vài trăm năm vừa qua thỉnh thoảng nó cũng lóe lên qua tâm trí của một số bậc vĩ nhân Âu Tây coi như là một lời giải thích khả hữu về một số vấn đề gây rối trí nhất trong cuộc đời. Và trong những năm gần đây v́ việc phát triển nó rơ ràng là một phần cốt yếu của Giáo lư Bí truyền, cho nên nó đă được thường xuyên thảo luận và thường xuyên được truyền bá trong đám học viên biết suy tư về những điều bí nhiệm của cuộc sống và sự tiến hóa.

Dĩ nhiên th́ chẳng có ǵ phải nghi ngờ việc các tôn giáo lớn trong lịch sử Đông phương đều bao gồm giáo lư về Luân Hồi là một giáo điều căn bản. Ở Ấn Độ cũng như ở Ai Cập, Luân Hồi là nền tảng của luân lư. Trong đám người Do Thái, những tín đồ giả nhân giả nghĩa Pharisees cũng thường chấp nhận nó[1] và niềm tin b́nh dân xuất hiện trong nhiều câu của kinh Tân Ước khi Thánh John Tiền hô được coi là sự tái sinh luân hồi của Elijah hoặc khi các đệ tử thắc mắc người sinh ra đă mù phải chịu tội của tổ phụ ḿnh hay chịu tội trước kia của chính ḿnh. Kinh Zohar cũng lại nói tới các linh hồn phải chịu sự chuyển kiếp. “Mọi linh hồn đều phải chịu sự tuần hoàn (đầu thai) nhưng người ta không biết được đường lối của Đấng Thiêng Liêng. Xin hăy được phước như thế! Họ không biết cách thức, họ bị phán xét trong mọi lúc, trước khi họ đến với thế giới này và sau khi họ đă rời bỏ nó”[2]. Kether Malkuth rơ rệt là cũng có ư giống như vậy theo cách Josephus truyền đạt khi dạy rằng: “Nếu linh hồn thanh khiết th́ nó sẽ được ân sủng và vui vẻ trong những ngày cuối cùng; nhưng nếu nó bị chối bỏ th́ nó sẽ đi lang thang một thời gian trong đau khổ và tuyệt vọng”[3]. Cũng vậy, ta thấy giáo lư đó cũng được các Đức Cha Giáo hội lỗi lạc giảng dạy và Ruffinus[4] có phát biểu rằng thời sơ khai nói chung đều tin vào Luân Hồi. Ta không cần nói rằng môn đồ phái triết học Ngộ đạo và phái Tân Platon đều coi nó là một phần bất khả phân ly trong giáo lư của ḿnh. Nếu ta liếc nh́n sang Tây bán cầu th́ ta thấy Luân Hồi đă bén rễ vững chắc, là niềm tin thâm căn cố đế trong nhiều bộ lạc Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Người dân Mayas với sự liên hệ rất thú vị về ngôn ngữ và biểu tượng hệ với cổ Ai Cập, vẫn bảo tồn được giáo lư đó theo truyền thống mà những cuộc khảo cứu của vợ chồng Tiến sĩ Le Plongeon đă chứng tỏ. Ngoài ra ta c̣n phải kể thêm vài bộ lạc khác là di tích của những quốc gia đă một thời oanh liệt; dù đă bị tiêu vong th́ họ vẫn c̣n bảo tồn niềm tin của tổ tiên đă từng một thời gắn bó với những dân tộc hùng mạnh nhất của Cựu thế giới.

Ta khó ḷng mà trông mong rằng giáo huấn có mức cổ xưa như thế với một tổ phụ có mức tri thức hoành tráng như thế mà lại bị lăng quên trong tâm trí loài người; do đó ta thấy rằng sự lu mờ mà nó phải chịu cách đây vài thế kỷ có tính chất riêng phần và chỉ ảnh hưởng tới một bộ phận nhỏ của loài người. Sự vô minh đang tràn ngập Âu Tây đă quét đi niềm tin vào Luân Hồi cũng như đă quét đi mọi triết lư, mọi siêu h́nh học, mọi khoa học. Âu châu thời Trung cổ không hiến một mảnh đất để cho đơm bông kết trái bất cứ một quan niệm triết lư có tầm mức rộng lớn nào về bản chất và số phận của con người. Nhưng ở phương Đông vốn được thừa hưởng một nền văn minh tinh tế đầy diễm phúc khi Âu châu c̣n đắm ch́m trong sự dă man, phương Đông đă từng có các triết gia và thi nhân trong khi phương Tây c̣n đang thất học th́ ở phương Đông giáo lư vĩ đại đó vẫn chi phối không bị phản bác cho dù trong khoa siêu h́nh học tinh vi của người Bà la môn hay trong khoa đạo đức cao thượng vốn qui y theo Đức Phật và Chánh Pháp.

Nhưng trong khi một sự kiện của Thiên nhiên có thể nhất thời bị lờ đi ở một bộ phận nào đó trên thế giới th́ nó vẫn không thể bị tiêu diệt, và khi bị đắm ch́m trong nhất thời th́ nó sẽ lại tự khẳng định trước mắt loài người. Điều này đă được chứng tỏ trở lại trong lịch sử về giáo lư Luân Hồi ở Âu Tây khi nó thỉnh thoảng lại tái xuất hiện, được truy nguyên từ khi giáo hội Thiên Chúa thành lập cho tới tận thời nay khi người ta đă chấp nhận nó tăng trưởng.

Khi Ki Tô giáo lần đầu tiên được truyền bá ở Âu châu th́ tư tưởng nội môn của các vị lănh đạo đă thấm đượm sự thật này. Giáo hội đă hoài công nhổ tận gốc nó và trong nhiều giáo phái khác nhau nó vẫn nẩy mầm vượt cả thời Erigena và Benaventura là những người ủng hộ nó thời Trung cổ. Mọi linh hồn vĩ đại có trực giác như Paracelsus, Boehme và Swedenborg đều tin theo nó. Những nhà khai sáng người Ư, Giordano Bruno và Campanella đều chấp nhận nó. Những triết gia xuất sắc nhất người Đức đều được nó làm cho phong phú. Schopenhauer, Lessing, Hegel, Leibnitz, Herder và Fichte trẻ tuổi đều tha thiết ủng hộ nó. Hệ thống nhân loại học của Kant và Schelling cung ứng những điểm tiếp xúc với nó. Helmont trẻ tuổi trong tác phẩm Về Cuộc Cách Mạng Trong Loài Động Vật có dẫn chứng tới hai trăm vấn đề mà các lập luận đều có thể được nêu ra để bênh vực cho việc linh hồn trở về những cơ thể con người theo các ư tưởng của Do Thái giáo. Trong số các tư tưởng gia người Anh th́ các môn đồ phái Platon ở Cambridge bênh vực nó với nhiều học thức và sự sắc sảo, rơ rệt nhất là Henry More; c̣n đối với Cudworth và Hume th́ nó được xếp vào hàng ngũ thuyết bất tử hợp lư nhất. Tác phẩm Ánh Sáng Phương Đông của Glanvil dành một bộ khảo luận kỳ diệu cho nó. Nó làm mê mẫn tâm trí của Fourier và Leroux. Tác phẩm Có nhiều Đường lối của Linh hồn của Andre Pezzani triển khai hệ thống ư tưởng chuộc tội của Công giáo La Mă[5].

Người nào có đọc Schopenhauer ắt quen thuộc với khía cạnh Luân Hồi trong triết lư của ông. V́ người Đức vĩ đại ấy đă thấm nhuần tư tưởng Đông phương do nghiên cứu Áo Nghĩa Thư cho nên ắt phải rất là kỳ lạ nếu ḥn đá tảng ấy của triết học Ấn Độ lại không có chỗ đứng trong hệ thống của ông. Schopenhauer đâu phải là triết gia duy nhất trong những người Đức trí thức và thần bí chấp nhận Luân Hồi là một yếu tố cần thiết cho Thiên nhiên. Ư kiến của Fichte, Herder, Lessing chắc chắn là đều có trọng lượng nào đó trong thế giới tư tưởng, và những người này thấy Luân Hồi là một giải pháp cho những vấn đề mà bằng không th́ chẳng giải quyết được. Quả thật thế giới trí thức không phải là một Nhà nước độc tài và không ai có thể áp đặt ư kiến của ḿnh lên đồng môn bằng thẩm quyền cá nhân; song le ở đó người ta chỉ cân nhắc ư kiến hơn là tính toán, và những người trí thức có học hơn và nhiều quyền lực hơn thuộc thế giới phương Tây mặc dù chỉ là một thiểu số vẫn có thể yêu cầu người ta phải kính cẩn lắng nghe ḿnh cố ư đề xướng ra điều đó đối với tất cả những người nào mà tâm trí không bị truyền thống hiện đại ràng buộc đến mức không thể thẩm định được giá trị của những lập luận nêu ra để ủng hộ một sự thật không phải là thời thượng.

Thật thú vị khi ta lưu ư thấy rằng chỉ nội ư tưởng Luân Hồi thôi cũng không c̣n bị phương Tây – ít ra là trong đám người có giáo dục – coi là phi lư nữa. Nó đang dần dần có được vị thế của một giả thuyết khả hữu, được xem xét theo công trạng của nó dựa vào việc nó có thể giải thích những hiện tượng gây rối trí và xét theo biểu kiến là không quan hệ ǵ. V́ bản thân tôi coi nó là một sự kiện đă được chứng minh cho nên đúng hơn th́ tôi muốn tŕnh bày nó ở những trang sách dưới dạng một giả thuyết có thể đúng, soi sáng hơn bất kỳ thuyết nào khác cho những vấn đề tối tăm thuộc cấu tạo của con người, tính t́nh của y, sự tiến hóa và số phận của y. Một Chơn sư có dạy rằng Luân Hồi và Nhân Quả là hai giáo lư mà phương Tây cần nhất; do đó bất cứ người nào tin vào Chơn sư đều không thể không đề xuất một phác họa cho bạn đọc b́nh thường biết được giáo huấn trung tâm này của Triết lư Bí truyền.

 

đầu trang  phần 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 cuối trang mục lục

Ư NGHĨA CỦA LUÂN HỒI

 

Ta hăy bắt đầu bằng việc hiểu rơ Luân Hồi nghĩa là ǵ. Xét theo từ nguyên của từ ngữ này th́ ta có thể bao gồm việc bất kỳ sự gia nhập lập đi lập lại nào vào một lớp vỏ thể chất bằng xương bằng thịt. Nó chắc chắn là có hàm ư một điều ǵ đó tương đối thường trụ nhập vào ở trong những điều ǵ đó tương đối vô thường và nối tiếp nhau. Nhưng từ ngữ này chẳng cho ta biết ǵ về bản chất của cái điều ǵ đó tương đối thường trụ và những điều ǵ đó tương đối vô thường ngoại trừ việc những nơi cư trú vô thường ấy làm bằng “xác thịt”. Một từ ngữ khác thường được dùng đồng nghĩa với Luân Hồi đó là từ ngữ Chuyển Kiếp, gợi ra một khía cạnh khác của tác vụ này; ở đây nơi cư trú bị lờ đi và người ta nhấn mạnh tới sự di chuyển của Linh hồn tức là điều tương đối thường trụ. Khi kết hợp hai ư này lại với nhau để mô tả trọn cả ư tưởng ấy ta ắt có Linh hồn nhập vào “những thể xác” liên tiếp bằng xương bằng thịt, và mặc dù từ ngữ “linh hồn” cũng dễ bị phản đối kịch liệt v́ nó mơ hồ theo ư nghĩa thần học th́ nhất thời nó cũng tượng trưng cho tâm trí hầu hết mọi người một dạng tồn tại vốn trường tồn so với cái khung thể chất mà nó gắn bó trong buổi sinh thời.

Theo nghĩa tổng quát này vốn không dính dáng ǵ tới bất kỳ giáo huấn công truyền hoặc bí truyền đặc biệt nào th́ Luân Hồi và Chuyển Kiếp là những từ ngữ để biểu thị một thuyết về sự tồn tại theo đó một dạng vật chất hữu h́nh là nơi cư trú của một nguyên thể tinh vi hơn nguyên thể này sống lâu hơn cái khuôn thể chất của nó và khi cái khuôn đó chết đi th́ nó lại chuyển sang (ngay tức khắc hoặc sau một thời gian) cư trú trong một cái khung khác. Có lẽ chưa bao giờ giáo lư này dưới dạng cao siêu nhất lại được tŕnh bày rơ ràng hoặc hay ho hơn qua lời khích lệ trứ danh của đấng  Krishna đối với Arjuna trong Chí Tôn Ca:

“Những cơ thể này của Đấng hiện thể (Ngài vốn vĩnh hằng, bất diệt và vô biên) đều được biết là hữu hạn . . . Kẻ nào coi là người giết chóc và kẻ nào nghĩ rằng ḿnh bị giết th́ cả hai kẻ ấy đều vô minh. Đấng ấy đâu có giết mà cũng chẳng bị giết. Đấng ấy vốn bất sinh cho nên bất tử; đấng ấy cũng đâu có từng hiện hữu cho nên đâu có bị ngưng hiện hữu; vốn không do ai sinh ra, trường tồn, vĩnh hằng và hẳng hữu cho nên đấng đó không bị giết khi cơ thể bị tiêu diệt. Ai biết ngài là bất diệt, bất sinh, bất giảm, hỡi Partha làm sao mà con người có thể giết được hoặc khiến cho ḿnh bị giết được? Cũng giống như một người cởi những bộ áo đă rách ṃn ra để khoác lấy những bộ áo mới, cũng thế chủ nhân ông trong cơ thể vứt bỏ những cơ thể đă bị ṃn mỏi để nhập vào những cơ thể khác mới tinh. Vũ khí không thể băm vằm ngài ra được, lửa không thể thiêu đốt ngài, nước không làm cho ngài ướt, gió không làm cho ngài khô. Ngài vốn không phân chia được, không thiêu đốt được và quả thật cũng không bị ướt hoặc bị khô; ngài được gọi là trường tồn, thấm nhuần tất cả, ổn định, bất biến, hằng hữu, vô hiện, bất khả tư nghị, bất di bất dịch; do đó khi biết rằng ngài như vậy th́ con đừng lấy ǵ làm buồn”[6].

Vậy là theo Triết lư Đông phương th́ thuyết Luân Hồi khẳng định rằng có tồn tại một Nguyên thể sống động và biệt lập ngă tính ngự trong thể xác con người làm cho nó linh hoạt và khi cơ thể ấy chết đi th́ nó chuyển sang một cơ thể khác sau một thời gian dài hoặc ngắn. Như vậy các kiếp sống liên tiếp trong cơ thể được nối liền với nhau giống như những viên ngọc trai được xỏ vào một sợi chỉ, sợi chỉ này là Nguyên thể sống động c̣n các viên ngọc trai trên đó là những kiếp người riêng rẻ.

 

đầu trang  phần 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 cuối trang mục lục

LUÂN HỒI LÀ G̀

 

Sau khi đă lĩnh hội được ư tưởng Luân Hồi là việc có một điều ǵ đó sống động ngự trong một chuỗi liên tiếp các cơ thể con người th́ chúng ta tự nhiên ắt thắc mắc: Cái điều sống động này là ǵ, cái Nguyên thể trường tồn luân hồi ấy là thế nào nhỉ? V́ việc ta hiểu được trọn cả giáo huấn ắt tùy thuộc vào việc hiểu rốt ráo được lời giải đáp cho thắc mắc này, cho nên ta cũng thấy là phí phạm thời gian khi bàn dông dài một chút về những t́nh huống dẫn tới và loanh quanh so với kiếp nhập thế đầu tiên của cái Nguyên thể sống động này nhập vào h́nh thể con người. Muốn hiểu được rốt ráo sự nhập thể này th́ ta phải truy nguyên các bước tiến hóa của con người.

Những người nào đă đọc quyển Cẩm nang đầu tiên ắt nhớ rằng trong đó mô tả Chơn thần tức Atma-Buddhi là “dây cót của mọi cuộc tiến hóa, là nguyên động lực thúc đẩy ở tận gốc rễ mọi vật”[7]. Những người nào c̣n chưa quen với tên gọi chuyên môn này ắt lĩnh hội được ư tưởng mà nhà Thông Thiên Học truyền đạt qua tên gọi đó nếu họ nghĩ tới Sự Sống Đại Đồng Vũ Trụ, là Cội Rễ của vạn hữu dần dần triển khai mọi biểu lộ của riêng ḿnh ra thành đủ thứ h́nh dạng tạo nên thế giới của chúng ta. Ở đây ta không thể truy nguyên trở lại câu chuyện về trái đất của ta trong những giai đoạn trước kia của cơ tiến hóa vô lượng kiếp: tôi hi vọng rằng điều này sẽ được thực hiện ở một trong những Cẩm nang thuộc loạt sách này. Nhưng chúng ta ở đây phải bằng ḷng với việc xét tới sợi chỉ đó ngay từ lúc bắt đầu giai đoạn hiện nay khi mầm mống ắt trở thành con người đă xuất hiện rồi do kết quả của sự tiến hóa trước kia trên bầu hành tinh này. Trong những quyển sách thuộc bộ Giáo Lư Bí Truyền, H.P.Blavatsky có tŕnh bày tỉ mỉ về cơ tiến hóa, và tôi khuyên học viên rốt ráo và tha thiết hăy tham khảo tác phẩm ấy. Chỉ cần nói rằng h́nh dáng thể chất của điều ắt trở thành con người đă được triển khai chậm chậm và rất từ từ, hai Giống Dân Chính đă trải qua trọn cả sự phát triển của ḿnh và Giống Dân Chính thứ Ba đă đi được nửa lộ tŕnh trước khi loài người đạt tới mức hoàn chỉnh xét về bản chất thể chất tức thú tính. Gọi bản chất này là bản chất thú tính rất đúng v́ nó bao hàm những ǵ mà con người có chung với con thú – một xác phàm, một thể phách, sinh lực, các đam mê, khao khát và ham muốn – bản chất này được các lực thuộc trái đất và các lực khác của vũ trụ kiến tạo nên qua hàng triệu năm. Nó được Sự Sống Vũ Trụ ấp ủ, bao bọc, thấm nhuần; đây là “Lực ẩn đằng sau Cơ Tiến Hóa”, là sự sống mà con người vào bất cứ thời đại nào cũng được gọi là Thiêng Liêng.

Một B́nh luận Huyền bí mà Giáo Lư Bí Truyền trích dẫn khi nói đến giai đoạn tiến hóa này có đề cập tới “những song trùng thể tinh vi” (astral doubles) được tiến hóa ra thành thể xác của con người. Vậy là mô tả được t́nh h́nh vào lúc đó khi ta đạt tới mức ấy:

H́nh tướng (rupa) đă trở thành hiện thể của các Chơn thần (nguyên khí thứ 6 và thứ 7) v́ đă hoàn tất chu kỳ chuyển tiếp trong ba cuộc tuần hoàn trước. Thế rồi các song trùng thể tinh vi trở thành những con người thuộc Giống Dân thứ Nhất của cuộc tuần hoàn này. Nhưng chúng chưa hoàn chỉnh và vẫn c̣n chưa có giác quan.

Ở đây ta có thể nói rằng có hai cực của sự biểu lộ Sự Sống đang tiến hóa: phần Thú tính với mọi tiềm năng trên cơi thấp nhưng tất nhiên là không có trí, vô lương tâm, la cà không có mục đích trên trái đất, hướng về phía trước một cách vô ư thức do có lực thúc đẩy bên trong bao giờ cũng xô đẩy nó về phía trước; lực này là phần Thiêng liêng, bản thân nó quá cao về bản chất thuần túy tinh anh nên không thể đạt được ư thức trên các cơi thấp, và do đó không thể bắc cầu qua vực thẳm ngăn cách nó với bộ óc thú tính mà nó làm linh hoạt nhưng không thể soi sáng được. Cơ thể ấy phải trở thành con người, là một tạo vật có tiềm năng mầu nhiệm, là một nhạc cụ với những dây đàn sẵn sàng được gẩy lên trổi thành nhạc, đâu là cái quyền năng biến những tiềm năng ấy thành hiện thực, đâu là cái ngón đàn thiên tài sẽ khơi dậy được bản nhạc du dương và gửi nó đi rộn ràng trong không gian?

Khi đă đến lúc th́ đáp án ắt xuất phát từ cơi trí tuệ. Trong khi cơ tiến hóa lưỡng bội nêu trên (chơn thần và thể chất) đang tiếp tục trên bầu hành tinh ta th́ có một đường lối tiến hóa thứ ba cũng tiếp diễn nơi một bầu cao hơn mà nó phải đạt tới mục tiêu nơi con người. Đường lối này là tiến hóa về tri thức và những chủ thể tiến hóa ấy là lớp thấp thỏi thuộc các Con của Trí tuệ, các thực thể thông tuệ hữu ngă thức mà tên gọi của họ đă hàm ư như thế. Các Con của Trí tuệ này được gọi bằng nhiều tên khác nhau: các Tinh quân Ánh sáng, Dhyan Chohans, Kumaras, Rồng Minh triết, Tổ phụ Thái dương v.v. . . Đây là những tên gọi ẩn dụ và đầy thi vị mà học viên sẽ làm quen và cảm thấy hấp dẫn trong quá tŕnh đọc tới nó, nhưng chúng cũng gây ra nhiều rắc rối và lẫn lộn cho kẻ sơ cơ vốn không hiểu nổi liệu ḿnh đang giao tiếp với một lớp thực thể duy nhất hay cả tá thực thể. Thật ra th́ tên gọi này bao gồm nhiều cấp. Nhưng điều duy nhất mà kẻ sơ cơ cần lĩnh hội đó là vào một giai đoạn tiến hóa nào đó, có một vài thực thể thông tuệ hữu ngă thức đă nhập vào, nhập thể nơi con người; họ đă trải qua một quá khứ lâu dài tiến hóa về trí thức và thấy con người thể chất là một công cụ thích hợp sẵn sàng để cho họ tiến hóa thêm nữa.

Sự giáng lâm của các Con của Trí tuệ này được tŕnh bày một cách thi vị trong những câu kinh của quyển Thiền Thư[8].

“Các Con của Minh triết, các Con của Đêm tối sẵn sàng luân hồi đă giáng lâm . . . Giống dân thứ Ba đă sẵn sàng rồi. Các Hỏa Đức Tinh quân phán: Chúng ta sẽ ngự nơi Giống dân này . . . Giống dân thứ Ba trở thành Hiện thể của các Tinh quân Minh triết”.

Các Tinh quân Minh triết này nhập thế với vai tṛ các bậc đạo sư và trở thành Tổ phụ của các Chơn ngă con người luân hồi, c̣n các Tổ phụ Thái dương thuộc cấp thấp hơn bản thân họ trở thành Chơn ngă luân hồi của các giống dân lănh đạo. Đó chính là cái Trí hoặc đúng hơn là những cái Trí nơi con người, là Manas tức Nguyên khí thứ Năm mà đôi khi ta mô tả là Hồn Người tức Hồn có Lư tính. Tôi thích gọi Chơn ngă luân hồi là Chủ thể Suy tư hơn là cái Trí nơi con người, v́ từ ngữ Chủ thể Suy tư gợi ra một thực thể cá biệt, c̣n từ ngữ cái Trí gợi ra một sự tổng quát mơ hồ.

Thật là thú vị và đầy ư nghĩa khi ta thấy từ ngữ con người xuyên suốt nhiều ngôn ngữ đều có từ nguyên là Manas hoặc Man tức là suy nghĩ. Trong quyển từ điển Từ nguyên Từ điển, bên dưới mục từ “Con người”, Skeat có tŕnh bày từ ngữ đó bằng tiếng Anh, tiếng Thụy điển, tiếng Đan mạch, tiếng Đức, tiếng Iceland, tiếng Gothic, tiếng La tinh (mas có nghĩa là nhiều người) đều phái sinh từ gốc tiếng Bắc phạn là Man và do đó định nghĩa con người là một “con thú biết suy tư”. Như vậy bất cứ khi nào ta nói tới Con người th́ ta đang nói tới Chủ thể Suy tư và lại ngược ḍng quá khứ trở về cái thời kỳ mà các Chủ thể Suy tư này “giáng lâm”, nghĩa là nhập thế trong một thể xác được kiến tạo để tiếp nhận họ khi con thú không có giác quan trở thành một thực thể biết suy tư nhờ có Manas nhập vào nó và ngự trong nó. Thế là Chơn nhơn đă khoác lấy “lớp áo bằng da thịt” của ḿnh sau khi sa đọa vào vật chất hồng trần để cho ḿnh có thể ăn được trái Cây Tri thức Thiện Ác và nhờ đó trở thành một vị “Thượng Đế”.

Chơn nhơn là cầu nối giữa phần Thiêng liêng và phần Thú tính mà chúng ta coi như có bản thể liên thông với nhau, thế nhưng vẫn chia ĺa nhau v́ thiếu sự hiệp thông mật thiết. Một tay của Chơn nhơn vươn lên trên hướng về Chơn thần Thiêng liêng, hướng về Tinh thần mà ḿnh vốn là ḍng dơi của nó, phấn đấu tiến lên để cho ḿnh có thể đồng hóa được cái bản chất cao siêu, để cho trí tuệ của ḿnh trở thành trí tuệ tâm linh, để cho sự hiểu biết của ḿnh trở thành minh triết. Tay kia của Chơn nhơn lại tḥ xuống túm lấy phần Thú tính mà nó phải mang y đi chinh phục các cơi thấp, y có thể rèn luyện và chinh phục nó cho những mục đích của riêng ḿnh, biến nó thành một công cụ hoàn hảo để biểu lộ sự sống cao siêu hơn. Nhiệm vụ trước mắt y c̣n lâu dài, đầu tiên y phải nâng được phần Thú tính lên tới phần Thiêng liêng, tới cái loại Vật chất tinh vi để nhập vào Tinh thần, sau khi đă băng qua ṿng cung đi xuống và bây giờ đang leo lên qua ṿng cung đi lên th́ y phải dẫn dắt cuộc sống để nó mang lại đủ mọi thành quả sau một cuộc lưu đày dài lâu rời xa chỗ ở chân thực của ḿnh. Cuối cùng y c̣n phải hiệp nhất trở lại cái khía cạnh riêng rẻ của Đấng Nhất Như để cho Tinh thần có được ngă thức trên mọi cơi với Vật chất là biểu lộ toàn bích của nó. Để hoàn thành nhiệm vụ cao cả ấy th́ y phải sử dụng công cụ là luân hồi.

Vậy th́ Chơn nhơn ấy mới là Chơn ngă của ta và ta ắt sai lầm khi nghĩ rằng thể xác là “bản ngă” cho nên mới xiển dương quá đáng cái “lớp áo bằng da thịt” tạm bợ này. Điều ấy cũng chẳng khác nào người ta coi cái áo là bản thân ḿnh c̣n chính ḿnh chỉ là một thứ phụ tùng cho bộ quần áo đó. V́ quần áo của ta chỉ tồn tại để phục vụ cho ta chứ ta không tồn tại để phục vụ chúng, và chúng chỉ là những món đồ cần thiết theo thời tiết, theo nhu cầu tiện nghi và theo tập tục; cho nên cũng giống như thế, cơ thể của ta cũng chỉ cần thiết cho ta v́ có những t́nh huống xung quanh ta cần tới chúng và chúng phải phục vụ cho ta chứ không được đè đầu cưỡi cổ ta. Một số người Ấn Độ không bao giờ bảo các nhu cầu của cơ thể là nhu cầu của ḿnh: họ nói “cái xác tôi đang đói”, “cái xác tôi đang mệt” chứ không nói “tôi đói” hoặc “tôi mệt”. Và mặc dù câu này nghe cũng chướng tai thậm chí có vẻ hoang đường nhưng nó đúng với sự thật hơn v́ ta tự đồng hóa ḿnh với xác của ḿnh rồi. Nếu chúng ta có thói quen đồng nhất hóa ḿnh về tư tưởng không phải với cái chỗ ở ḿnh ngự trong đó mà với Chơn ngă vốn ngự trong chỗ ở ấy th́ cuộc sống ắt trở nên một điều ǵ vĩ đại và thanh thản hơn. Ta ắt rũ bỏ được những chuyện rắc rối giống như ta lấy bàn chải chải bụi ra khỏi quần áo của ḿnh và ta ắt nhận ra được rằng tầm mức mà mọi chuyện ảnh hưởng tới ta không phải nơi sự đau khổ hoặc vui sướng mà chúng mang lại cho các hiện thể của ta song ở nơi sự tiến bộ hay tŕ trệ mà chúng mang lại cho Chơn nhơn ngự trong ta. V́ mọi chuyện đều chỉ là vấn đề trải nghiệm và học tập cho nên ta có thể học được nhiều bài học từ mỗi chuyện ấy, bằng cách t́m ra trong mỗi nỗi đau sự minh triết ẩn tàng trong đó chẳng khác nào những cánh hoa e ấp cuộn lại bên trong nụ hoa. Theo sự minh giải của luân hồi th́ ta sẽ nh́n đời bằng một cặp mắt khác, v́ cuộc đời trở thành một trường học dành cho Chơn ngă bất tử bên trong ta, Chơn ngă t́m được sự phát triển trong trường học ấy; Chơn ngă vốn đă hiện hữu, đang tồn tại và sẽ tồn tại v́ chưa bao giờ đến ngày tận số.

Vậy th́ kẻ sơ cơ nên nhớ kỹ ư tưởng cho rằng Chủ thể Suy tư là Chơn nhơn, Biệt ngă, Chơn ngă luân hồi và Chơn ngă này t́m cách hiệp nhất với Chơn thần  thiêng liêng trong khi vẫn đang rèn luyện và tẩy trược phàm ngă đầy thú tính mà nó phải liên kết với khi phải sống trong trần thế. Khi hiệp nhất với Chơn thần thiêng liêng, một điểm linh quang của Sự Sống Vũ Trụ và không thể tách rời khỏi Chơn thần th́ Chủ thể Suy tư trở thành Chơn ngă Tâm linh tức Chơn nhơn Thiêng liêng[9].

Đôi khi ta nói Chủ thể Suy tư là hiện thể của Chơn thần, có thể nói là cái khung tinh vi của Chơn thần giúp cho Chơn thần có thể tác động trên mọi cơi; v́ vậy ta thường thấy các tác giả Thông Thiên Học bảo rằng Tam nguyên thượng, tức Ba ngôi nơi Con người là cái luân hồi, và cách diễn tả đó có thể được thông qua mặc dù nó rất mơ hồ miễn là học viên nhớ cho rằng Chơn thần có tính cách Đại đồng Vũ trụ chứ không đặc thù và chỉ v́ chúng ta vô minh cho nên chúng ta mới bị gạt gẫm chia rẽ bản thân ḿnh với các huynh đệ của ḿnh và thấy Ánh sáng nơi bản thân ḿnh không giống với Ánh sáng nơi người khác[10]. Chơn thần có tính cách Đại đồng Vũ trụ nên không khác nhau dù ngự nơi những con người hoặc cá thể khác nhau. Nói cho nghiêm xác th́ thật ra chỉ có Chủ thể Suy tư mới luân hồi và ta dính dáng tới Chủ thể Suy tư tức Biệt ngă này.

Thế mà nơi Chủ thể Suy tư này có đủ mọi quyền năng mà ta xếp vào loại Tâm trí. Nó có kư ức, trực giác, ư chí. Nó thu thập được đủ mọi kinh nghiệm của các kiếp sống trên trần thế mà nó đă trải qua và tích lũy kho chứa kiến thức này để chuyển hóa chúng bên trong bản thân, dùng khoa luyện kim thiêng liêng để biến kiến thức   thành ra tinh hoa của kinh nghiệm tức là Minh triết. Ngay cả trong quăng đời ngắn ngủi khi sống trên trần thế ta cũng phân biệt được kiến thức mà ta thu thập và minh triết mà ta dần dần chưng cất được từ kiến thức ấy (tiếc thay rất là hiếm hoi). Minh triết là thành quả của kinh nghiệm trọn cả đời, là đỉnh cao sở hữu của người có tuổi. Và theo một ư nghĩa phong phú, đầy đủ hơn th́ Minh triết là thành quả của kiến thức mà ta đă thu thập được trong nhiều kiếp; do kinh nghiệm tích lũy được cho nên y mới đủ kiên nhẫn để cho công tŕnh của ḿnh được hoàn chỉnh sao cho về lâu về dài th́ Chơn nhơn thiêng liêng là thành quả vinh diệu của biết bao thế kỷ tiến hóa. Vậy th́ Chủ thể Suy tư tích trữ các kinh nghiệm gặt hái được qua mọi kiếp trong quá khứ, thu lượm được qua nhiều kiếp luân hồi; đây là một di sản mà mỗi người đều chắc chắn sẽ có được khi y học cách vươn lên trên sự nô lệ của các giác quan, thoát ra khỏi cơn băo táp và căng thẳng thần kinh của cuộc sống thế tục nhập vào vùng thanh trong tức cơi cao mà Chơn ngă ta ngự nơi đó.

 

đầu trang  phần 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 cuối trang mục lục

LUÂN HỒI KHÔNG PHẢI LÀ G̀

 

Trong Tiết trước ta đă thấy rằng “h́nh tướng” bên ngoài của con người, bản chất vật thể của y được kiến tạo chầm chậm qua hai Giống dân rưởi cho tới khi nó sẵn sàng tiếp nhận Con của Trí tuệ[11]. Đây là bản chất mà ta gọi là thú tính và nó bao gồm bốn bộ phận có thể phân biệt được với nhau, tức là bốn nguyên khí I- xác phàm, II- thể phách, III- sinh khí, IV- bản chất đam mê bao gồm các đam mê, khao khát và ham muốn. Đây quả thật là con người thú tính khác với đám bà con là loài thú thuần túy do ảnh hưởng mà Chủ thể Suy tư tác động lên nó, Chủ thể Suy tư này giáng lâm để dạy dỗ và làm cho nó được cao cả. Dẹp bỏ Chủ thể Suy tư đi (giống như trường hợp kẻ đần độn bẩm sinh) th́ ta chỉ c̣n lại một con thú mặc dù nó mang xác người.

Thế mà Chủ thể Suy tư liên kết với và làm linh hoạt người thú ấy bèn truyền thụ cho bản chất thấp hèn những năng lực của riêng ḿnh khiến cho người thú ấy có thể biểu lộ được, những năng lực ấy hoạt động thông qua bộ óc người; chúng ta nhận ra chúng là trí năo tức hạ trí. Ở phương Tây, sự phát triển trí năo này được coi là điểm phân biệt giữa con thú và con người theo cách nói b́nh thường. Điều mà nhà Thông Thiên Học coi chỉ là hạ trí tức trí năo th́ người phương Tây b́nh thường lại coi là chính cái trí và v́ thế mới có nhiều lẫn lộn khi nhà Thông Thiên Học và người không phải Thông Thiên Học gặp gỡ nhau. Chúng tôi xin nói rằng Chủ thể Suy tư khi phấn đấu đạt tới và gây ảnh hưởng lên người thú th́ đă phóng ra một Tia tác động lên bộ óc để thông qua bộ óc đó biểu lộ được đến mức tối đa những quyền năng trí tuệ mà bộ óc đó có thể thông dịch được nhờ vào cấu h́nh và phẩm chất thể chất khác của nó. Tia này làm cho các phân tử thuộc tế bào thần kinh trong bộ óc rung động (chẳng khác nào một tia sáng làm xao xuyến những phân tử thuộc tế bào thần kinh của vơng mạc) và như vậy nó sinh ra ư thức trên cơi trần. Lư trí, phán đoán, kư ức, ư chí, thiết kế thi công – những năng lực mà ta biết biểu lộ ra khi bộ óc hoạt động được trọn vẹn – tất cả những thứ đó đều là thành phần của cái Tia mà Chủ thể Suy tư phóng ra, bị biến đổi theo những điều kiện vật chất mà nó phải tác động thông qua đó. Những điều kiện này bao gồm các tế bào thần kinh lành mạnh phát triển thăng bằng của từng nhóm tế bào thần kinh riêng biệt một, được cung ứng đầy đủ máu có chứa chất dinh dưỡng để cho tế bào đồng hóa được thế chỗ cho chất bị loại đi, máu đó c̣n mang oxy và dễ dàng phóng thích oxy ra khỏi hiện thể của ḿnh. Nếu những điều kiện này không hội đủ th́ bộ óc không hoạt động được và các quá tŕnh tư duy không thể được tiến hành thông qua bộ óc ấy cũng chẳng khác nào ta không thể tạo ra một bản nhạc du dương từ một cây đàn organ đă bị bễ ống gió. Bộ óc không tạo ra được tư tưởng cũng như đàn organ không tạo ra được bản nhạc du dương; trong cả hai trường hợp th́ đều có người tác dụng vào đấy thông qua khí cụ ấy. Nhưng người tác dụng có khả năng biểu lộ ra (về mặt tư tưởng hoặc về mặt bản nhạc du dương) bị hạn chế do năng lực của khí cụ.

Học viên rất cần thẩm định minh bạch sự khác nhau này giữa Chủ thể Suy tư và người thú mà bộ óc của người thú chịu tác động của Chủ thể Suy tư, v́ bất kỳ sự lẫn lộn nào giữa hai thực thể này sẽ khiến ta không hiểu được giáo lư về Luân Hồi. Đó là v́ trong khi Chủ thể Suy tư luân hồi th́ người thú lại không luân hồi.

Ở đây quả thật khó khăn này là nguyên nhân dẫn tới biết bao nhiêu khó khăn khác. Người thú được sinh ra và Chơn nhơn liên kết với người thú; Chơn nhơn hoạt động thông qua bộ óc của người thú hết kiếp này sang kiếp khác mà vẫn chỉ là một Chơn nhơn thôi. Nó lần lượt làm linh hoạt những người thú Sashital Dev, Gaius Glabrio, Johanna Wirther, William Johnson (cứ cho là như vậy đi) và nơi mỗi người thú nó đều thu thập được kinh nghiệm, đều thu lượm được kiến thức qua mỗi người thú và đan dệt vật liệu đó thành ra Bản thể vĩnh hằng của chính ḿnh. Người thú chỉ có được sự bất tử chỉ khi hiệp nhất được với Chơn ngă; Sashital Dev không luân hồi thành ra Gaius Glabrio, rồi thành Johanna Wirther và đơm bông kết trái thành William Johnson ở nước Anh vào thế kỷ 13; chỉ có một Con của Trí tuệ lần lượt ngự trong mỗi người thú này thu thập kinh nghiệm mới mẻ, tri thức mới mẻ từ mỗi chỗ ở đó. Chỉ Chơn ngă luân hồi ấy mới có thể ngoái nh́n lại đường lối luân hồi của ḿnh, nhớ lại mỗi kiếp trên trần thế, câu chuyện mỗi cuộc hành hương đi từ cái nôi tới nấm mồ, trọn cả vở tuồng diễn ra hết hồi này sang hồi khác, hết thế kỷ này đến thế kỷ khác. Ta hăy xét những diễn viên tưởng tượng của ḿnh, William Johnson vào thế kỷ 19 không thể ngoái nh́n lại, không thể nhớ được những kiếp luân hồi của ḿnh v́ trước kia y đă có bao giờ được sinh ra đâu, mắt y có bao giờ thấy được ánh sáng của thời xa xăm đâu. Nhưng tính t́nh bẩm sinh của William Johnson (cái tính t́nh mà y mang theo khi đến với cuộc đời) chính là tính t́nh đă được rèn giũa và tôi luyện bởi Johanna Wirther ở Đức, Gaius Glabrio ở Rome và Sashital Dev ở Hindustan, và cũng như nhiều người khác là bậc tiền bối trên trần thế của y ở nhiều xứ sở trong nhiều nền văn minh. Y đang thêm những nét chấm phá mới cho công tŕnh của biết bao thời đại này bằng vào cuộc sống hằng ngày của ḿnh để cho nó qua tay y và khác đi một chút (thấp hèn hơn hoặc cao thượng hơn) để sang tay cho kẻ thừa kế và tiếp nối y trên sân khấu cuộc đời; theo một ư nghĩa rất thực mặc dù không phải nơi ngoại giới th́ kẻ đó cũng là chính y chứ không c̣n ai nữa.

Như vậy, thắc mắc vốn tự nhiên xuất hiện trong tâm trí và thường được nêu ra là: “Tại sao tôi không nhớ lại những kiếp quá khứ của ḿnh?” th́ quả thực là dựa vào những quan niệm sai lầm về thuyết luân hồi. Chơn ngă nhớ chứ, nhưng người thú tức phàm ngă c̣n chưa hiệp nhất trọn vẹn với Chơn ngă th́ không thể nhớ được một quá khứ mà cá nhân y đâu có chia xẻ. Trí nhớ trong bộ óc chỉ chứa phần ghi lại những biến cố có dính dáng tới bộ óc đó thôi và bộ óc của William Johnson hiện nay đâu phải là bộ óc của Johnson Wirther, của Gaius Glabrio hoặc của Sashital Dev. William Johnson chỉ có thể nhớ những kiếp quá khứ liên kết với ḿnh khi bộ óc của y có thể rung động hưởng ứng với những rung động vi tế phóng xuống nó thông qua cái Tia vốn là cầu nối giữa phàm ngă phù du và CHƠN NGĂ vĩnh hằng. Muốn làm được như vậy th́ y phải hiệp nhất mật thiết với Chơn ngă ấy, phải sống với ư thức ḿnh không phải là William Johnson mà là một Con của Trí tuệ, c̣n William Johnson chỉ là căn nhà tạm bợ mà ḿnh đang sống trong đó v́ những mục đích riêng. Thay v́ sống với ư thức của bộ óc th́ y phải sống với ư thức cao siêu; thay v́ nghĩ Chơn ngă đang ở bên ngoài, là một điều ǵ đó ở bên ngoài ḿnh, c̣n William Johnson phù du mới là “ḿnh”, th́ y phải đồng nhất hóa ḿnh với Chủ thể Suy tư, phải coi William Johnson là cơ quan ở bên ngoài, hữu dụng để làm việc trên cơi vật chất, phải được giáo dục và rèn luyện tới mức hữu hiệu cao nhất, sự hữu hiệu đó bao gồm việc bộ óc của William Johnson phải nhanh chóng hưởng ứng với chủ nhân ông chân thực.

Khi ta dần dần tiến hành công việc khó khăn để cho con người xác thịt tiếp thu ảnh hưởng của các cơi cao, khi Chơn ngă càng ngày càng có thể ảnh hưởng lên chỗ trú xác thịt của nó, th́ những sự thoáng thấy các kiếp đă qua sẽ lóe lên trong tâm thức hạ đẳng; những điều này càng ngày sẽ càng ít giống như tia lóe lên và càng giống như những linh ảnh thường trụ cho tới khi cuối cùng sợi chỉ kư ức liên tục mang lại ư thức về biệt ngă nhận ra quá khứ ấy chính là “của tôi”. Lúc bấy giờ kiếp hiện tại được coi chỉ là lớp áo cuối cùng mà Chơn ngă đă khoác lấy. Ta không c̣n đồng nhất hóa nó với Chơn ngă ấy nữa cũng như một cái áo mà người ta mặc vào đâu có được y coi là một bộ phận của ḿnh. Người ta không coi cái áo là bộ phận của ḿnh v́ y có thể cởi nó ra một cách hữu thức và thấy nó tách biệt với chính ḿnh. Khi Chơn nhơn thực hiện được điều đó với thể xác một cách hữu thức trên cơi này th́ sự chắc chắn trở nên hoàn tất.

Lúc bấy giờ lớp áo – “cái áo bằng da bằng thịt”, thể phách, sinh khí, bản chất đam mê – không c̣n luân hồi nữa, các yếu tố của nó tan ră trở về với kho chứa mà chúng thuộc về đó nơi các cơi thấp. Mọi thứ tốt đẹp nhất nơi William Johnson đều theo chân Chơn ngă chuyển vào một thời kỳ an dưỡng cực lạc cho tới khi xung lực đẩy nó ra khỏi sinh hoạt trên trần thế đă cạn kiệt th́ nó lại rớt xuống cơi trần.

 

đầu trang  phần 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 cuối trang mục lục

PHƯƠNG PHÁP LUÂN HỒI

 

Giờ đây sau khi đă có được ư niệm rơ ràng về Chơn ngă luân hồi tức Chủ thể Suy tư và phân biệt được nó với người thú tức phàm nhơn phù du th́ học viên phải ra sức t́m hiểu về phương pháp Luân Hồi.

Ta sẽ thẩm định chính xác nhất được phương pháp này bằng cách xét tới cơi mà Chủ thể Suy tư thuộc về cơi đó và Lực mà nó tác động với lực ấy. Chủ thể Suy tư chính là cái gọi là Nguyên khí thứ Năm nơi con người, Nguyên khí thứ Năm nơi tiểu vũ trụ tức con người tương ứng với Cơi thứ Năm trong đại vũ trụ tức vũ trụ bên ngoài con người. Các cơi này là biến dị của Nguyên chất bản sơ theo Triết lư Bí truyền và tâm thức hoạt động trên mỗi cơi thông qua những điều kiện của mỗi cơi đó (bất chấp những điều kiện đó là ǵ đi chăng nữa). Nguyên chất là một từ ngữ được dùng để diễn tả Bản thể dưới dạng ngoại giới sơ khai nhất, là biểu lộ bản sơ của khía cạnh tuần hoàn thuộc ĐẤNG NHẤT NHƯ, là lớp màn mỏng đầu tiên của Càn khôn tương lai vào lúc ban sơ mờ mờ mịt mịt của vạn vật biểu hiện. Nguyên chất này chứa trong nó tiềm năng của mọi thứ kể cả Tinh thần tinh vi nhất lẫn Vật chất thô trược nhất. Theo định đề của Triết lư Bí truyền th́ có một Nguyên chất tức Nguyên thể ban sơ và Càn khôn được triển khai ra từ đó; dưới dạng tinh vi nhất đó là Tinh thần, Năng lượng, Lực; dưới dạng thô trược nhất đó là Vật chất rắn đặc nhất; h́nh tướng thiên biến vạn hóa trong mọi thế giới đều là Nguyên thể này được tụ tập lại thành ra các khối ít nhiều thô trược, thấm nhuần ít nhiều Thần lực. Một cơi chỉ có nghĩa là một tŕnh độ tồn tại mà cái nguyên thể Tinh thần-Vật chất biến thiên trong đó ở một mức độ giới hạn nào đó và tác động theo một vài “định luật” nào đó. Nnư vậy cơi hồng trần chỉ có nghĩa là cái thế giới mà ta nh́n thấy được, nghe thấy được, sờ mó thấy được, ngửi thấy mùi được, nếm thấy vị được; nhờ vào các giác quan, ta có thể tiếp xúc được với cơi hồng trần tức là nguyên thể Tinh thần-Vật chất - Khoa học gọi đó là Lực và Vật chất dường như thể tách rời được Lực ra khỏi Vật chất – cho dù dưới dạng chất đặc, chất lỏng hay chất hơi v.v. . . Cũng như thế đối với các cơi khác, mỗi cơi đều phân biệt được do đặc trưng của nguyên thể Tinh thần-Vật chất ấy. Tâm thức biểu hiện trên mỗi cơi này tức là hoạt động thông qua nguyên thể Tinh thần-Vật chất của cơi ấy. Ngoài phát biểu thô thiển và súc tích nêu trên ta c̣n phải thêm vào một sự kiện nữa đó là: các cơi không giống như ta nói ở trên tức là giống như các lớp vỏ củ hành, lớp này chồng lên lớp kia mà các cơi giống như không khí và chất dĩ thái trong thể xác ta, nghĩa là chúng lồng vào nhau, đan xen vào nhau.

Tương ứng với các cơi này là bảy nguyên khí, đồng khí tương cầu với bảy cơi trong Càn khôn. Chủ thể Suy tư là nguyên khí thứ năm trong số bảy nguyên khí.

Thế mà nguyên khí thứ năm nơi con người lại tương ứng với cơi thứ năm trong Càn khôn, cơi Mahat, tức Trí tuệ Vũ trụ, tức Thiết kế Thi công Thiêng liêng; từ cơi này trực tiếp xuất phát ra cái Lực uốn nắn, dẫn dắt, điều động vốn là bản thể của mọi thứ biến dị mà ta gọi là lực trên cơi hồng trần[12]. Mọi thế giới h́nh tướng (cho dù là h́nh tướng tinh vi hay thô trược) đều được triển khai bởi và thông qua Lực này của Trí tuệ Vũ trụ bằng cách tụ tập và tách rời các nguyên tử, tích hợp chúng thành ra các h́nh tướng, làm cho chúng tan ră ra trở lại, xây dựng rồi lại đập đổ, kiến tạo rồi lại phá hủy, hút rồi lại đẩy. Đó là Lực Nhất Như theo quan điểm của triết gia, là nhiều lực theo quan sát của nhà khoa học, nhưng thật ra chỉ là một xét về bản thể và có biểu lộ thiên h́nh vạn trạng. Như vậy xuất phát từ cơi thứ năm ta có mọi sự sáng tạo ra h́nh tướng (ta dùng từ sáng tạo theo nghĩa uốn nắn vật liệu đă tồn tại trước đó, tạo h́nh cho nó thành ra các h́nh tướng mới. Trong Triết lư Bí truyền, Lực Tư Tưởng này là cội nguồn như nhất của h́nh tướng; H. P. Blavatsky gọi nó là “quyền năng bí nhiệm của tư tưởng khiến nó có thể tạo ra những kết quả nhận thức được nơi ngoại giới như thể phép lạ do năng lượng cố hữu của chính ḿnh[13].

Cũng như trong cơi thứ năm của Vũ trụ, nguyên khí thứ năm của con người cũng như thế; nơi Chủ thể Suy tư có Thần lực giúp tạo ra vạn vật và ta sẽ t́m được bí quyết của phương pháp luân hồi nơi chính quyền năng sáng tạo này của tư tưởng.

Những người nào muốn chứng tỏ cho ḿnh thấy tư tưởng sinh ra các h́nh ảnh tức là các “h́nh tư tưởng” – sao cho phát biểu “tư tưởng là một sự vật” đúng hoàn toàn theo nghĩa đen – có thể thấy điều mà họ t́m kiếm qua những phần ghi chép giờ đây đă được phổ biến rộng răi về cái gọi là các cuộc thôi miên. H́nh tư tưởng của một ư tưởng có thể được phóng chiếu lên một tờ giấy để trắng và một người bị thôi miên đâm ra thấy được h́nh tư tưởng trên đó; hoặc nó có thể được làm cho mang tính chất ngoại giới đến nỗi người bị thôi miên sẽ trông thấy và cảm nhận được nó dường như thể đó là một vật có thật trên cơi trần. Lại nữa, một “người đồng cốt” ắt thấy tư tưởng của người khác giống như “một vong linh” trong tâm trí của một người      hiện diện, tư tưởng này lấy h́nh ảnh trong hào quang của y tức là bầu từ khí bao xung quanh y. Hoặc một nhà thần nhăn trong lúc xuất thần hoặc tỉnh táo ắt nhận ra và mô tả được một h́nh ảnh cố t́nh tạo ra do một người hiện diện ở đó nhưng không thốt nên lời nào, song ư chí được vận dụng để phác họa h́nh ảnh rơ rệt trong tư tưởng. Mọi người biết “h́nh dung” tốt đều có thần nhăn đến một mức nào đó và bằng cách thực hiện cá nhân, họ có thể chứng tỏ cho ḿnh thấy khả năng uốn nắn vật chất tinh vi bằng ư chí. Lại nữa, vật chất trung giới kém tinh vi hơn cũng có thể được uốn nắn như vậy; H. P. Blavatsky ở trang trại Eddy đă uốn nắn h́nh ảnh trung giới được phóng chiếu ra từ người đồng cốt sao cho nó giống như những người mà chỉ có bà mới biết chứ những người khác có mặt nơi đó đều không biết. Ta không thể coi điều này là kỳ lạ nếu ta nhớ rằng thói quen tư tưởng thậm chí đă uốn nắn xiết bao vật chất thô trược cấu thành thể xác của ta cho đến khi tính t́nh của người có tuổi được in dấu lên khuôn mặt của y, nét đẹp đó không ở nơi h́nh tướng hoặc sắc da mà ở nơi dung mạo biểu hiện cái mặt nạ được uốn nắn theo Chơn ngă nội tâm. Bất kỳ đường lối tư tưởng quen thuộc nào dù là thói xấu hay tính tốt đều ghi dấu lên các đặc điểm của thể xác và chúng ta chẳng cần dùng thần nhăn để xem xét hào quang th́ cũng nói lên được liệu thái độ tâm trí của người ta là hào phóng hay chụp giựt, dễ tin hay đa nghi, yêu thương hay thù ghét. Đây là một sự thật rất thông thường đến nỗi nó chẳng gây được ấn tượng nào cho ta. Thế nhưng ư nghĩa của nó cũng đủ rồi bởi v́ nếu vật chất thô trược của thể xác mà c̣n bị các lực tư tưởng uốn nắn được như thế th́ cái ǵ khó tin hoặc thậm chí kỳ quặc đâu nơi ư tưởng cho rằng các dạng vật chất tinh vi hơn cũng dễ được uốn nắn như thế và sẽ ngoan ngoăn mang h́nh dáng mà chúng được uốn nắn bởi ngón nghề khéo léo của Nghệ sĩ bất tử, tức là Chơn nhơn suy tư?

Vậy th́ ở đây ta chủ trương rằng Manas xét về bản chất cố hữu là một năng lượng tạo h́nh và sự nối tiếp các diễn biến để biểu lộ được một sự vật nơi ngoại giới là như sau: Manas tạo ra một tư tưởng và tư tưởng này có h́nh tướng trong thế giới trí tuệ; nó chuyển sang cơi kama-manas, ở đó nó trở nên thô trược; thế rồi nó lại chuyển sang cơi trung giới nơi nó c̣n thô trược hơn nữa cho nên nhà thần nhăn nh́n thấy được nó. Nếu được một người có ư chí lăo luyện cố t́nh điều khiển th́ nó có thể tức khắc chuyển xuống cơi trần và ở đó nó khoác lấy vật chất của cơi trần, như vậy là mắt phàm cũng thấy nó nơi ngoại giới; trong khi đó thường thường th́ nó vẫn ở trên cơi trung giới đóng vai tṛ cái khuôn để cho sự sống nơi ngoại giới sẽ được xây dựng vào đó khi có dịp xảy ra thu hút nó tới nơi nào thuận lợi. Một Chơn sư đă viết rằng bậc Cao đồ có thể phóng chiếu và làm hiện h́nh nơi thế giới hữu h́nh những h́nh tướng mà óc tưởng tượng của ngài đă kiến tạo ra từ vật chất vũ trụ trơ ĺ nơi thế giới vô h́nh. Bậc Cao đồ không tạo ra điều ǵ mới mà chỉ vận dụng và chế biến vật liệu được Thiên nhiên tích trữ sẵn xung quanh ngài, vật liệu này đă qua tay mọi h́nh tướng trong suốt thời kỳ vĩnh hằng. Ngài chỉ việc chọn cái vật liệu mà ngài cần và khiến cho nó tồn tại nơi ngoại giới trở lại[14].

Có lẽ việc đề cập tới những sự thật mà ai cũng biết trên cơi trần có thể giúp cho bạn đọc nhận ra được cái vô h́nh trở thành cái hữu h́nh như thế nào. Tôi có nói một h́nh tướng dần dần trở nên thô trược khi nó chuyển từ cơi manas sang cơi kama-manas, từ cơi kama-manas sang cơi trung giới, từ cơi trung giới sang cơi trần. Ta hăy nghĩ tới một b́nh chứa làm bằng thủy tinh, xét theo biểu kiến là trống rỗng nhưng thực ra th́ chứa đầy các chất khí mà mắt thường không thấy được; đó là khí hydro và khí oxy; một tia lửa điện tạo ra sự hóa hợp khiến cho “nước” tồn tại nhưng ở dưới dạng thể hơi; khi b́nh chứa được làm nguội đi th́ dần dần mắt ta thấy được hơi nước lờ mờ; đến lúc nguội thêm nữa th́ hơi nước ngưng tụ thành ra những giọt nước đọng lại trên b́nh thủy tinh; khi nguội thêm nữa th́ nước đóng băng lại trở thành một lớp mỏng tinh thể nước đá ở thể rắn. Cũng như thế khi tia lửa điện manas lóe lên th́ nó tổ hợp vật chất tinh vi thành ra một h́nh tư tưởng, h́nh tư tưởng này thô trược đi thành ra h́nh tướng kama-manas (tương tự như hơi nước ở thể hơi của ta), h́nh tướng kama-manas thô trược đi thành ra h́nh tướng trung giới (tương tự như nước lỏng của ta) và cứ như thế thành ra h́nh tướng trên cơi trần (tương tự như nước đá của ta). Học viên Triết lư Bí truyền nên biết rằng khi tiến hóa trong Thiên nhiên th́ vạn vật đi theo chuỗi thứ tự đều đặn và y sẽ làm quen với việc hiểu được những phân trạng thái vật chất trên cơi trần cũng tương tự như các trạng thái trên các cơi khác nhau thuộc thế giới “vô h́nh”. Nhưng đối với những người không phải Thông Thiên Học th́ minh họa nêu trên chỉ được đưa ra để tŕnh bày một h́nh ảnh cụ thể trên cơi trần về quá tŕnh thô trược hóa cho thấy cái vô h́nh có thể ngưng tụ thành cái hữu h́nh như thế nào.

Tuy nhiên thật ra th́ quá tŕnh ngưng tụ từ vật chất loăng thành ra vật chất thô là một trong những sự kiện thông thường nhất theo kinh nghiệm của ta. Thế giới thực vật tăng trưởng bằng cách thu hút những chất khí từ bầu khí quyển và biến những vật liệu này thành ra chất lỏng và chất đặc. Hoạt động của sinh lực biểu hiện qua việc thường xuyên kiến tạo các h́nh tướng không thấy được thành ra các h́nh tướng thấy được; cho dù quá tŕnh tư tưởng nêu trên là đúng hay sai th́ chẳng có điều ǵ trong đó mà xét theo cố hữu là không thể có được hoặc thậm chí phi thường. Sự thật của nó chỉ là vấn đề bằng chứng và ở đây bằng chứng của những người có thể nh́n thấy được h́nh tư tưởng trên các cơi khác nhau chắc chắn là có giá trị hơn bằng chứng của những người khhông thấy được. Lời rêu rao của cả trăm kẻ mù chối bỏ một vật mà mắt thường thấy được không thể có trọng lượng hơn lời xác nhận của một người có thể thấy được bằng mắt phàm và làm chứng là ḿnh có thấy. Về vấn đề này th́ nhà Thông Thiên Học có thể vui ḷng chờ đợi v́ biết rằng sự thật không thể bị uốn cong do bị chối bỏ và thế gian sẽ dần dần đổi ư biết rằng có tồn tại các h́nh tư tưởng cũng như nó đă từng đổi ư – sau một thời kỳ chế nhạo tương tự - v́ biết rằng có tồn tại một số sự thật mà Mesmer khẳng định vào cuối thế kỷ thứ 18.

Lúc bấy giờ người ta sẽ khám phá ra rằng các diễn biến xuất phát từ cơi manas hoặc cơi kama-manas dưới dạng các ư tưởng hoặc các ư nghĩ đam mê, xúc động v.v. . . , thế rồi chúng khoác lấy h́nh tướng nơi cơi trung giới và cuối cùng xuất hiện nơi ngoại giới trên cơi trần dưới dạng các hành vi hoặc biến cố sao cho những thứ đó chỉ là hậu quả của những nguyên nhân tâm trí đă tồn tại trước đó rồi. Thế mà theo Triết lư Bí truyền th́ xác phàm chính là một hậu quả như vậy; nó được uốn nắn theo thể phách (đến lúc này th́ bạn đọc ắt đă đủ quen thuộc thuật ngữ này rồi). Ta phải lĩnh hội rơ rệt được ư tưởng có một thể bằng chất dĩ thái được dùng làm cái khuôn để cho vật chất thô trược hơn có thể kiến tạo vào đó, và nếu ta muốn hiểu được phương pháp luân hồi th́ ngay lúc này ta phải chấp nhận quan niệm xác phàm là kết quả của việc xây dựng các phân tử thô trược vào trong một cái khuôn dĩ thái đă tồn tại trước đó rồi.

Bây giờ ta hăy quay lại ư tưởng về Chủ thể Suy tư, tạo ra các h́nh tư tưởng chắc chắn là hoạt động thông qua hạ trí tức kama-manas nơi người thường v́ ta không hi vọng ǵ chỉ trong một lúc mà t́m ra được nhiều dấu vết về hoạt động thuần túy manas. Trong sinh hoạt hằng ngày, ta suy nghĩ và thế là tạo ra h́nh tư tưởng: “Một con người không ngừng chất đầy ḍng tâm linh của ḿnh trong không gian bằng một thế giới của riêng ḿnh, lúc nhúc đám con cháu của những hoang tưởng, ham muốn, thôi thúc và đam mê của ḿnh[15].

(Việc xét tới hậu quả của h́nh tư tưởng này đối với những người khác là đề tài Nhân Quả và sẽ được bàn tới sau). Những h́nh tư tưởng này vẫn lẩn quẩn trong hào quang của y tức bầu từ khí của y, và khi thời gian trôi qua th́ việc chúng gia tăng số lượng sẽ tác động lên y với lực ngày càng được tích lũy lại; việc lập đi lập lại tư tưởng cùng với các loại h́nh tư tưởng thêm sức cho chúng hết ngày này sang ngày khác có năng lượng được tích lũy thêm cho đến khi một loại h́nh tư tưởng nào đó khống chế sinh hoạt trí tuệ của y đến mức con người chẳng thà đáp ứng với sự thôi thúc của h́nh tư tưởng ấy c̣n hơn là quyết định tạo ra một h́nh tư tưởng mới, và cái mà ta gọi là thói quen chính là sự phản ánh nơi ngoại giới của việc này khi lực được tích tụ đă thâm căn cố đế. “Tính t́nh” được xây dựng như thế và nếu ta quen thân với bất cứ người nào có tính t́nh chín chắn th́ ta có thể khẳng định một cách khá chắc chắn y sẽ hành động như thế nào trong bất kỳ bối cảnh nào cho sẵn.

Khi đến lúc chết th́ các thể tinh vi chia tay với xác phàm, thể phách dần dần tan ră theo xác phàm. Thể tư tưởng bắt nguồn từ sinh hoạt quá khứ c̣n trường tồn được một thời gian đáng kể và trải qua đủ thứ quá tŕnh củng cố kinh nghiệm, đồng hóa nhiều tư tưởng đă biến dị và chuyển giao kết quả cho thể nguyên nhân rồi mới đến lượt nó bị tan ră. Khi đă gần đến lúc luân hồi th́ thể nguyên nhân tức Chơn ngă luân hồi bèn kiến tạo một thể trí mới và một thể vía mới, c̣n các Nghiệp quả Tinh quân cung cấp một cái khuôn thích hợp để biểu diễn Nghiệp quả cần phải thanh toán và thể phách được kiến tạo theo cái khuôn đó. V́ bộ óc cũng như phần c̣n lại của xác phàm đều được kiến tạo vào thể phách cho nên bộ óc đó phải có cấu h́nh là biểu hiện trên cơi trần (cho dù bất toàn xiết bao) của những thói quen và phẩm chất trí tuệ của con người nhập thế lúc ấy, xác phàm phải thích ứng để vận dụng được những năng lực mà giờ đây y có đủ kinh nghiệm để biểu hiện trên cơi trần.

Ta hăy xét một ví dụ là trường hợp thực hành một loại h́nh tư tưởng thuộc tính xấu hoặc đức tính, chẳng hạn như một tính t́nh ích kỷ hoặc một tính t́nh vị tha. Một người không ngừng sinh ra những h́nh tư tưởng ích kỷ, chỉ ham muốn cho bản thân, ước vọng cho bản thân, mưu đồ cho bản thân; nhưng h́nh tư tưởng này vây xung quanh y phản tác động lên y và y có khuynh hướng tán tận lương tâm v́ chỉ biết phục vụ cho chính ḿnh bất chấp quyền lợi của người khác chỉ bo bo với những mục đích của riêng ḿnh. Y chết đi th́ tính t́nh y kết tinh lại thành ra loại h́nh ích kỷ, nó cứ trường tồn măi và đến đúng lúc th́ lại sinh ra thể phách mới dùng làm cái khuôn cho thể xác kế tiếp. Khi bị thu hút về một gia đ́nh thuộc loại tương tự mà thể xác của cha mẹ có thể cung cấp vật liệu mang hơi hám của những đặc trưng giống như thế th́ xác phàm mới của y sẽ được kiến tạo vào cái khuôn dĩ thái, bộ óc được thành h́nh trên cơi trần thích hợp để biểu lộ những khuynh hướng thú tính chỉ biết thỏa măn cho riêng ḿnh tương ứng với việc thiếu cơ sở vật thể nhằm biểu lộ được những đức tính đối với xă hội. Trong trường hợp cực đoan, ích kỷ, dai dẳng và tán tận lương tâm chỉ nội trong một kiếp, ta có nguyên nhân tạo dựng nên “loại h́nh bộ óc tội phạm” cho kiếp kế tiếp và đứa trẻ chào đời với cái khí cụ có phẩm chất tồi tàn này mà Chủ thể Suy tư bất tử hầu như không thể rút ra được một nốt nhạc du dương thanh khiết và êm ái nào cho dù y có cố gắng đến đâu đi nữa. Trọn cả cuộc đời mà Tia Manas nhập thế qua phàm ngă này ắt bị mờ tối đi, đứt quăng, vẫy vùng qua đám mây trung giới. Đôi khi mặc dù hoàn cảnh bất lợi, phẩm chất chói lọi rực rỡ vẫn chiếu sáng và biến đổi thể xác đến một chừng mực nào đó và khi quằn quại phấn đấu, thỉnh thoảng th́ bản chất thấp hèn cũng bị chế ngự và cho dù chậm chạp th́ y vẫn tiến bộ được một hai bước đau thương. Nhưng suốt đời y th́ quá khứ vẫn đè nặng trĩu lên hiện tại và cái chén đă đầy tràn trong những ngày xa xăm quên lăng phải được đôi môi rung rẩy của y uống cạn cho đến giọt cuối cùng.

Trong trường hợp giả định thứ nh́ một người không ngừng sinh ra những h́nh tư tưởng vị tha, muốn giúp đỡ người khác, có những kế hoạch đầy yêu thương v́ phúc lợi của người khác, tha thiết mong ước cho người khác được hạnh phúc. Những h́nh tư tưởng này cũng tụ tập xung quanh y, phản tác động lên y và y có khuynh hướng thường xuyên vị tha, có thói quen đặt phúc lợi của người khác lên trên ích lợi của chính ḿnh; thế là khi y từ trần tính t́nh y đă trở nên vị tha một cách thâm căn cố đế. Khi trở lại cơi trần, h́nh tư tưởng mẫu vốn tiêu biểu cho những đặc trưng trước kia của y cũng bị thu hút vào một gia đ́nh thích hợp để cung cấp vật liệu thuộc loại thanh khiết, quen đáp ứng với những thôi thúc của Chơn nhơn. Những vật liệu này được kiến tạo vào cái khuôn dĩ thái sẽ sinh ra một bộ óc phàm thích hợp để biểu lộ những khuynh hướng xả thân do đó thiếu cơ sở vật thể để biểu lộ những bản năng đầy thú tính. Như vậy ở đây, trong trường hợp cực đoan là thói quen xả thân qua một kiếp thôi, ta có nguyên nhân để xây dựng nên loại h́nh bộ óc đầy hảo ư và nhân ái cho kiếp tới; đứa trẻ chào đời với cái khí cụ có phẩm chất rực rỡ này sẽ xao xuyến với sự tiếp xúc nhẹ nhất của Chủ thể Suy tư bất tử, tỏa ra những điệu nhạc du dương thiêng liêng yêu thương và phụng sự cho tới khi thế gian ngỡ ngàng trước sự vinh diệu của một đời người vốn là kết quả dường như chỉ do bản chất trào dâng vô điều kiện hơn là đỉnh cao của một sự phấn đấu cố t́nh thực hiện. Nhưng cái bản chất vương giả ấy trào dâng ra thành sự ban phúc chỉ là biểu tượng bên ngoài của những cuộc xung đột dai dẳng đă được giao chiến một cách dũng cảm trong quá khứ xa xăm mà hiện tại không hề biết tới nhưng kẻ Chinh phục trong nội giới th́ có biết, và một ngày nào đó th́ y cũng cho phàm ngă mà ḿnh đang làm linh hoạt cũng biết được.

Như vậy sự tiến hóa của con người diễn ra từng bước một, tính t́nh được uốn nắn qua hết phàm ngă này đến phàm ngă khác, những việc được và mất vốn ghi lại nghiêm xác nơi những h́nh tướng trung giới và thượng giới, những h́nh tướng này sẽ chi phối những sự biểu lộ tiếp theo trên cơi trần. Như vậy, mọi đức tính đều là dấu hiệu và biểu tượng bên ngoài của một bước tiến đă được thực hiện bằng cách chiến thắng đi chiến thắng lại đối với bản chất thấp hèn và cái “phẩm chất bẩm sinh” tức là đặc trưng trí tuệ hoặc đạo đức của một đứa trẻ sơ sinh chính là bằng chứng không chối căi được về sự phấn đấu trong quá khứ với những chiến thắng cũng như thất bại trong quá khứ. Đây là một giáo lư ắt làm cho kẻ biếng nhác về trí tuệ và hèn nhát về đạo đức phải bị dội ngược nhưng lại là một giáo huấn khích lệ và đầy phấn khởi đối với những kẻ nào không muốn ḿnh được trợ cấp qua bất kỳ ḷng từ thiện nào dù của con người hay của đấng thiêng liêng mà chỉ bằng ḷng với tất cả những ǵ ḿnh có được qua sự lao động vất vả và kiên nhẫn.

Edward Carpenter trong tác phẩm Hướng về Dân chủ, đă tŕnh bày sự thật này một cách rất cao cả qua bài thơ “Bí mật của Thời gian và quỉ Sa tăng”.

Cũng như mọi thuật khác, thuật sáng tạo phải được học hỏi.

Bạn kiến tạo cơ thể ḿnh chầm chậm qua nhiều năm tháng

Và quyền năng mà giờ đây bạn đang kiến tạo vào cơ thể này th́ bạn đă thu hoạch được trong quá khứ nơi những cơ thể khác.

Như vậy trong tương lai bạn sẽ lại sử dụng quyền năng mà giờ đây bạn đang thu hoạch.

Nhưng quyền năng kiến tạo cơ thể bao gồm mọi quyền năng.

Hăy cảnh giác xem cách thức mà bạn mưu t́m điều này hoặc điều khác cho riêng ḿnh.

Tôi không nói là đừng mưu t́m mà hăy cảnh giác về cách thức mà bạn mưu t́m.

Đó là v́ người chiến sĩ khi bước vào chiến dịch đâu có mưu t́m cái đồ trang bị nào mới mẻ mà ḿnh mang được trên lưng, song t́m xem ḿnh có thể bỏ lại cái ǵ đằng sau.

V́ y thừa biết rằng mọi thứ thêm vào mà y không thể thoải mái sử dụng và vận dụng th́ chỉ gây chướng ngại cho ḿnh.

Như vậy, nếu bạn mưu t́m danh vọng, thoải mái, vui sướng hoặc bất cứ thứ ǵ cho bản thân th́ h́nh ảnh của sự vật mà bạn mưu t́m sẽ trở lại đeo bám theo bạn và bạn sẽ phải c̣ng lưng cơng nó đi.

Những h́nh ảnh và quyền năng mà bạn đă khơi dậy như thế sẽ được tụ tập lại để tạo ra cho bạn một cơ thể mới yêu sách được cấp dưỡng và thỏa măn.

Và nếu ngay bây giờ bạn không thể vứt bỏ được cái h́nh ảnh ấy đi th́ đến lúc đó bạn sẽ không thể vứt bỏ được cái cơ thể ấy đi mà cứ phải c̣ng lưng cơng nó theo.

Vậy th́ bạn hăy liệu hồn kẻo nó sẽ trở thành nhà tù và nấm mồ của ḿnh thay v́ là chỗ ở chấp cánh cho bạn bay lên và là dinh thự đầy hoan lạc.

Và bạn sẽ chỉ chia tay với nó vào lúc Chết nếu bạn chưa bao giờ chế ngự được nó?

Đó là v́ khi nô lệ cho những sự vật của giác quan, bạn đă khoác lấy một cơ thể mà ḿnh không làm chủ được, bạn bị kết án chui vào nấm nhà mồ sống động nếu cái cơ thể đó chưa bị tiêu diệt. Nhưng giờ đây do đau đớn và khốn khổ bạn có thể thoát ra được cái nhà mồ ấy và nhờ có kinh nghiệm đă thu hoạch được, bạn sẽ xây dựng cho minh một cơ thể mới tốt đẹp hơn.

Cứ như thế biết bao nhiêu lần măi cho tới khi bạn dang rộng cánh để có được mọi quyền năng ma quỉ và thiên thần tập trung trong xác thịt của ḿnh.

Và những cơ thể mà bạn khoác lấy sẽ qui phục bạn nếu những dây đai lửa có bao xung quanh bạn th́ bạn cũng vứt nó sang một bên.

V́ những đau khổ mà bạn chịu đựng trong cơ thể này sẽ biến thành những quyền năng mà bạn vận dụng được trong cơ thể kế tiếp.

Đây là những sự thật vĩ đại được tuyên cáo một cách long trọng.

Và một ngày nào đó thiên hạ ở phương Tây ắt sẽ tin vào chúng cũng như thiên hạ ở phương Đông đă và măi măi tin vào chúng.

Trải qua hàng ngàn thế hệ Chủ thể Suy tư bất tử đă kiên nhẫn lao động vất vả như thế với sứ mệnh dẫn dắt người thú tiến lên cho tới khi nó thích hợp để hiệp nhất với phần Thiêng liêng. Từ một kiếp sống, biết đâu y chỉ dành được một mẩu nhỏ trong công tŕnh của ḿnh, thế nhưng cái mô h́nh cuối cùng cũng thuộc một loại ít thú tính hơn mức khi y giáng trần để thể hiện công tŕnh nhập thế đó qua xác phàm. Dựa vào cái mô h́nh được cải tiến chút ít đó, con người kiếp tới lại được uốn nắn để lúc y chết đi lại có được một cái khuôn ít thú tính hơn một chút phục vụ cho thể xác kiếp tới nữa; cứ như thế trở đi trở lại, chết đời này sang đời khác, hết thiên niên kỷ này sang thiên niên kỷ khác; với nhiều lần thoái hóa trở đi trở lại; nhiều lần thất bại được dũng cảm chuyển bại thành thắng, nhiều vết thương c̣n chưa lành, thế nhưng xét chung th́ vẫn tiến lên trên, xét chung th́ vẫn tiến tới trước; phần thú tính bớt đi, phần nhân tính tăng lên: đó là câu chuyện tiến hóa của con người, đó là nhiệm vụ được hoàn thành chầm chậm của Chơn ngă khi nó tự nâng ḿnh lên tới mức con người thiêng liêng. Ở một giai đoạn nào đó trong quá tŕnh tiến bộ này, phàm ngă bắt đầu trở nên trong sáng đáp ứng được với những rung động của Chủ thể Suy tư, và lờ mờ cảm thấy được rằng ḿnh là một điều ǵ đó c̣n hơn cả một sinh linh cô lập và liên kết với một điều gi đó thường trụ bất tử. Phàm ngă có thể chưa hoàn toàn nhận ra được mục tiêu của ḿnh nhưng bắt đầu xao xuyến và rộn ràng khi tiếp xúc với Ánh sáng giống như nụ hoa rung rẩy vào lúc xuân sang trong những bọc hoa để chuẩn bị nở rộ bung ra trong ánh quang huy. Ư thức về tính vĩnh hằng bẩm sinh này và sự ngỡ ngàng về cứu cánh ấy đă được diễn tả tuyệt vời qua một trong những bài thơ của Walt Whitman:

Khi quay mặt về phương Tây xuất phát từ bờ biển California.

T́m hiểu không mệt mỏi để mưu cầu điều ǵ c̣n chưa được t́m ra,

Th́ tôi tuy là một đứa trẻ mà đă là một ông cụ đứng trước sóng biển bâng khuâng hướng về nhà mẹ, nh́n xa xa thấy vùng đất định cư.

Khi cất mắt nh́n ra khỏi bờ biển ở biển miền Tây của tôi th́ ṿng tṛn hầu như được nối ra.

V́ nơi xuất phát là miền Tây, từ Hindustan, từ thung lũng Kashmere,

Từ Á châu, từ phương Bắc, từ Thượng Đế th́ sân khấu đă trở thành vị anh hùng.

Từ phương Nam, từ bán đảo đầy hoa và quẩn đảo đầy gia vị,

Tôi đă đi lang thang miết v́ tôi đă đi ṿng quanh trái đất.

Giờ đây tôi lại giáp mặt với quê hương, rất hài ḷng và hoan hỉ.

(Nhưng cái nơi mà tôi xuất phát từ lâu rồi ở đâu đấy nhỉ? Và tại sao tôi vẫn chưa t́m ra được nó?)

  

đầu trang  phần 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 cuối trang mục lục

MỤC TIÊU CỦA LUÂN HỒI

 

Ta đă thấy rằng nói chung th́ mục đích của luân hồi là rèn luyện người thú cho tới khi nó trở thành công cụ toàn bích của phần Thiêng liêng, và tác nhân trong việc rèn luyện này chính là Chơn ngă luân hồi. Ta hăy truy nguyên một cách ngắn gọn con đường đạt tới mục đích này.

Khi Con của Trí tuệ (Manasaputra) giáng lâm để cấp phần hồn cho người thú th́  chỗ ở bằng vật chất của họ chưa đạt tới mức thô trược tối đa. Khi tác động thông qua đó, Chủ thể Suy tư trước hết tạo ra cái gọi là phẩm chất thông linh tương phản với phẩm chất trí thức; phần tâm linh khi bước đầu tiếp xúc với vật chất cơi trung giới được phiên dịch thành ra phần thông linh rồi dần dần mới trở thành phần trí thức, nghĩa là biết lư luận, có lư trí, biết cân nhắc cố ư do tiếp xúc lâu dài với vật chất thuộc loại thô trược hơn. Thoạt đầu có tính cách trực giác, thần nhăn, giao tiếp với đồng loại bằng chuyển di tư tưởng; khi nó phải làm việc với những vật liệu thô trược hơn và gây cho các hạt nặng hơn những rung động nào đó th́ trực giác bị biến thành lư luận, và sự chuyển di tư tưởng biến thành ngôn ngữ. Ta hiểu được điều này rơ nhất bằng cách quan niệm ra những rung động được lập nên trong vật chất càng ngày càng thô trược, những rung động ít thô trược hơn được phiên dịch thành các tính chất thông linh, c̣n những rung động thô trược hơn được phiên dịch thành những phẩm tính thuần lư. Phần thông linh là những năng lực nhanh hơn, tinh vi hơn, trực tiếp hơn, bao gồm thần nhăn, thần nhĩ, dạng trực giác thấp, khả năng truyền đạt và tiếp nhận các ấn tượng tư tưởng mà không có lời nói; phần thuần lư chậm hơn và bao gồm mọi quá tŕnh trí năo với đặc trưng là lư luận có cân nhắc, rèn giũa ra một chuỗi xích lư luận, dùng búa rèn nó lại từng mắt xích một và công tŕnh lao động trí tuệ này cần có điều kiện là ngôn ngữ cầu kỳ. Khi quá tŕnh này đă hoàn hảo th́ bộ óc đạt tới mức trí thức cao nhất, nhanh chóng đáp ứng với những xung lực dục vọng khi chúng đạt tới bộ óc và tức khắc phiên dịch chúng thành ra những điều tương tự về trí thức; bấy giờ đă đến lúc có được bước tiến mới lớn lao kế tiếp là rèn luyện bộ óc để nó trực tiếp đáp ứng với những rung động tinh vi hơn, và chuyển chúng vào ư thức của bộ óc không cần có quá tŕnh tŕ hoăn là phiên dịch. Bấy giờ việc vận dụng thần thông trở thành một phần trong trang cụ hữu thức của con người đă phát triển, và người ta dùng nó một cách b́nh thường, không nỗ lực hoặc căng thẳng, thế là trí năo và thông linh được hiệp nhất với nhau, ta có được trở lại mọi thần thông “cộng thêm với kinh nghiệm trí thức”. Sự mờ tối đi tạm thời do tích tụ vật chất thô trược nhất xung quanh con người đang phát triển, dần dần giảm bớt đi khi vật chất trở nên mềm dẻo và trong sáng, thế là vật chất thô trược được “cứu chuộc”, nghĩa là được rèn luyện thành một hiện thể toàn bích để biểu lộ Tinh thần. “Nền văn minh đă từng phát triển phần thể chất và phần trí thức gây thiệt hại cho phần thông linh và phần tâm linh”[16], nhưng nếu không có sự phát triển này th́ người thú không thể trở nên thiêng liêng, tức là “thực thể thất bội toàn bích” vốn là mục đích tiến hóa của sự luân hồi.

Nơi loài người, ta đang ở trên ṿng cung đi lên, trí thức đơn thuần đang đạt tới những khả năng cao nhất và xét về mọi mặt cũng thấy xuất hiện các dấu hiệu của hoạt động thông linh khi được phát triển vượt khỏi mức trí thức chứ không tụt hậu so với mức trí thức th́ các hoạt động thông linh là dấu hiệu của việc Chơn nhơn bắt đầu chiến thắng. Nơi một số người trong nhân loại chúng ta, sự chiến thắng này đă đạt đỉnh cao rồi và ta gọi các bậc đó là chư La Hán, Mahatmas và Chơn sư; đối với các Ngài thể xác chỉ c̣n là hiện thể của Chơn nhơn, Chơn nhơn không c̣n bị giam cầm hoặc hạn chế trong cơ thể mà ḿnh ngự nơi đó, nhưng đối với Chơn nhơn th́ cơ thể là công cụ thuận lợi để làm việc trên cơi trần, nó ngoan ngoăn hưởng ứng mọi xung lực của chủ nhân ông và đặt vào tầm sử dụng của Chơn nhơn những quyền năng và năng lực nơi thế giới vật chất thô trược mà bằng không một Thực thể tâm linh chẳng thể đạt được. Một Tinh thần có thể hoạt động trên cơi tâm linh nhưng nó lại vô tri vô giác trên mọi cơi khác, không thể hoạt động được do nó có bản chất tinh vi ở trên các cơi vật chất thô trược. Một đấng Thông tuệ tâm linh có thể hoạt động trên các cơi tâm linh và trí tuệ nhưng vẫn c̣n quá tinh vi nên không thể hoạt động trên cơi thô trược. Chỉ có “thực thể thất bội toàn bích”, nhờ vào việc nhập thế th́ nó mới chinh phục được hết vật chất này tới vật chất khác mới có thể hoạt động được trên mọi cơi. Đây là ư nghĩa của quả vị La Hán; La Hán là một đấng Thông tuệ tâm linh đă chinh phục, chế ngự và rèn luyện được vật chất cho tới khi cơ thể của ngài chẳng qua chỉ là biểu hiện vật thể của chính ngài, và ngài sẵn sàng cho bước kế tiếp để biến ngài thành ra một “Chơn sư”, tức là đấng Ki Tô khải hoàn.

Tự nhiên là nơi một thực thể thất bội toàn bích như thế có tụ tập đủ mọi thần lực của vũ trụ: tâm linh, thông linh và vật chất. Cũng như cơ thể sống động của con người ở qui mô nhỏ có các lực mà ta thấy trong vũ trụ vật lư, cũng thế khi bản chất tâm linh và thông linh hiển lộ các xung lực của ḿnh th́ các thần lực của vũ trụ thông linh và tâm linh có thể tác động lên vũ trụ vật lư. V́ thế cho nên xét theo biểu kiến mới có thể tạo ra được những hậu quả hầu như là “phép lạ” mà nguyên nhân của nó lại ẩn tàng nhưng không phải v́ thế mà chẳng có nguyên nhân; cũng như việc đóng một mạch điện có thể tạo ra một vụ nổ ở cách xa nơi đóng điện nhiều dặm, cũng vậy tác động của ư chí lăo luyện có thể hiển lộ thành các hiện tượng vật chất trên một cơi ở dưới xa mức của nó. Sự vô minh của con người khiến y cho đó là siêu tự nhiên; c̣n sự hiểu biết rút gọn mọi chuyện ấy thành ra chuyện tự nhiên. Đó là v́ Thiên nhiên chẳng qua chỉ là một khía cạnh của TỔNG THỂ, các khía cạnh đang biểu lộ vào lúc đó.

Ở đây ta có thể thắc mắc rằng: và nếu ta đạt được mục đích này th́ cứu cánh đó phục vụ cho cái ǵ? Ở mức này có nhiều Con đường trải ra trước mắt Chơn nhơn khải hoàn. Ngài đă chạm tới đỉnh cao thành tựu mà ta có thể đạt được trên thế giới này; muốn tiến bộ thêm nữa ngài phải chuyển sang các bầu tồn tại khác; Niết Bàn mở rộng ra trước mắt ngài với đầy tràn tri thức tâm linh, cái Linh ảnh Thánh thiện mà Ki Tô hữu có nghe nói thoáng qua, sự an b́nh mà ta không tài nào hiểu nổi. Một Con đường duy nhất, Con đường xả bỏ, tự nguyện chấp nhận sống trên trần thế v́ mục đích phụng sự cho loài người, đó là Con đường mà Đức Quan Âm đă nói tới khi ngài dứt khoát bước chân trên đó: “Chẳng bao giờ tôi mưu t́m, tiếp nhận sự giải thoát cá nhân riêng tư, tôi chẳng bao giờ nhập vào sự an b́nh tối hậu một ḿnh mà măi măi ở khắp mọi nơi, tôi sẽ sống và phấn đấu để cứu chuộc đại đồng vũ trụ mọi sinh linh trên khắp thế gian[17].

Bản chất và chủ đích của sự lựa chọn này cũng được nói tới trong quyển Kim Huấn Thư mà H. P. Blavatsky có trích dịch nhiều đoạn ra tiếng Anh rất hay. Kẻ chinh phục ca khúc khải hoàn; “tâm trí của y giống như một đại dương b́nh thản và vô biên, trải rộng ra trong không gian vô bờ bến. Y nắm chặt trong tay sự sống và sự chết”. Thế rồi lại nổi lên một thắc mắc:

Bây giờ chắc chắn là y đă đạt được phần thưởng lớn rồi! Hỡi kẻ đă chinh phục được đại Hăo huyền, liệu y có dùng những năng khiếu mà nó ban cấp cho ḿnh để được an dưỡng và cực lạc cho riêng ḿnh với những phúc lợi và vinh diệu mà ḿnh đă đạt được?

Nhưng câu trả lời vang rơ lên:

Hỡi kẻ ứng viên mưu cầu kho tri thức ẩn tàng của Thiên nhiên! Nếu người ta muốn theo gót đấng Như Lai thánh thiện th́ những năng khiếu và quyền năng đó không dành cho bản thân . . . Nên biết rằng luồng tri thức siêu nhân loại và Minh triết của Thiên thần mà ngươi đă đạt được phải từ kênh dẫn A lại da của chính ngươi  tuôn đổ vào một ḷng kênh dẫn khác. Hỡi Narjol, nên biết rằng ngươi là Con đường Bí mật, và nước trong lành của nó phải được dùng làm cho sóng Biển đắng nghét trở nên ngọt ngào hơn v́ đó là biển động của ḷng phiền năo do nước mắt của con người tạo ra. Số phận của ngươi là sống qua các kiếp tương lai mà không được con người biết ơn và nhận thức. Ngươi bị lèn chặt thành ra một tảng đá cùng với vô vàn tảng đá khác tạo thành “Bức tường Che chắn”, đó là tương lai của ngươi nếu ngươi băng qua cánh cổng số bảy. Được xây dựng do bàn tay của nhiều bậc Chơn sư Từ bi, được dựng nên do sự cực h́nh của các ngài, do máu của các ngài đông đặc lại, bức tường đó che chở cho loài người v́ con người chính là người đă bảo vệ nó khỏi bị khốn khổ và phiền năo thêm nữa . . . Ḷng từ bi ắt nói rằng: “Liệu có thể nào có được cực lạc khi mọi chúng sinh c̣n đau khổ? Liệu ngươi có thể được cứu chuộc khi tai vẫn nghe trọn cả thế giới khóc than? Bây giờ ngươi dă nghe thấy điều được nói ra rồi. Ngươi sẽ đạt tới bước thứ bảy băng qua cánh cổng tri thức tối hậu nhưng chỉ chuốc lấy phiền năo nếu ngươi không theo gót bậc Như Lai đă bước đi như một bậc tiền bối của ngươi, vẫn c̣n vị tha cho tới cứu cánh vô tận. Ngươi đă giác ngộ rồi vậy, hăy lựa chọn con đường của ḿnh[18].

Sự chọn lựa chấp nhận nhập thế cho tới khi loài Người đă đạt tới đỉnh cao của ḿnh chính là thành tựu của bậc Chơn sư, của Con người toàn bích. Minh triết của ngài, quyền năng của ngài đều được đặt dưới chân Nhân loại để phục vụ nó, giúp đỡ nó, dẫn dắt nó trên con đường mà chính Ngài đă bước đi. Vậy th́ đây là cứu cánh vượt ngoài tầm luân hồi đối với các linh hồn dũng mănh có thể thực hiện SỰ XẢ BỎ VĨ ĐẠI! Các ngài trở thành các đấng cứu thế, là phần triển vọng và vinh quang của loài người. Sự luân hồi đă xây dựng nên thực thể thất bội toàn bích và sự chiến thắng cá thể của ngài lại phụ giúp cho sự cứu chuộc Nhân loại xét chung.

 

đầu trang  phần 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 cuối trang mục lục

NGUYÊN NHÂN CỦA LUÂN HỒI

 

Nguyên nhân căn bản của Luân Hồi cũng như của mọi sự biểu lộ đó là ham muốn cuộc sống hoạt động, khao khát kiếp tồn tại hữu t́nh. Một số bản chất căn bản của thiên nhiên rơ rệt là đang hoạt động nhưng không thể hiểu được về nguồn gốc và lư do của nó vốn biểu lộ thành ra “luật tuần hoàn”. Một sự luân phiên chẳng hạn như Ngày và Đêm, Sống và Chết, Ngủ và Thức, là một sự kiện thông thường có tính cách đại đồng vũ trụ hoàn toàn, và không có ngoại lệ nào cho nên thật là dễ hiểu khi ta thấy đó là một trong những định luật tuần hoàn căn bản của vũ trụ[19]. Sự tiêu trưởng ở khắp mọi nơi, nhịp điệu vốn là kỳ tâm thu và tâm trương của Trái tim vũ trụ biểu hiện về mọi phương diện. Nhưng ta không hiểu được lư do của nó, ta không biết tại sao chúng lại như thế, ta chỉ có thể thấy rằng chúng vốn như thế. Và trong Triết lư Bí truyền, ta nhận ra cũng định luật này mở rộng thành sự phân thân và tái hấp thu của các vũ trụ, là Ngày và Đêm của Brahma, là kỳ thở ra và hít vào của đại Thần khí.

V́ thế cho nên người Ấn Độ đă h́nh dung thần Dục vọng là xung lực biểu lộ. Lại nữa, trong Rig Phệ đà (x, 129), kama là nhân cách hóa của cái xúc cảm vốn dẫn dắt và thôi thúc sự sáng tạo. Đó là sự vận động mau chóng kích động Đấng Nhất Như hăy sáng tạo ra sau khi nó được biểu lộ từ Nguyên khí hoàn toàn trừu tượng. “Trước hết Dục vọng xuất hiện trong đó vốn là mầm mống bản sơ của tâm trí; các nhà hiền triết khi dùng trí năng của ḿnh để t́m kiếm đă phát hiện ra được dục vọng là sự ràng buộc nối liền Thực thể với Phi Thực thể”[20]. Xét theo bản thể th́ Kama là ḷng mong muốn có được sự tồn tại hữu t́nh hoạt động, tồn tại với cảm giác mạnh, lăn lóc quậy lên của một sinh hoạt đầy đam mê. Khi trí tuệ tâm linh bước vào tiếp xúc với sự khao khát cảm giác này th́ tác động đầu tiên là làm tăng cường sự khao khát đó lên. Câu kinh trong Thiền Thư có nói: “Do bản chất của ḿnh, chúng lấp đầy (tăng cường) kama[21]. Như vậy kama đối với cá thể cũng như đối với Càn khôn trở thành nguyên nhân bản sơ của sự luân hồi và khi Dục vọng (lớn) biến dị thành ra nhiều dục vọng (nhỏ) th́ những thứ này xiềng xích Chủ thể Suy tư vào trần thế khiến cho chủ thể ấy cứ măi măi luân hồi. Kinh điển Ấn Độ giáo và Phật giáo có đầy những lời nhắc đi nhắc lại sự thật này. Ta đọc thấy trong Chí Tôn Ca đoạn sau đây:

Kẻ nào mà Buddhi không bị ràng buộc ở khắp nơi, đă chế ngự được bản ngă, đă chết đi các dục vọng th́ do xả bỏ kẻ đó đă đạt được sự hoàn hảo tối cao v́ đă thoát ṿng Nghiệp quả[22].

Cũng vậy trong Udanavarga, tức là một phiên bản thuộc Phật giáo Bắc tông của Pháp Cú kinh được dịch từ tiếng Tây Tạng ta cũng thấy trổi lên thông điệp đó:

Kẻ nào bị dục vọng xiềng xích th́ khó ḷng mà thoát khỏi chúng, Đức Thế Tôn đă từng dạy như thế. Kẻ kiên định không màng hạnh phúc của dục vọng, nhất quyết dẹp bỏ dục vọng th́ chẳng bao lâu sẽ đến được Niết Bàn[23].

Lại nữa khi mưu t́m sự tồn tại họ cứ trở đi trở lại nhập vào tử cung; các sinh linh cứ đến rồi lại đi, hết trạng thái tồn tại này nối tiếp trạng thái tồn tại khác. Thật khó ḷng dẹp bỏ sự tồn tại nơi thế giới này; kẻ nào dẹp bỏ ḷng tham dục th́ kẻ đó đă nhổ bật gốc rễ của sự tồn tại, kẻ đó không c̣n phải bị chuyển kiếp v́ y không c̣n tham dục nữa[24].

Trong kinh điển của Giáo hội Phật giáo Nam tông th́ ngưới ta cũng nhấn mạnh liên tục cũng ư tưởng ấy. Người ta cấm đệ tử tin tưởng chừng nào y “c̣n chưa diệt dục được” và sau khi mô tả cách thức dục vọng và đam mê trói buộc con người vào cuộc sống trần tục, kinh Pháp Cú nói tiếp:

Kẻ nào đă đạt tới thành tựu th́ không c̣n run sợ nữa, kẻ đó không c̣n khao khát và tội lỗi nữa, kẻ đó đă nhổ bỏ mọi chông gai của cuộc đời: đây sẽ là thể xác cuối cùng của y. Kẻ nào không c̣n khao khát và luyến ái nữa, kẻ đó sẽ hiểu được mọi lời lẽ và cách thuyết giải chúng, kẻ đó sẽ biết được thứ tự của các chữ cái (chữ nào đứng trước chữ nào đứng sau), kẻ đó sẽ nhận thể xác cuối cùng của ḿnh và sẽ được gọi là bậc hiền triết, vĩ nhân. “Ta đă chinh phục được tất cả, ta đă biết hết tất cả; trong bất cứ t́nh huống nào của cuộc sống ta đều không bị ô nhiễm, ta đă bỏ lại tất cả và nhờ diệt được dục ta đă giải thoát”.

Đó là lời hiệu triệu khải hoàn khi Đức Phật Thích Ca đắc Phật quả[25]:

Khi mưu t́m kẻ làm ra đền thờ tạm này, ta sẽ phải đi qua một lộ tŕnh nhiều kiếp sống chừng nào ta c̣n chưa t́m ra người ấy; và cứ phải tái sinh măi th́ thật là đau khổ. Nhưng giờ đây ta đă thấy người làm ra đền thờ tạm rồi th́ ta không c̣n phải làm đền thờ tạm lại nữa. Mọi cái đ̣n tay nhà đều bị gỡ ra, cái đà trên nóc nhà bị tách đi, tâm trí khi đến gần Đấng Vĩnh Hằng th́ đă đạt được sự tuyệt diệt mọi dục vọng[26].

Khi học viên nhận ra được bản chất của dục vọng th́ y ắt hiểu được tại sao cần phải diệt dục để làm hoàn thiện Chơn nhơn. Cho đến khi đă gặt hái được hết vụ gặt kinh nghiệm th́ cần phải có dục vọng v́ kinh nghiệm gặt hái đó cần được nuôi dưỡng bằng dục vọng, và sự tăng trưởng mới có thể được nuôi dưỡng và bảo dưỡng. Do đó trong khi vẫn c̣n thiếu kinh nghiệm th́ ḷng khao khát dục vọng vẫn khôn nguôi và Chơn ngă sẽ trở lại trần thế hoài hoài. Nhưng xiềng xích của nó phải rơi rụng đi từng cái một khi Chơn ngă đă đạt tới mức hoàn thiện được đền thờ tạm của ḿnh v́ dục vọng có tính cách phàm nhân và do đó ích kỷ, cho nên khi dục vọng c̣n thôi thúc hành động th́ sự thanh trong của hành động c̣n bị ô nhiễm. Quả vị La Hán là hoạt động không ngừng, không v́ bất kỳ lợi ích cá nhân nào, bậc La Hán phải “soi sáng cho mọi người nhưng không tiếp nhận ánh sáng từ ai hết”[27]. V́ thế cho nên trên bước đường leo lên, hết dục vọng này đến dục vọng kia phải được buông bỏ, ḷng ham muốn hưởng thụ của phàm ngă, muốn vui sướng cho phàm ngă, muốn thủ lợi cho phàm ngă, muốn yêu thương theo kiểu phàm ngă, muốn thành đạt cho phàm ngă, cuối cùng và tinh vi hơn hết là ḷng ham muốn cho phàm ngă được hoàn hảo, tất cả những ǵ thuộc phàm ngă phải bị mất đi trong cái TỰ NGĂ NHẤT NHƯ, đó là TỰ NGĂ của chúng sinh. Và ở đây cần có hai điều cảnh giác kẻo hiểu lầm. Một là ta không được giết đi t́nh yêu thương cá nhân mà phải mở rộng nó ra cho đến khi trở thành t́nh yêu thương đại đồng vũ trụ; ta không được yêu thương người thân thương nhất ít hơn mà tất cả phải trở thành kẻ thân thương của ta sao cho nỗi phiền muộn của bất cứ đứa con nào của người khác cũng giày ṿ tâm hồn ta giống như nỗi phiền muộn của đứa con trẻ thuộc chính ta và cũng khơi dậy nơi ta hoạt động trợ giúp bằng nhau. T́nh yêu thương phải được nâng lên cho bằng nhau chứ không được cào bằng xuống. Tâm hồn ta phải không được băng giá mà phải hừng hực v́ tất cả. Việc không nhận ra được điều này cũng như sự khó khăn ghê gớm của nhiệm vụ ấy khi ta thấu hiểu được nó, đă dẫn tới việc bóp nghẹt t́nh thương thay v́ làm cho nó tăng trưởng. Việc yêu thương trào dâng chứ không phải thiếu yêu thương mới cứu chuộc được thế gian. Bậc Mahatma là Đại dương Từ bi chứ không phải là một khối băng hà.

Ta cũng dễ hiểu được tại sao việc mở rộng này phải có trước việc thành tựu quả vị Chơn sư, v́ Chơn sư có được quyền năng để phục vụ cho ích lợi của mọi người chứ không phải để nâng cao bất kỳ gia đ́nh hoặc quốc gia đặc biệt nào. Ngài là Đấng Phụng sự Nhân loại, và ngài trợ giúp theo kiểu nơi đâu cần th́ ngài đáp ứng chứ không phải theo kiểu thân thuộc. Ngoài quyền năng siêu nhân loại ngài c̣n phải có ḷng vô tư siêu nhân loại và sự yêu thương cá nhân không bao giờ được phép làm lệch cán cân Công lư. Vượt trên mọi người khác, ngài phải phục tùng chánh pháp v́ bất cứ sự lệch lạc ra khỏi đường lối của nó ắt cũng mang lại những hậu quả tỉ lệ với sự lớn lao mà ngài đă đạt được tới đỉnh cao đó.

Ngài phải là một thần lực phục vụ cho điều thiện, và điều thiện phải được tuôn đổ vào những kênh dẫn cần nó nhất chứ không phải những kênh dẫn được đào ra do ḷng yêu thương cá nhân hoặc sự ưu ái chủng tộc. V́ thế cho nên điều kiện làm đệ tử là phải được rèn luyện lâu dài, phải chịu khổ hạnh cá nhân và phải chịu cô độc.

Hai là: hành động không được dừng lại v́ đệ tử không c̣n mưu t́m thành quả của hành động dưới dạng phần thưởng. “Không hành động qua một hành vi từ bi ắt là hành động với một tội lỗi chết người”[28]. “Liệu bạn có thể kiêng không hành động hay chăng? Không phải như thế mà linh hồn bạn được giải thoát đâu. Muốn đạt Niết Bàn th́ người ta phải đạt được sự Tự tri và Tự tri là những hành vi yêu thương của đứa trẻ thơ”[29]. Nhưng trong khi ta phải tiến hành việc hành động với trọn cả những cố gắng thuộc khả năng của con người th́ ta không nên có ḷng ham muốn thành quả của hành động dưới dạng thỏa măn cho phàm ngă. Một nghĩa cử phải được thực hiện v́ nó có ích, có lợi cho người khác chứ không phải v́ được người khác khen thưởng hoặc chính ḿnh tự tán thán, thậm chí cũng không v́ ḷng ao ước tinh vi hơn là tự cải thiện ḿnh. Ở đây cũng chính v́ không nhận ra được sự phân biệt giữa hành động và ḷng ham muốn kết quả của hành động đă gây ra sự ngưng trệ và thụ động vốn đặc trưng cho các quốc gia Đông phương v́ ḷng ích kỷ tâm linh và sự lănh đạm tâm linh đều gây ra sự suy tàn.

Cũng như ḷng khao khát sự tồn tại hữu t́nh nói chung là nguyên nhân của sự luân hồi trong vũ trụ, cũng vậy nguyên nhân quyết định mọi sự luân hồi cá thể đều là ḷng khao khát nếm trải trở lại kiếp tồn tại trên cơi trần. Khi ta đă sống cuộc đời dài trên cơi trần và đă tích tụ được nhiều kinh nghiệm th́ ḷng mong muốn được tồn tại trên cơi trần nhất thời đă thỏa thuê và ta lại ham muốn được an dưỡng. Lúc bấy  giờ sẽ có thời kỳ thoát xác trong đó Chơn ngă có thể nói là lại trở về với chính ḿnh, không c̣n cấp năng lượng ra bên ngoài trên cơi trần nữa mà uốn cong mọi năng lượng của ḿnh vào các hoạt động nơi nội giới, duyệt lại kho kinh nghiệm đă tích trữ được, vụ gặt của kiếp sống trên cơi trần vừa mới chấm dứt, tách rời và phân loại chúng, đồng hóa những kinh nghiệm nào có thể đồng hóa được, vứt bỏ những kinh nghiệm lạc hậu và vô ích. Đây là công việc của thời kỳ Devachan, là thời gian cần thiết để đồng hóa và đạt được sự thăng bằng. Cũng như người công nhân đi ra ngoài thu lượm vật liệu cho công việc của ḿnh, sau khi thu gom xong bèn trở về nhà lọc lựa và xếp đặt chúng để rồi tiến hành chế tạo chúng thành ra một tác phẩm nghệ thuật nào đó hoặc một đồ vật có ích lợi nào đó; cũng vậy sau khi đă thu lượm được kho vật liệu từ các kinh nghiệm trong kiếp sống, Chủ thể Suy tư phải đan dệt chúng thành ra mảnh lưới kiếp tồn tại thiên niên của ḿnh. Y không c̣n có thể bận bịu trong cơn xoáy lốc của kiếp sống trên trần thế cũng như một người công nhân không thể cứ măi măi đi thu gom vật liệu mà chẳng bao giờ mà chẳng bao giờ chế tác vật liệu thành ra các món đồ; hoặc cũng như một người đâu có thể cứ ăn thức ăn vào măi mà chẳng bao giờ tiêu hóa thức ăn và đồng hóa nó để kiến tạo thành các mô trong cơ thể ḿnh. Sự an dưỡng cần thiết giữa các thời kỳ hoạt động thuộc đủ mọi kiểu tồn tại khiến cho Devachan là hoàn toàn cần thiết và ắt quở trách sự nôn nóng mà những nhà Thông Thiên Học thiếu hiểu biết thường bực ḿnh với ư là “phí thời giờ”. Nên nhớ rằng bản thân sự an dưỡng là một việc mà ta không thể làm được ở bên ngoài. “Manu mệt mỏi và xơ xác (Chơn ngă biết suy tư)” cần có sự an dưỡng ấy, và chỉ khi “Chơn ngă đă an dưỡng rồi” th́ nó mới sẵn sàng và thích hợp để luân hồi. Chúng ta không có được năng lượng cần thiết để đảm đương gánh nặng xác thịt một lần nữa chừng nào mà cái thời kỳ bồi dưỡng này c̣n chưa khiến cho Chơn nhơn có thể một lần nữa tích tụ được các thần lực của sự sống trí tuệ cũng như tâm linh. Chỉ khi ta ắt đến gần lúc kết liễu chu kỳ tái sinh th́ Chơn ngă do đă tăng trưởng qua hằng thiên niên kỷ kinh nghiệm mới có thể được chuẩn bị cho sự căng thẳng khủng khiếp của những kiếp sống tái đi tái lại nhanh chóng vào giai đoạn cuối cùng mà “không cần có kỳ nghỉ Devachan”[30], lúc đó Chơn ngă mới leo lên bảy nấc thang cuối cùng của cái thang tồn tại mà không mỏi ră rời bắp thịt do cơ bắp đă được rèn luyện cứng cỏi trong thời gian dài leo lên ở quá khứ.

Nơi Devachan ta có thể thực hiện một loại tiến bộ ngoài quá tŕnh đồng hóa cần thiết mà ta vừa mới nói, đây đă là điều kiện để tiến bộ thêm nữa rồi. H. P. Blavatsky có dạy: “Theo một ư nghĩa nào đó ta có thể có thêm được hiểu biết, nghĩa là ta có thể phát triển thêm nữa bất kỳ năng khiếu nào mà ta ưa thích và đă phấn đấu trong buổi sinh thời miễn là nó có liên quan tới những sự việc trừu tượng và lư tưởng, chẳng hạn như âm nhạc, hội họa, thi ca v.v. . . v́ Devachan chỉ là sự tiếp nối đầy lư tưởng nơi nội giới của sinh hoạt trên cơi trần[31].

Điều này có thể giải thích sự thần đồng mầu nhiệm mà đôi khi được biểu hiện đặc biệt trong âm nhạc vượt xa bất kỳ mức nào mà người ta biết đă đạt được trước kia trong lịch sử của nghệ thuật này thuộc giống dân Aryan. Cho dù thế nào đi chăng nữa th́ ta nên nhớ kỹ rằng việc quyết tâm theo đuổi tư tưởng trừu tượng hoặc những mơ ước lư tưởng tạo ra một khuynh hướng cho trạng thái Devachan biến nó thành ra một trạng thái hoạt động cũng như thụ động về mặt tiến bộ. Trong khi Devachan có bản chất là thế giới hậu quả, song le trong chừng mực này th́ nó lại vay mượn từ thế giới nguyên nhân (mặc dù cũng đúng là) cái xung lực phải được cung cấp ở đây vốn khiến cho ṿng luân hồi sẽ quay theo con đường ḥa b́nh ấy. Ở Devachan người ta không phát khởi một nguyên nhân hoặc khởi xướng một nỗ lực, nhưng nó cho phép ta tiếp tục những nỗ lực nhằm tới các cơi tồn tại cao nhất mà con người có thể đạt được trong buổi sinh thời. Ta cũng dễ hiểu tại sao khả năng này có được v́ những đỉnh cao lư tưởng và trừu tượng được soi sáng bởi ánh quang huy của manas và điều đó sẽ chói lọi chứ không mờ nhạt đi khi Manas-Taijasi (Manas chiếu sáng rực rỡ) bay vút lên tận cơi của riêng ḿnh mà không bị xiềng xích.

Trong t́nh huống này có nảy sinh một thắc mắc thú vị: khi thời kỳ an dưỡng đă qua rồi, các lực mang Chơn ngă thoát ra khỏi cuộc sống trần tục đă cạn kiệt rồi, th́ ḷng mong muốn tồn tại hữu t́nh trên cơi trần lại được hồi sinh và Chơn ngă sẵn sàng băng qua “ngưỡng cửa Devachan” để chuyển sang cơi luân hồi. Bây giờ cái ǵ sẽ hướng dẫn Chơn ngă đi tới giống dân, quốc gia, gia đ́nh đặc biệt mà thông qua đó y phải t́m được đền thờ tạm mới mẻ bằng xác thịt của ḿnh, và điều ǵ đă xác định giới tính mà y phải khoác lấy? Phải chăng là ái lực? Phải chăng là chọn lựa tự do? Phải chăng là tất yếu? Không có một thắc mắc nào dễ dàng buộc ra khỏi miệng kẻ t́m hiểu hơn những thắc mắc ấy.

Chính luật Nghiệp quả dẫn dắt y không thể sai lầm hướng về giống dân và quốc gia mà y phải t́m thấy trong đó những đặc trưng tổng quát tạo ra một cơ thể và cung ứng một môi trường xă hội thích hợp để biểu lộ được tính t́nh tổng quát mà Chơn ngă đă kiến tạo trong những kiếp trước trên trần thế và để gặt hái được vụ mùa mà y đă gieo.

Ngjhiệp quả với đạo quân Ngũ uẩn chờ trước ngưỡng cửa Devachan mà Chơn ngă phải xuất lộ từ đó để nhập thế một lần nữa. Chính vào lúc này mà số phận tương lai của Chơn ngă giờ đây đang an dưỡng sẽ được cân nhắc trên cán cân báo phục công bằng v́ giờ đây nó lại một lần nữa chịu ảnh hưởng của luật Nghiệp quả hoạt động. Chính trong sự tái sinh này đă sẵn sàng cho nó một sự tái sinh được tuyển lựa và chuẩn bị bởi những sắc lệnh bí nhiệm, nghiêm khắc nhưng mang tính công bằng và minh triết; theo ĐỊNH LUẬT không thể sai lầm này th́ tội lỗi của kiếp trước thuộc Chơn ngă phải bị trừng phạt. Chỉ có điều là Chơn ngă không bị quẳng vào một địa ngục tưởng tượng với những ngọn lửa đầy kịch tính và lũ quỉ dị hợm đầu trâu mặt ngựa mà thật ra nó bị quẳng xuống cơi trần, cơi giới mà nó đă gây tội, và bây giờ nó phải chuộc tội cho mọi tư tưởng và hành vi xấu xa. Nó gieo cái ǵ th́ phải gặt cái ấy. Sự luân hồi sẽ tụ tập xung quanh nó tất cả những Chơn ngă nào đă chịu đau khổ hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp dưới tay hoặc thậm chí do công cụ vô ư thức của phàm ngă trong quá khứ. Nữ thần Báo phục sẽ quẳng họ ra cản đường phàm nhơn mới nhưng vẫn che giấu “Chơn ngă cũ, vĩnh hằng” . .  . “Phàm nhơn” mới này chẳng khá ǵ hơn một bộ quần áo mới với những đặc trưng riêng biệt về màu sắc, h́nh dáng và tính chất; nhưng Chơn nhơn mặc bộ quần áo đó cũng chính là tên tội phạm thời xưa[32].

Như vậy có thể nói thông qua một phàm ngă hiếu chiến trong một kiếp nào đó, Chơn ngă đă dựng nên những nguyên nhân có khuynh hướng lôi kéo y tái sinh vào một giống dân và quốc gia trải qua một thời kỳ chinh chiến trong lịch sử của ḿnh; Chơn ngă của một người La Mă thuộc loại ưa chinh chiến, thực dân, ắt bị lôi kéo chẳng hạn như về nước Anh dưới thời Nữ hoàng Elizabeth, một quốc gia và thời đại mà tính di truyền thể chất sẽ cung ứng một thể xác, c̣n các lực lượng xă hội sẽ cung ứng một môi trường xung quanh thích hợp để biểu lộ được tính t́nh mà y đă kiến tạo trước đó mười lăm thế kỷ.

Một sợi dây khác trong sợi dây thừng Nghiệp quả và là một trong những sợi chắc chắn nhất chính là khuynh hướng chiếm ưu thế và xu hướng của kiếp sống vừa mới kết liễu. Những khuynh hướng chiếm ưu thế và quyết tâm đi theo bất kỳ đường lối tư tưởng và hành động nào sẽ tái xuất hiện thành các tính t́nh bẩm sinh. Một người có ư chí mạnh mẽ, kiên cường, đặt mục đích cho ḿnh thu tóm được của cải, suốt cuộc đời y đi theo quyết tâm đó một cách không ăn năn và không cắn rứt lương tâm th́ trong một kiếp tới y sẽ rất có thể là một trong những người mà ngạn ngữ thường nói là ‘may mắn’: “Sờ vào cái ǵ th́ cái đó là cơ hội bằng vàng”. V́ thế cho nên thật vô cùng quan trọng khi ta chọn lựa lư tưởng và mục đích sống của ḿnh v́ lư tưởng trong một kiếp này sẽ trở thành hoàn cảnh trong kiếp tới. Nếu lư tưởng là ích kỷ, đê hèn và duy vật th́ kiếp tới của ta sẽ đưa ta vào một môi trường khiến cho ta tóm bắt được chúng dễ dàng. Cũng giống như một ư chí sắt đá sẽ thôi thúc ta đi t́m của cải ở cơi này, cũng vậy nó c̣n vươn rộng bàn tay nhám nhúa của ḿnh băng qua vực thẳm giữa sự chết và sự tái sinh để tóm lấy cứu cánh mà nó quyết tâm cho bằng được; nó không chịu chùn gân và nới lỏng sự căng thẳng trong thời kỳ trung gian nơi cơi Devachan mà vẫn thu thập mọi năng lượng cùng với công việc trong vật chất tế vi sao cho khi trên đường trở lại trần thế, Chơn ngă thấy đă có một đền thờ tạm được xây dựng bằng cái ham muốn mạnh mẽ và đam mê ấy thích hợp để hoàn thành mục tiêu được tiên liệu. Con người gieo cái ǵ th́ sẽ gặt cái ấy; y làm chủ vận mệnh của ḿnh và nếu y muốn xây dựng để thành công nơi thế tục đặng được hưởng xa hoa trên cơi trần th́ chẳng ai dám bảo là y không thể đạt được. Chỉ có do kinh nghiệm th́ y mới học được rằng quyền lực, của cải và sự xa hoa chẳng qua là kết quả của Tử Hải, cơ thể có thể đắm đuối trong quyền lực, của cải và xa hoa nhưng Chơn ngă lại rùng ḿnh không dám chui vào đó; Chơn ngă không thỏa măn với đám cám gạo chỉ thích hợp làm thức ăn cho lũ heo; và cuối cùng khi thú tính nơi y đă được no nê phè phỡn c̣n nhân tính bị bỏ đói th́ mặc dù ở nơi xứ xa xăm mà đôi chân bướng bỉnh của y đă kéo lê y tới đó; y vẫn dơi con mắt hướng nh́n về chỗ ở chân thực với đầy sự nhớ nhung và trải qua nhiều kiếp sống y vẫn phấn đấu hướng về đó với mọi sức lực mà đă từng một lần được dùng để chinh phục người ta th́ nay lại được chế ngự để đem phụng sự người khác, và con người dũng mănh đă dựng nên sức mạnh của ḿnh để làm chủ được những người khác th́ bây giờ lại xoay chuyển sức mạnh đó để làm chủ được bản thân và rèn luyện bản thân ngoan ngoăn tuân theo Luật Bác Ái.

Thắc mắc “điều ǵ xác định giới tính” là một câu khó trả lời ngay cả chỉ bằng cách gợi ư và người ta chưa tŕnh bày thông tin dứt khoát về vấn đề này. Bản thân Chơn ngă không có giới tính và trong quá tŕnh luân hồi vô số kiếp, mỗi Chơn ngă đều ngụ trong các thể xác nam và nữ. V́ việc kiến tạo loài người toàn bích chính là mục tiêu của luân hồi và những yếu tố âm dương phải được quân b́nh hoàn toàn nơi loài người toàn bích cho nên ta cũng dễ hiểu khi thông qua kinh nghiệm Chơn ngă phải phát triển những đặc trưng này đến mức trọn vẹn nhất nơi các đối tượng thể chất thích ứng và do đó cần phải có sự luân phiên giới tính. Ta cũng có thể quan sát thấy rằng trong giai đoạn tiến bộ hiện nay của con người th́ việc tiến bộ ấy được thực hiện qua quá tŕnh tổng hợp và ta thấy những loại h́nh cao cả của mỗi giới tính đều bộc lộ một số đặc trưng mà trong lịch sử đă phát triển nơi giới tính kia sao cho sự dũng mănh, kiên cường, can đảm được phát triển theo đường lối nam tính lại được gắn bó với sự dịu dàng, thanh khiết, nhẫn nhục được phát triển theo đường lối nữ tính và chúng ta có thể thoáng thấy được liệu nhân loại sẽ ra sao khi “các cặp đối lập” đă tách rời nhau trong quá tŕnh tiến hóa lại một lần nữa đạt thành quả hiệp nhất trở lại. Trong khi đó, dường như rất có thể là kinh nghiệm trong giới tính thường xuyên uốn nắn cán cân của quá tŕnh tiến hóa, cung cấp những phẩm tính c̣n thiếu ở một giai đoạn đă định nào đó và Nghiệp quả của việc gây hại do giới tính này tạo ra cho giới tính kia sẽ lôi kéo kẻ gây tội trở lại chịu đựng hậu quả nơi cái giới tính bị gây hại để cho y nếm mùi hậu quả của những nguyên nhân mà chính y đă phát khởi.

Như vậy, Nghiệp quả vạch ra đường lối tạo thành con đường dẫn tới kiếp nhập thế mới của Chơn ngă, Nghiệp quả này là tổng thể các nguyên nhân mà chính Chơn ngă đă phát động. Tuy nhiên khi nghiên cứu tác dụng của nghiệp lực này, có một điều mà ta không được bỏ qua: do có tầm nh́n trong sáng hơn và có điều kiện vượt xa hơn phàm ngă cho nên Chơn ngă sẵn sàng chấp nhận điều mà phàm ngă có thể vùng vằng khi không chịu tự nguyện đón nhận. Trường học kinh nghiệm đâu phải là một nơi lúc nào cũng dễ chịu và đối với sự hiểu biết hạn hẹp của phàm ngă th́ ắt phải có nhiều kinh nghiệm trên cơi trần dường như là đau khổ, bất công và vô ích một cách không cần thiết. Trước khi đắm ch́m vào thể xác v́ đă “ăn cháo lú”, Chơn ngă c̣n thấy được những nguyên nhân mà rốt cuộc tạo ra t́nh huống khiến y phải bước vào nhập thế trong t́nh huống ấy. Và trong t́nh huống đó cũng có nhiều cơ hội để tăng trưởng; do đó nó cũng dễ hiểu ra được mọi sự phiền năo và đau khổ thoáng qua đều nhẹ tênh tênh trên cán cân Nghệp quả và đối với cái tầm nh́n xa trông rộng th́ những niềm vui và những nỗi buồn trên trần thế có đáng chi đâu. Đó là v́ mỗi kiếp sống chẳng qua chỉ là một bước trong sự tiến bộ miên viễn của mỗi Chơn ngă luân hồi vốn là một hồn thiêng tiến hóa từ ngoài vào trong, từ vật chất lên Tâm linh để đến cuối mỗi giai đoạn sẽ đạt được sự hiệp nhất tuyệt đối với Nguyên thể Thiêng liêng. Số phận của mỗi Chơn ngă là tiến từ sức mạnh này sang sức mạnh khác, từ vẻ đẹp và sự hoàn hảo của cơi này sang vẻ đẹp và sự hoàn hảo nhiều hơn nữa của cơi khác, càng ngày càng có thêm sự vinh diệu mới mẻ, tri thức mới mẻ và quyền năng mới mẻ trong mỗi chu kỳ[33].

Và với một số phận như thế th́ có chi là khó chịu khi nó phải trải qua sự đau khổ nhất thời hoặc thậm chí sự quằn quại của một kiếp sống đen tối?

 

đầu trang  phần 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 cuối trang mục lục

BẰNG CHỨNG VỀ LUÂN HỒI

 

Bẳng chứng về luân hồi không đạt tới mức có thể chứng minh được một cách tổng quát và hoàn chỉnh, nhưng xét về bản chất của vấn đề này th́ chúng tạo ra một giả định mạnh mẽ hết sức. Lư thuyết mà chúng bênh vực đưa ra được lời giải thích thỏa đáng duy nhất về sự thịnh suy của một quốc gia, về sự kiện trong cuộc tiến hóa của cá nhân, về đủ thứ năng lực của con người, về các chu kỳ lập đi lập lại trong lịch sử, về những tính chất độc đáo có một không hai của con người. Mặc dù tôi biết chắc rằng luân hồi là một sự thật trong thiên nhiên, nhưng ở đây tôi cũng bằng ḷng chỉ giới thiệu nó là một giả thuyết hợp lư để kiểm chứng hơn là một định lư đă được chứng minh. Đó là v́ tôi đang viết cho những người muốn t́m bằng chứng qua những sự kiện trong cuộc sống và lịch sử của loài người cho nên đối với họ thoạt nh́n th́ luân hồi không vượt khỏi mức chỉ là một giả thuyết hợp lư. C̣n kẻ nào đă biết là nó đúng sự thật đâu cần tới lập luận của tôi.

1. Có một số người c̣n sống cũng như một số người hiện nay không có mặt trên cơi trần, họ nhớ được các kiếp đă qua của ḿnh và có thể nhớ lại những diễn biến ấy giống như nhớ lại được những diễn biến ngay trong kiếp này. Kư ức – vốn là cầu nối giữa các giai đoạn kinh nghiệm khác nhau của thực thể hữu thức và mang theo ḿnh cái ư thức về chơn ngă cũng như về phàm ngă – đối với họ trải rộng qua ngưỡng cổng các lần sinh ra và chết đi trong quá khứ và những đêm (chết) cũng không phá vỡ được sợi dây xích kư ức đó hơn là những đêm (ngủ) phá vỡ được sợi dây xích ngăn cách những ngày trong kiếp sống b́nh thường. Những diễn biến trong các kiếp quá khứ của họ là những kinh nghiệm có thật đối với bản ngă sống động của họ dường như thể chúng mới xảy ra cách đây vài năm, và bảo họ rằng họ có kinh nghiệm ấy th́ đối với họ đó là một quan niệm điên khùng chẳng khác nào việc bạn khăng khăng cho rằng những diễn biến mà họ trải qua cách đây mười năm xảy ra đối với người khác chứ không phải đối với chính họ. Họ ắt không tranh luận với bạn nhưng chỉ nhún vai và bỏ lơ đi đề tài đó v́ bạn không thể căi lư với một người không biết ǵ về kinh nghiệm của chính bạn. Mặt khác, chứng cớ của một người và những sự kiện trong phạm vi hiểu biết của chính y không thể chứng tỏ được thực tại của những sự kiện này cho người thứ nh́, do đó bằng chứng này không phải là chứng cớ thuyết phục đối với bất kỳ người nào không phải là người trải nghiệm. Sự chắc chắn cuối cùng về sự thật của luân hồi chỉ dành cho kẻ nào có kư ức làm chứng cho quá khứ của chính ḿnh; giá trị của bằng chứng đó đối với người nghe c̣n tùy thuộc vào ư kiến của người nghe về tính lành mạnh trí thức và giá trị đạo đức của người nói. Nếu người nói là một người chẳng những b́nh thường lành mạnh trong những sự việc thường nhật mà c̣n có sức mạnh trí thức tối cao, nếu đó là một người chẳng những có đạo đức b́nh thường mà c̣n có đạo đức cao tột về mặt thanh khiết, chân thật và chính xác; th́ trong t́nh huống đó, việc y cố t́nh phát biểu rằng ḿnh có nhớ những diễn biến xảy ra trong cuộc đời của chính ḿnh chẳng hạn như cách đây vài thế kỷ và y c̣n liên hệ được những diễn biến đó với môi trường địa phương xung quanh một cách tỉ mỉ, th́ rất có thể điều này gây ảnh hưởng lớn lao tới những người quen thuộc với sự liêm khiết và năng lực của y; đó chỉ là bằng chứng gián tiếp nhưng thuộc loại đáng tin cậy.

2. Giới thực vật, động vật, nhân loại đều chứng tỏ có những dấu hiệu chịu tác động của “luật di truyền” với khuynh hướng cha mẹ truyền cho con cháu những đặc tính tổ chức của chính ḿnh. Mặc dù có nhiều sự khác nhau bề ngoài nhưng ta vẫn nhận ra được một cây sồi, một con chó, một con người khắp nơi trên thế giới. Tất cả đều được sinh ra và tăng trưởng theo những đường lối xác định; từ hai tế bào một nam tính và một nữ tính, mỗi sinh vật đều tiến triển và phát triển theo những đường lối có đặc tính của cha ông. Thế hệ con cháu mô phỏng lại những đặc điểm riêng biệt của cha ông và cho dù các ḍng thuộc cùng một loại h́nh có thể khác nhau rất nhiều song chúng ta vẫn nhận ra những đặc tính thống nhất chúng lại. Chúng ta thống nhất gọi tên là “chó”, cái con chó thuộc ḍng St. Bernard hoặc chó kiểng toyterrier, chó săn lợn rừng hay chó săn xám ḍng Ư, cũng như ta thống nhất gọi tên là “người” dù đó là người Veddah hay người Anh, người thổ dân bản xứ châu Úc hay người Rajput. Nhưng khi ta xét tới những năng lực trí thức và đạo đức chẳng hạn như các biến thể của loài chó và loài người th́ ta đâm choáng váng trước một sự khác nhau rất to lớn. Nơi con chó th́ những năng lực đó thay đổi tương đối trong một phạm vi hẹp; nó có thể khôn khéo hoặc ngu đần, nhiều thói xấu hoặc đáng tin cậy, nhưng sự khác nhau giữa con chó khôn ngoan và con chó ngu đần tương đối không lớn lắm. Song nơi con người th́ có một khoảng khổng lồ ngăn cách mức thấp nhất với mức cao nhất cho dù xét về mặt trí thức. Một số người chỉ có thể đếm 1 – 2 – 3 . . . và nhiều số, trong khi những người khác có thể tính toán những khoảng cách mà ta phải tính theo hàng năm ánh sáng. Trong số mọi chủng loại có mặt trên trái đất chỉ nơi con người và nơi con người thôi th́ ta mới thấy có một sự thống nhất lớn lao như thế về thể chất và một sự cách ly rộng lớn như thế về trí thức và đạo đức. Tôi công nhận là tính di truyền thể chất giải thích được một khía cạnh nhưng tôi cần có một yếu tố mới nào đó không có mặt nơi con thú để giải thích được khía cạnh kia. Sự luân hồi (với một Chơn ngă trường tồn về mặt trí thức và đạo đức, học hỏi qua kinh nghiệm, phát triển trong hàng thiên niên kỷ) hiến ra một nguyên nhân thỏa đáng; và nguyên nhân này cũng giải thích được tại sao con người lại tiến bộ (xét theo quan điểm trí thức và đạo đức) trong khi con thú vẫn dậm chân tại chỗ nếu không được con người nuôi dưỡng và rèn luyện nhân tạo. Xét theo những ǵ mà sử sách ghi lại được th́ những con thú hoang đă từng sống như chúng ta đang sống hiện nay, đó là những loài thú săn mồi, bầy đàn trâu ḅ, bộ tộc khỉ vượn, cộng đồng kiến v.v. . . Chúng sống rồi chết đi hết đời này sang đời khác, lập lại những thói quen của cha mẹ, trôi giạt theo lối ṃn của tổ tiên chứ không tiến hóa lên đời sống xă hội cao hơn. Chúng cũng có tính di truyền thể chất như con người, nhưng di truyền thể chất không thể  cung cấp cho chúng kinh nghiệm tích lũy khiến cho Chơn ngă trường tồn có thể leo lên được, xây dựng được những nền văn minh vĩ đại, thu thập được kiến thức, càng ngày càng vươn lên cao sao cho không ai có thể vạch ra được một giới hạn mà loài người không thể tăng trưởng vượt quá mức đó. Chính yếu tố trường tồn này (vốn thiếu nơi con thú và có mặt nơi con người) mới giải thích được tại sao con thú lại tương đối dậm chân tại chỗ c̣n con người lại tiến bộ được. Không có một kho chứa cá thể nào để cho con thú tích lũy kinh nghiệm trong đó; nhưng con người v́ tích lũy được tinh hoa kinh nghiệm nơi Chơn ngă bất tử cho nên hết đời này sang đời khác cứ khởi sự với cái kho chứa mà ḿnh sở hữu ấy và do đó có khả năng tiếp tục tăng trưởng cá thể. Đó là v́ nếu không có tâm thức th́ làm sao truyền đạt được kinh nghiệm ư thức? Những thói quen thể chất vốn làm biến đổi cơ thể có thể được truyền thừa về mặt thể chất chẳng hạn như khuynh hướng bản năng chạy nước kiệu của con ngựa, việc đánh hơi chỉ đường của con chó v.v. . . Những sự kiện này vốn nổi tiếng nơi con thú cũng như nơi con người. Cũng đáng chú ư nữa là sự kiện con thú vốn dậm chân tại chỗ về trí thức và đạo đức so với sự tiến bộ của con người. Có một sự kiện khác cũng đáng chú ư là không một ảnh hưởng bên ngoài nào có thể gây ấn tượng bao gồm những quan niệm sơ cấp tác động lên bộ óc những người kém tiến hóa trong khi bộ óc của những người tiến hóa hơn đồng hóa ngay tức khắc những quan niệm ấy khi chúng được tŕnh bày ra. Muốn có được một nhận thức về trí thức hoặc đạo đức th́ cần phải có một điều ǵ đó hơn mức chỉ là một khí cụ bộ óc, và không một sự rèn luyện nào có thể cung cấp cho ta được điều này, sự rèn luyện có thể khiến cho khí cụ đó tinh vi hơn nhưng cần phải có sự thôi thúc của Chơn ngă th́ khí cụ đó mới hưởng ứng được với sự kích động từ bên ngoài. Ta cũng không thể phản bác sự thật này khi nói rằng một đứa trẻ Âu Tây bị cách ly với việc giao tiếp con người được thấy là mang đầy thú tính và ít có nhân tính khi được thả ra; đó là v́ cơ quan thể chất cũng cần được các ảnh hưởng thể chất tác dụng lành mạnh lên nó nếu ta muốn dùng nó trên cơi trần, và nếu ta giải thể nó bằng cách đối xử không tự nhiên th́ nó cũng không thể đáp ứng được với bất kỳ thôi thúc nào của Chơn ngă cũng giống như một chiếc dương cầm bị bỏ rỉ sét trong bầu không khí ẩm thấp không thể trổi lên những nốt nhạc du dương v́ những sợi dây đàn đă bị hư hỏng.

3. Trong giới hạn của một gia đ́nh th́ cũng có vài đặc tính di truyền không ngừng tái xuất hiện và có một “sự giống nhau về gia đ́nh” nào đó thống nhất các thành viên của gia đ́nh lại, sự giống nhau về thể chất này thật là rơ ràng và được coi là bằng chứng của luật di truyền. Nếu chỉ xét như thế th́ cũng đúng thôi. Nhưng luật ấy giải thích thế nào về sự khác nhau đáng ngạc nhiên nơi năng lực trí thức và tính cách đạo đức mà ta thấy trong phạm vi hạn hẹp của chỉ một môi trường gia đ́nh trong đám con cái của cùng một cha mẹ? Trong gia đ́nh gồm những người tịch lặng, yêu cuộc sống gia đ́nh, định cư ở một nơi hết đời này sang đời khác th́ lại nảy ṇi ra một chàng trai với tính khí quậy phá đầy hoang dă mà không một kỷ luật nào có thể  uốn nắn được và không một dỗ dành nào có thể níu tay lại được. Làm thế nào mà một loại h́nh như vậy lại xuất hiện trong một môi trường như thế nếu bản chất trí thức và đạo đức được nảy sinh ra từ nguồn cội tổ tiên? Hoặc một “kẻ vô lại” sinh ra trong một gia đ́nh quí tộc và thanh khiết làm quặn đau nỗi ḷng của những kẻ yêu thương y, làm điếm nhục thanh danh chưa hề ô uế, y ở đâu ra vậy? Hoặc là một đóa hoa trinh trắng thánh thiện phơi bày vẻ đẹp rực rỡ của ḿnh ngay giữa môi trường gia đ́nh dơ dáy và thô tục, điều ǵ đă ném hạt giống của cái cây tuyệt vời ấy xuống mảnh đất tồi bại như thế? Ở đây trong mọi trường hợp th́ sự luân hồi đều mang lại cho ta manh mối v́ nó coi các phẩm tính trí thức và đạo đức vốn ở nơi Chơn ngă bất tử chứ không ở nơi cái xác do cha mẹ sinh ra. Ta thấy anh em rất giống nhau về thể chất nhưng tính cách về trí thức và đạo đức lại khác nhau một trời một vực như nước với lửa. Tính di truyền có thể giải thích được mặt này nhưng không thể giải thích được mặt kia. [Tôi không quên “luật phản phục” cũng như vấn đề làm thế nào mà các loại h́nh tương kỵ như vậy lại chui vào cùng một gia đ́nh nếu ta bảo rằng Chơn ngă bị thu hút về môi trường thích hợp với ḿnh, nhưng những điều này sẽ được bàn tới ở mục lư lẽ phản đối luân hồi]. Sự luân hồi bước vào để điền kín cái chỗ trống ấy và như vậy làm cho thuyết tăng trưởng của con người được hoàn chỉnh.

4. Vấn đề giống như vậy lại càng nổi bật hơn nơi trường hợp những anh em sinh đôi trong đó các đứa trẻ chẳng những có tổ tiên giống hệt nhau mà c̣n có hoàn cảnh trước khi sinh ra giống hệt nhau. Thế nhưng trẻ sinh đôi thường kết hợp sự giống nhau hoàn chỉnh nhất về thể xác với sự khác nhau rất nhiều về trí thức và đạo đức. Và c̣n một vấn đề quan trọng nữa liên quan tới trẻ sinh đôi là trong buổi ấu thơ ta thường không phân biệt được chúng với nhau, ngay cả cặp mắt sắc xảo của người mẹ và người bảo mẫu cũng không phân biệt nổi. Thế mà sau này khi chúng lớn lên, khi Manas đă hoạt động thông qua cái khung thể chất th́ Manas biến đổi nó nhiều đến nổi sự giống nhau về thể chất giảm đi c̣n sự khác nhau về tính t́nh lại ghi dấu trên những đặc điểm di động.

5. Hiện tượng thần đồng cũng đ̣i hỏi khoa học phải giải thích một chút. Tại sao Mozart mới có bốn tuổi mà đă bộc lộ được kiến thức chẳng ai dạy ḿnh? Chẳng những ông có khiếu về nhạc du dương mà c̣n có “bản năng” tạo ra những lời phổ nhạc cho những khúc nhạc du dương được tŕnh bày với ông, những lời phổ nhạc ấy tuân theo những định luật phức tạp về hài âm mà một nhạc sĩ phải kiên nhẫn học hỏi biết bao lâu. “Người ta bảo rằng ông vốn sinh trưởng trong một gia đ́nh có truyền thống âm nhạc”. Chắc chắn rồi, bằng không th́ ta khó ḷng mà hiểu được làm sao cung cấp được cho ông cái công cụ thể chất tinh vi cần thiết để ông biểu lộ được  thiên tài siêu việt của ḿnh; nhưng nếu bảo rằng gia đ́nh cung cấp cho ông thiên tài ấy cũng như cái bộ máy thể chất để biểu lộ thiên tài th́ người ta lại thắc mắc muốn biết tại sao có biết bao nhiêu người cùng chia xẻ quyền sở hữu cái công cụ âm nhạc thể chất ấy mà ngoại trừ ông ra th́ chẳng có ai chứng tỏ được khả năng trào dâng lên thành những bản nhạc giao hưởng, những bản sonate, những khúc nhạc kịch mà cái đại khối ấy tuôn đổ ra như thác quí báu xiết bao từ cái nguồn nước hầu như vô tận. Làm thế nào hậu quả lại có thể tuôn ra từ một nguyên nhân bất cập như vậy? Đó là v́ trong trọn cả gia đ́nh Mozart chỉ có mỗi một Mozart thôi. Và ta có thể trích dẫn nhiều trường hợp khác nữa trong đó đứa trẻ c̣n vượt cả thầy giáo của ḿnh, dễ dàng làm được điều mà các bậc thầy phải h́ hục hoàn thành và nhanh chóng làm được điều mà các bậc thầy không tài nào làm nổi.

6. Thần đồng chẳng qua là một dạng biểu lộ của thiên tài và bản thân thiên tài cần được giải thích. Nó ở đâu ra vậy, thật khó mà truy nguyên nó c̣n hơn cả theo dơi dấu chim trên bầu trời. Plato, Dante, Bruno, Shakespeare, Newton, họ ở đâu ra vậy, những đứa con rực rỡ này của loài người? Họ xuất thân từ các gia đ́nh tầm thường, người thứ nhất và cuối cùng làm cho tên tuổi của gia đ́nh trở nên bất tử. Gia đ́nh họ vốn vô danh tiểu tốt th́ đó là bằng chứng dứt khoát rằng họ chỉ có một năng lực b́nh thường; một đứa trẻ được sinh ra, yêu mến, chiều chuộng, trừng phạt, giáo dục giống như mọi đứa trẻ khác; đột nhiên con chim ưng trẻ trung bay vút lên về phía mặt trời từ cái tổ chim sẻ ngay dưới máng xối ở trong nhà, nó vỗ cánh làm rung chuyển cả bầu trời. Nếu một chuyện như thế xảy ra trên cơi trần th́ chúng ta ắt không thể th́ thào: “Sự di truyền và đó là một trường hợp kỳ diệu của sự phản phục”, chúng ta ắt t́m kiếm con chim ưng cha mẹ chứ không truy nguyên phổ hệ của chim sẻ. Và như vậy khi một Chơn ngă dũng mănh hạ cố đến một gia đ́nh tầm thường th́ ta phải thấy Chơn ngă đó là nguyên nhân của thiên tài chứ không t́m kiếm thiên tài qua phổ hệ của gia đ́nh.

Liệu ai dám giải thích bằng phương pháp di truiyền sự giáng sinh của một thiên tài đạo đức vĩ đại như Lăo Tử, Đức Phật, Zarathusthra hoặc Chúa Giê su hay không? Phải chăng cái gốc rễ thiêng liêng làm trổ ra các tinh hoa nhân loại này phải được đào xới nơi mảnh đất tổ tiên trên cơi trần mà nguồn cội của các kiếp sống đầy diễm phúc ấy chỉ là một cái giếng nhỏ của nhân loại tầm thường? Ở đâu ra sự minh triết không được dạy dỗ, sự giác ngộ tâm linh cũng như tri thức của các ngài về những nỗi phiền năo và nhu cầu của loài người? Con người đă bị lóa mắt v́ giáo huấn của các ngài đến nổi họ mơ rằng đó là một sự khải huyền của một đấng Thiêng liêng siêu tự nhiên trong khi ấy chỉ là thành quả chín muồi của hàng trăm kiếp làm người. Những người nào bác bỏ một đấng Thêng liêng siêu tự nhiên th́ hoặc là phải chấp nhận sự luân hồi hoặc là phải chấp nhận không thể giải quyết được vấn đề nguồn gốc của các ngài. Nếu sự di truyền có thể tạo ra Đức Phật và Đức Ki Tô th́ nó ắt c̣n phải cung cấp cho ta nhiều Đức Phật và đấng Ki Tô hơn nữa.

7. Chúng ta cũng phải đi đến kết luận ấy khi chú ư tới những sự khác nhau ghê gớm của người ta qua năng lực đồng hóa đủ thứ kiến thức.

Ta hăy xét hai người có một khả năng trí thức nào đó khéo léo hơn là ngu đần. Ta hăy giới thiệu với mỗi người đó cùng một hệ thống triết lư. Một người nhanh chóng lĩnh hội được các nguyên tắc chính yếu của nó, c̣n người kai vẫn thụ động và trơ trơ đối với nó. Ta hăy giới thiệu cũng với hai người này một hệ thống khác nữa th́ địa vị tương đối của họ sẽ bị đảo lộn lại. Một người có “khuynh hướng” theo một dạng tư tưởng này c̣n người kia hướng theo một dạng tư tưởng khác. Hai học viên bị thu hút bởi Thông Thiên Học và bắt đầu nghiên cứu nó; chỉ mới hết một năm th́  người này đă quen thuộc với những quan niệm chính yếu của nó và có thể ứng dụng được những quan niệm ấy, c̣n người kia th́ phấn đấu loay quay trong một mê lộ. Đối với người này th́ mỗi nguyên tắc đều dường như là quen thuộc khi y được tŕnh bày, c̣n đối với người kia th́ mỗi nguyên tắc ấy thật là mới mẻ kỳ lạ và không thể hiểu nổi. Người tin vào luân hồi hiểu rằng giáo huấn này là xưa cũ đối với người này nhưng lại mới mẻ đối với người kia; người này học nhanh v́ ư nhớ, chẳng qua y chỉ phục hồi lại kiến thức trong quá khứ; người kia học chậm v́ kinh nghiệm của y không bao hàm những sự thật này của thiên nhiên và y đang lần đầu tiên vất vả để thụ đắc chúng.

8. Có liên quan mật thiết tới viêc nhanh chóng khôi phục được kiến thức trong quá khứ, đó là trực giác vốn nhận thức được sự thật đúng là sự thật khi nó được tŕnh bày chứ không cần cái quá tŕnh chậm chạp lập luận để đi tới viêc tin chắc. Trực giác ấy chỉ nhận ra một sự kiện đă quen thuộc trong một kiếp quá khứ mặc dù mới lần đầu tiên gặp trong kiếp này. Nó có đặc điểm là không cần được củng cố bằng lập luận, niềm tin chắc nội tâm xuất hiện ngay khi nhận thức được sự kiện; người ta có thể mưu t́m và kiến tạo những lập luận chứng tỏ thực tại những sự kiện ấy v́ ích lợi của những người khác chứ bản thân họ th́ không cần tới sự thỏa măn của một kẻ tin tưởng. Công việc đó đă được thực hiện rồi đối với chính y trong kinh nghiệm trước kia và y không cần phải đi trở lại con đường xưa cũ ấy nữa.

9. Không có một thuyết nào khác về kiếp tồn tại của con người giải quyết được giống như luân hồi về vấn đề bất b́nh đẳng trong hoàn cảnh, năng lực và cơ hội; bằng không th́ ta chẳng thấy được bằng chứng theo đó sự công bằng là một yếu tố trong cuộc sống, c̣n con người chẳng qua chỉ là tṛ chơi cho sự ưu ái của một đấng Tạo hóa vô trách nhiệm hoặc tṛ chơi của những lực mù quáng thuộc Thiên nhiên vô hồn. Một đứa trẻ được sinh ra với bộ óc thích hợp để trở thành công cụ của mọi nỗi đam mê đầy thú tính, “bộ óc tội phạm”, là hiện thể của các ham muốn xấu xa, của bản năng đầy thú tính; nó là đứa con của một kẻ ăn cắp và một cô gái điếm, ḍng máu ấy tuôn chảy từ một cội nguồn ô uế nhiễm độc, môi trường xung quanh dạy cho nó những bài học tồi bại, uốn nắn nó theo những đường lối xấu xa. Một đứa trẻ khác sinh ra với bộ óc được uốn nắn cao thượng thích hợp để biểu lộ trí năng xuất sắc nhất có rất ít nền tảng vật thể dùng làm cơ sở và công cụ cho những đam mê đầy thú tính; nó là con của những bậc cha mẹ thanh khiết và biết suy tư, thể chất của nó        được kiến tạo bằng vật liệu tốt, môi trường xung quanh nó thúc đẩy nó theo con đường hành xử đúng đắn, rèn luyện nó hành động rộng lượng và tốt bụng, giúp nó ức chế mọi tư tưởng thấp hèn và tồi bại. Do cơ thể và môi trường xung quanh th́ kẻ này bị tiền định sống một cuộc đời tội phạm hoặc cùng lắm nếu phần Thiêng liêng nơi y biểu lộ ra được th́ y cũng phải phấn đấu ghê gớm chống lại nghịch cảnh đè bẹp, cho dù sự phấn đấu này cuối cùng là chiến thắng th́ bản thân kẻ thắng trận cũng kiệt sức, què quặt, tâm hồn tan nát. C̣n cũng do thể chất và môi trường xung quanh th́ một kẻ khác lại được tiền định sống một cuộc đời hoạt động ban phúc, y chẳng phải phần đấu chống lại điều ác gh́ kéo y xuống mà phần đấu vươn lên tới điều thiện cao thượng hơn thu hút y đi lên. Ở đâu ra những số phận khác nhau đến như thế nếu những con người này lần đầu tiên bước vào sân khấu cuộc đời? Liệu ta có dám bảo rằng một đấng Thiên hựu hữu thức và cai trị tất cả nào đó tạo ra hai cuộc đời này, lưu đày một kẻ đến mức thoái hóa tối đa và ban phúc cho kẻ kia đến mức năng lực cao siêu nhất? Nếu thế th́ Nhân loại đang bơ vơ lạc lỏng than khóc trong nanh vuốt của một sự bất công khôn ḍ chỉ c̣n có nước rùng ḿnh tuân phục nhưng nó ắt không c̣n nói tới Công bằng hoặc Bác ái nữa, coi như đó là thuộc tính của đấng Thiêng liêng mà nó tôn thờ. Nếu kết quả như vậy mà lại xảy ra do các lực mù quáng trong Thiên nhiên th́ con người cũng chới với trong gọng kềm của những nguyên nhân mà ḿnh không thể ḍ t́m hoặc kiểm soát nổi và trong khi loài người  nhẫn nhục chịu đựng th́ quấn quanh tâm hồn y vẫn có một con rắn nhe răng nanh đầy nọc độc uất hận trước sự bất công, những số phận tốt và đen đủi đă chạy ra từ những ṿng quay xổ số của một thứ may rủi mù quáng. Những số phận đó trút xuống đầu con người mà họ không có quyền chấp nhận hoặc bác bỏ. Nhưng nếu luân hồi là đúng sự thật th́ sự Công bằng vẫn ngự trị trên thế gian và số phận con người vẫn nằm trong tay y. Nếu chiều theo những tư tưởng và hành vi độc ác gây ra những điều sai trái đối với người khác, tán tận lương tâm đeo đuổi những mục tiêu ích kỷ th́ những điều đó sẽ kiến tạo cho Chơn nhơn luân hồi một bộ óc vốn là công cụ thích hợp để cho chúng biểu lộ ra nhiều hơn, một bộ óc mà mọi khuynh hướng xấu đều dễ dàng ngựa quen đường cũ c̣n những lực tốt đẹp th́ chỉ hoài công khi mưu t́m một cơ quan thể chất để biểu hiện ra được. Một bản chất có trang bị thể chất xấu như thế sẽ bị thu hút về môi trường thích hợp nơi mà có đủ mọi cơ hội để cho hành động xấu đó được thể hiện ra và các bậc cha mẹ có thân xác đă nhiễm độc có thể cung cấp vật liệu thể chất thích hợp để dùng làm cơ sở cho sự biểu lộ ấy. Khủng khiếp ư? Đúng vậy, cũng khủng khiếp như việc cứ say sưa kéo dài sẽ dẫn tới việc hủy hoại cơ thể và bộ óc. Nhưng ở đâu có sự công bằng, có định luật không thể vi phạm được th́ ở đó có hi vọng v́ lúc bấy giờ ta không chỉ là những cọng rơm bị cơn gió vô t́nh cuốn đi mà ta làm chủ được số phận của ḿnh, v́ có hiểu biết nên ta có thể vận dụng được những định luật ấy, chúng không bao giờ phản bội ta và sẽ trợ giúp cho ta thay v́ đối địch với ta. Đó là v́ nếu con người có thể xây dựng điều xấu xa th́ cũng có thể kiến tạo điều tốt đẹp và kết quả ngược lại với những ǵ mà ta vừa phác họa cũng có thể được tạo ra. Kiên quyết chống lại tư tưởng và hành vi sai trái, kiên nhẫn phụng sự người khác, tận tụy với hết tấm ḷng ḿnh v́ những cứu cánh vị tha; những thứ đó sẽ xây dựng cho Chơn nhơn luân hồi một bộ óc vốn là công cụ thích hợp để chúng càng dễ biểu lộ ra hơn, trong đó mọi khuynh hướng tốt sẽ dễ dàng đơm hoa kết trái, trong đó các lực xấu xa sẽ hoài công mưu t́m một cơ quan thể chất để biểu hiện ra được. Một bản chất như thế cũng được thu hút về môi trường có nhan nhăn những cơ hội để làm điều tốt, có các bậc cha mẹ xứng đáng để kiến tạo nên đền thờ tạm thể chất này. Nhưng trong mỗi trường hợp th́ đền thờ tạm đều được xây dựng theo kế hoạch mà kiến trúc sư Chơn ngă xây cất và y chịu trách nhiệm về công tŕnh của ḿnh[34].

Lại nữa, luân hồi giải thích cho ta hiểu được sự tương phản ghê gớm giữa những hoài băo và khả năng của con người. Ta thấy một tâm trí tha thiết bị giam hăm trong một thể xác bất lực nhất và ta biết rằng giờ đây nó bị hạn chế do trong một kiếp trước nó đă lười biếng không chịu vận dụng năng lực của ḿnh. Ta thấy một người khác mơ ước thành tựu được những điều cao siêu nhất, tha thiết phấn đấu thật cảm động để lĩnh hội được những quan niệm tinh vi nhất trong khi đáng thương thay y không thể đồng hóa được những ư tưởng sơ cấp nhất và căn bản nhất trong triết lư mà y muốn quán triệt hoặc không đáp ứng được những yêu cầu khiêm tốn nhất của một kiếp sống khá hữu ích và vị tha. Chúng ta thấy rằng những cơ hội trong quá khứ đă bị bỏ lỡ, những khả năng thành tựu lớn lao đă bị coi thường hoặc cố t́nh vứt bỏ, v́ vậy giờ đây con đường đi lên của Chơn ngă mới bị trắc trở và sức mạnh của y mới bị què quặt; linh hồn mơ ước có được sự hiểu biết với ḷng tha thiết đầy tuyệt vọng và thê thảm, đâu có quyền năng bên ngoài nào chối bỏ nó, nhưng nó không thể đạt được v́ nó không thể thấy được cho dù điều ấy nằm ngay dưới chân nó.

Có một gợi ư khác có thể hấp dẫn đối với kẻ nào tin rằng có một đấng Thiên hựu cai trị tất cả, ngài sáng tạo ra hồn người. Phải chăng dường như tưởng tượng rằng đấng Thiêng liêng chiều ư tạo vật của ḿnh khi vận dụng năng lượng sáng tạo giống như kẻ tùy tùng chỉ chực chờ những cơn đam mê và dâm dục của con người để tạo ra một hồn người ngụ trong cái xác vốn là sản phẩm của một hành vi đồi bại nào đó của một cặp nam nữ đă sa đà vào những đam mê không kềm chế được bản thân? Việc thường xuyên tạo ra những hồn mới để ngụ trong những h́nh tướng mà sự tồn tại của chúng lại lệ thuộc vào những cơn ngẫu hứng của con người. Phải chăng có một điều ǵ đó thật là ghê tởm đối với những người biết tôn trọng lư tưởng về một đấng Thiêng liêng. Thế nhưng không c̣n phương án nào khác nếu người ta tin rằng con người là phần hồn – hoặc có linh hồn theo như họ diễn tả nhiều nhất – mà lại bác bỏ sự luân hồi.

10. Có một lập luận khác chỉ hấp dẫn đối với kẻ nào tin vào sự bất tử của con người: đó là một điều ǵ bắt đầu trong thời gian cũng phải kết thúc trong thời gian. Mọi điều hữu thủy đều phải hữu chung và mệnh đề tương quan cần thiết của sự bất tử sau khi chết ắt là trước khi sinh ra phải có sự tồn tại đời đời. Chính v́ thế mà Hume có tuyên bố rằng chuyển kiếp là thuyết duy nhất về linh hồn mà triết học có thể nghe lọt tai được v́ “cái ǵ bất diệt ắt phải không thể sinh ra được”. Tư tưởng vốn vươn lên tới được phẩm giá của triết học th́ hoặc là phải chấp nhận sự luân hồi hoặc là cho rằng kiếp sống cá thể chấm dứt vào lúc chết.

11. Thế nhưng lại nữa, chẳng lẽ không có được điều ǵ khá phi lư nếu cho rằng đấng Thông tuệ tâm linh nơi con người vốn bất tử mà lại giả sử rằng một đấng Thông tuệ như thế giáng trần, ngụ trong chẳng hạn thể xác của một người sơ khai rồi rời bỏ nó và chẳng bao giờ trở lại để học vô số bài học mà cuộc sống trần tục này có thể dạy được nhưng chưa kịp dạy cho y. Ta thấy con người c̣n có thể thành tựu được biết bao nhiêu sự tăng trưởng về trí tuệ và đạo đức so với tŕnh độ của một kẻ chưa văn minh. Tại sao một đấng Thông tuệ như thế mà cuối cùng lại từ trần khi chưa quán triệt được hết mọi bài học? Biệt phái một đấng Thông tuệ thiếu kinh nghiệm như thế lên một cơi sinh hoạt tâm linh cao siêu nào đó cũng chẳng khác ǵ gửi một đứa trẻ thuộc lớp thấp nhất trong trường tiểu học lên học Đại học. Óc phân biệt phải trái b́nh thường cũng yêu cầu nó trở lại hết học kỳ này tới học kỳ khác, sau mỗi kỳ nghỉ hè cho tới khi nó lên được lớp cao nhất rồi tốt nghiệp lớp đó v́ đă học hết được những ǵ mà trường phải dạy cho nó th́ mới chuyển sang sinh hoạt thoải mái hơn và học vấn thâm sâu hơn ở bậc Đại học.

12. Sự tương tự gợi cho ta thấy trong một chu kỳ sống th́ các yếu tố vô thường và thường trụ cùng nhau tồn tại. Lá cây trổ ra, chín vàng rồi rụng xuống; trong khi đang c̣n sống, chúng thu hút chất dinh dưỡng, biến chất dinh dưỡng thành ra chất liệu hữu dụng cho cái cây, truyền đạt thành quả năng lượng sống của ḿnh cho cái cây rồi mới chết. Chúng không mọc lên trở lại nữa nhưng cái cây vẫn trường tồn và cứ mỗi mùa xuân th́ một đợt lá mới lại mọc ra. Kiếp sống phàm ngă cũng như thế, nó thu lượm kinh nghiệm, chuyển hóa kinh nghiệm thành ra những giá trị trường cửu, truyền giá trị đó cho cái cây sống lâu bền mà nó sinh ra từ đấy rồi mới chịu nhắm mắt buông tay: sau khi mùa đông qua rồi th́ Chơn ngă lại sinh ra phàm ngă mới để làm công việc tương tự, để kiến tạo, nuôi dưỡng sự tăng trưởng của cái cây Chơn nhơn. Và thế là trong khắp cả thiên nhiên ta đều thấy cái vô thường phục vụ cho cái thường trụ, làm việc v́ sự tăng trưởng của cuộc sống trường cửu hơn mà bản thân nó chỉ là sự biểu hiện phù du.

13. Các chu kỳ lập đi lập lại trong lịch sử cho ta thấy một số lớn người xét chung đă luân hồi. Ta thấy vào cuối mỗi chu kỳ mười lăm thế kỷ lại tái xuất hiện những loại h́nh thông tuệ và loại tính t́nh đánh dấu sự bắt đầu của chu kỳ ấy. Nếu biết được ư tưởng này, học viên hăy thử so sánh thời kỳ Augustus trong lịch sử La Mă với thời kỳ Nữ hoàng Elizabeth nước Anh. Y hăy so sánh loại h́nh chinh phục, thực dân, mưu bá đồ vương của người La Mă với loại h́nh đó của người Anh. Y hăy so sánh các ḍng tư tưởng tôn giáo vào thế kỷ thứ 3 và thứ tư sau Công nguyên với ḍng tư tưởng của thế kỷ 18 và 19 để xem liệu y có thể nào truy nguyên được sự thịnh hành về tư tưởng thần bí và Ngộ đạo ngày nay là sự tái xuất hiện từ cuối thế kỷ thứ tư hay chăng. Khi y đă theo dơi đường lối nghiên cứu này trong một thời gian th́ y bắt đầu thấy rằng phát biểu trong những tác phẩm Thông Thiên Học theo đó mười lăm thế kỷ là “thời kỳ trung b́nh giữa hai kiếp nhập thế” không chỉ là điều hoang tưởng hay phỏng đoán. 

14. Ta chỉ giải thích được sự thịnh suy của các giống dân hay nhất là dựa vào giả thuyết luân hồi. Ta lưu ư thấy rằng một số giống dân bị mai một cho dù người ta đă cố hết sức chận đứng đà suy thoái của chúng; phụ nữ trong giống dân đó bị vô sinh cho nên dân số cứ đều đều giảm đi và việc chúng bị tuyệt chủng chỉ c̣n là vấn đề thời gian. Nhà luân hồi học ắt bảo rằng: “Các Chơn ngă đang rời bỏ giống dân ấy; mọi thứ có thể học được qua biểu hiện đặc thù ấy đă được học hết rồi; các Chơn ngă đă từng một thời làm linh hoạt đám con trẻ trong giống dân ấy giờ đây chuyển sang giống dân khác; không c̣n Chơn ngă ấu trĩ nào để băn khoăn về những bài học kinh nghiệm làm người buổi sơ khai nhất; v́ thế cho nên trên cơi nguyên nhân không có nhu cầu và do đó nó tất nhiên phải biến mất”. Cũng vậy, ta thấy rằng khi một giống dân đă đạt tới tột đỉnh thành tựu th́ sự suy thoái từ từ sẽ bắt đầu; cùng lúc đó một giống dân khác bắt đầu tăng trưởng và tiến bộ lên khi giống dân kia suy thoái đi. Đó là v́ các Chơn ngă tiên tiến sau khi đă dùng một loại h́nh giống dân hết mức khả năng của nó th́ lại thấy có một loại h́nh khác với những khả năng cao hơn; do đó họ để mặc cho các Chơn ngă chậm tiến hơn nhập thế trong loại h́nh thứ nhất c̣n bản thân họ chuyển sang nhập thế trong giống dân non trẻ hơn; như vậy sự truyền thừa sẽ được tiếp tục, các Chơn ngă càng ngày càng chậm tiến cứ nhập thế trong loại   h́nh đầu tiên do đó loại h́nh này từ từ suy thoái cho đến khi đạt tới giai đoạn nêu trên khi ta thấy có những dấu hiệu gần tuyệt chủng. Ta có thể nêu ra nhiều bằng chứng khác nữa về thực tại của luân hồi, nhưng trong khuôn khổ giới hạn này th́ như thế cũng đủ rồi. Khi có thêm kiến thức, học viên thiết tha và chuyên cần có thể nêu thêm nhiều bằng chứng khác.

 

đầu trang  phần 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 cuối trang mục lục

NHỮNG LƯ LẼ PHẢN ĐỐI LUÂN HỒI

 

Việc phát biểu những lời phản đối ở đây được viện dẫn theo những người chống đối và t́m hiểu khi họ nêu lên, và nó chỉ được coi là một mẫu trong số những lư lẽ mà ta thường gặp nhất.

1. Việc Mất Trí Nhớ. Điều này đă được bàn luận rốt ráo trong đề mục LUÂN HỒI KHÔNG PHẢI LÀ CÁI G̀, và ở đây ta không cần lập lại lời giải thích đó nữa.

2. Sự Gia tăng Dân số. Người ta thường thắc mắc nếu số Chơn nhơn là một con số cố định th́ phải giả thích ra sao việc gia tăng dân số? Sự gia tăng dân số hoàn toàn ăn khớp với sự gia tăng số lượng Chơn ngă đang nhập thế xét v́ số lượng này có tỉ lệ nhỏ so với tổng số Chơn ngă không nhập thế. Xin rút gọn lời giải đáp này thành một dạng cụ thể hơn: Chẳng hạn như nếu có ba ngàn Chơn ngă cần phải nhập thế; có một trăm Chơn ngă đang nhập thế rồi, c̣n lại hai ngàn chín trăm Chơn ngă không nhập thế; một thời kỳ một ngàn năm trăm năm trôi qua trước khi một trăm Chơn ngă đầu tiên nhập thế trở lại và cũng như thế đối với cũng một trăm Chơn ngă kế tiếp. Chỉ cần rút ngắn một chút thời kỳ không nhập thế của một số Chơn ngă th́ cũng gia tăng rất nhiều số Chơn ngă đang nhập thế. Những người nào nêu lên sự phản đối này thường coi như đương nhiên là tỉ lệ Chơn ngă không nhập thế so với Chơn ngă đang nhập thế vào khoảng 50% và 50% trong khi số Chơn ngă không nhập thế lớn hơn nhiều so với số Chơn ngă đang nhập thế. Bầu hành tinh chỉ là một sảnh đường nhỏ trong một thị trấn lớn thu hút thính giả bước vào đó nghe từ tất cả dân số của thị trấn. Có thể là có lúc nó bị trống rỗng hết một nửa và có lúc th́ đặc nghẹt người nhưng chuyện đó không làm thay đổi ǵ tổng số dân của thị trấn. Cũng vậy hành tinh nhỏ bé của ta có thể dân cư thưa thớt hoặc bị nạn nhân măn, nhưng số lớn Chơn ngă mà nó thu hút được để cho dân số của nó lên đến mức nhân măn thực ra vẫn hầu như không cạn kiệt.

3. Luân hồi lờ đi Luật Di Truyền. Ngược lại, nó c̣n áp đặt Luật Di Truyền trên cơi trần nữa. Nó thừa nhận rằng khi cung cấp vật liệu thể chất, có thể nói là cha mẹ đóng dấu ấn của riêng ḿnh lên vật liệu đó sao cho các phân tử được xây dựng vào cơ thể đứa trẻ mang theo thói quen rung động một cách nhất định và ḥa hợp với nhau theo kiểu đặc thù. Do đó mới truyền được các bệnh di truyền, mới truyền được những tật nho nhỏ về tác phong, thói quen, cử chỉ v.v. . . Kẻ phản đối ắt tiếp tục: “Nhưng đâu phải chỉ có thế. Những sự giống nhau về trí tuệ cũng được truyền thừa, các đặc tính về trí tuệ cũng như về thể chất”. Điều này đúng trong một phạm vi nào đó nhưng không vượt quá mức được coi là đương nhiên bởi những kẻ nào muốn giải thích mọi chuyện qua sự vận hành của một định luật đơn nhất. Cha mẹ đóng góp các nguyên tử của thể phách cũng như của thể xác và cả những yếu tố dục vọng nữa – nhất là của người mẹ - và những thứ này tác động lên các phân tử của bộ óc cũng như các phân tử của phần c̣n lại trong cơ thể, do đó khiến cho nơi đứa trẻ tái xuất hiện những đặc trưng sinh lực và đam mê của cha mẹ, làm biến đổi sự biểu lộ của Chủ thể Suy tư, Manas tức Chơn ngă luân hồi. Thuyết luân hồi công nhận mọi cách thức ảnh hưởng này của cha mẹ đối với con cái, nhưng trong khi chấp nhận những thứ đó đến mức tối đa th́ nó đâu có bỏ qua mọi tác động độc lập vẫn là bằng chứng tồn tại nổi bật không kém so với ảnh hưởng của cha mẹ đối với Tứ Nguyên Hạ; và như vậy Thông Thiên Học giải thích trọn vẹn được những điều khác nhau và những điều giống nhau trong khi di truyền chỉ giải thích có một phần theo biểu kiến; nhấn mạnh tới những điều giống nhau và lờ đi những sự khác nhau.

4. Đối với lời phê b́nh vừa qua th́ người ta trả lời rằng sự phản phục cũng đủ giải thích được sự khác nhau, người ta giải thích thiên tài qua sự phản phục cũng như giải thích mọi loại h́nh khác hẳn tổ phụ trực hệ. Nhưng nếu thiên tài là một trường hợp phản phục th́ chúng ta cũng phải nhận ra được vị tổ tiên được phú cho thiên tài ấy v́ nó phải làm nổi bật lên người có thiên tài so với đám đông. Cho dù khoảng cách thời gian có dài đến đâu đi nữa th́ thiên tài cũng chỉ xuất hiện được trong những gia đ́nh mà nó biểu lộ rồi. Nếu Shakespeare là một ví dụ về sự phản phục (cách thế di truyền) th́ ông phản phục của ai? Chính sự kiện một thiên tài đột nhiên làm rạng rỡ thanh danh cho một gia đ́nh từ trước đến nay vốn vô danh tiểu tốt cũng bác bỏ cái giả thuyết về phản phục rồi v́ bản thân sự vô danh tiểu tốt bảo đảm là không có thiên tài. Người ta cũng có thể nhận xét rằng khi một đứa con hư sinh ra trong một gia đ́nh nề nếp th́ người ta gán cho nó là phản phục, lời giải thích này chỉ thuần là phỏng đoán chứ không có một chút xíu bằng chứng nào ủng hộ nó. Nếu người ta xác lập thiên tài là sự phản phục th́ bằng cách tương tự ta cũng có thể lập luận như vậy trong những trường hợp khác; nhưng khi giả định ấy ngược lại lời giải thích trong trường hợp mà ta có thể dễ dàng kiểm chứng được nó có đúng hay không, th́ ta đă ít chú ư tới nó trong những trường hợp mà hầu như tất nhiên là ta không thể kiểm chứng được.

5. Việc một đứa con hư xuất hiện trong một gia đ́nh nề nếp và một đứa con ngoan xuất hiện trong một gia đ́nh bê bối, điều đó ngược lại với thuyết cho rằng Chơn ngă bị thu hút về phía những người nào có thể cung cấp cho nó một cơ thể và môi trường thích hợp. Thoạt nh́n th́ lời phản đối này dường như là xác đáng, nhưng nó lại bỏ qua vấn đề rất quan trọng là những mối liên hệ nghiệp quả. Triết lư Bí truyền dạy rằng số phận tương lai của các Chơn ngă quấn quít với nhau do những mối quan hệ mà chúng ta lập nên trong bất kỳ cuộc sống nào trên trần thế. Yêu và ghét, phục vụ và làm hại, đồng chí hướng cả về mặt tốt lẫn mặt xấu, tất cả đều có khuynh hướng thu hút các Chơn ngă tụ tập lại với nhau trong cuộc sống trên cơi trần v́ chúng phải cùng nhau thanh toán những hậu quả mà chúng đă cùng nhau gây ra. V́ thế trên cơi này mới có sự thù ghét thiếu tự nhiên gây choáng váng mà ta thấy đôi khi tồn tại giữa cha mẹ và con cái, anh chị em với nhau – những sự thù ghét này không thể giải thích được v́ chúng mang đầy ác ư, có những đặc tính kỳ quặc, mua thù chuốc oán mà một số người không nhớ được nhưng rơ ràng là điều sai trái đó vẫn cứ ám ảnh khống chế. Cũng v́ thế cho nên có những sự ràng buộc không chia cách được nối kết các tâm hồn lại với nhau mặc dù ngh́n trùng xa cách rất nhiều về thời gian, những mối liên kết với sức mạnh không có nguyên nhân trong kiếp này ắt vạch ra một sự khởi đầu vượt ngoài cánh cổng của sự chào đời.

 

đầu trang  phần 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 cuối trang mục lục

LỜI CUỐI CÙNG

 

Và đến đây ta phải kết thúc phần bàn luận bất toàn về một đề tài quá rộng lớn và quá sâu sắc đối với một văn tài kém cỏi như tôi. Sự phác họa này chẳng qua chỉ được coi là việc sơ bộ dẫn nhập vào chuyện một trong những vấn đề trọng đại nhất của kiếp người, biết đâu đó là việc nghiên cứu có tầm quan trọng sống c̣n hơn cho giai đoạn văn minh hiện nay của ta hơn hẳn bất cứ việc nghiên cứu nào mà tâm trí con người có thể đảm đương được. Cả cuộc đời sẽ thay đổi dung mạo khi sự luân hồi trở thành một niềm tin chắc chắn thâm căn cố đế vượt ngoài sự lập luận, vươn lên trên mọi sự bàn căi. Mỗi ngày trong cuộc đời chỉ là một trang trong vở tuồng vĩ đại của kiếp sống, mỗi nỗi phiền muộn chỉ là một bóng râm thoáng qua do đám mây đi ngang che khuất; mỗi niềm vui chỉ là một tia nắng chớp lóe phản chiếu ra từ một cái gương xoay tít; mỗi lần chết đi chỉ là việc dọn nhà ra khỏi một căn nhà xuống cấp. Sức mạnh của một tuổi trẻ vĩnh hằng bắt đầu từ từ xâm nhập vào cuộc sống đang khơi hoạt lên; sự b́nh tĩnh của một ḷng thanh thản mênh mang ấp ủ những đợt sóng nhồi trong tư tưởng con người đang vật vă; sự vinh quang chói lọi của trí Thông tuệ bất tử xuyên suốt đám mây vật chất nặng nề đen tối và sự An b́nh bất diệt mà không điều ǵ quấy rầy được tỏa chiếu sự trắng tinh thuần khiết lên cho tinh thần chiến thắng. Hết đỉnh cao tâm linh này tới đỉnh cao tâm linh khác, nâng bước họ lên đến tột đỉnh mây xanh vô hạn, đưa họ leo lên bầu trời vô biên và làm mờ đi khoảng cách bao la vây quanh Tương lai, thênh thang và không thể tưởng tượng nổi ngay cả đối với tinh thần nơi chính con người. Thế rồi bị “lóa mắt đi v́ ánh sáng chói lọi”, được cuốn trong một nỗi niềm hi vọng quá sâu sắc đến mức chẳng thể biết được niềm vui, quá chắc chắn đến mức chẳng thể cho là khải hoàn, quá rộng lớn đến mức chẳng thể thốt nên lời, con Người nhập vào Toàn thức mà tâm thức ta thật là vô nghĩa cho tới khi Thời gain Vĩnh hằng lại xao xuyến với lời hiệu triệu: HĂY XUẤT HÀNH V̀ NGÀY CỦA BRAHMA ĐANG LÓ DẠNG VÀ BÁNH XE MỚI LẠI BẮT ĐẦU QUAY!

 

VẠN VẬT THÁI B̀NH

đầu trang  phần 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 cuối trang mục lục


[1] Josephus, Antig., xviii. i, tiết 3 có nói kẻ đạo đức “sẽ có quyền phục sinh và sống trở lại”.

[2] Zohar, ii, xấp thứ 99, phần tiếp theo được trích dẫn trong quyển Qabbalah của Myer, trang 198.

[3] Trích dẫn trong Qabbalah của Myer, trang 198.

[4] Thư gửi cho Anastasius do E. D. Walker trích dẫn trong quyển Luân Hồi: Nghiên cứu về một Sự Thật bị lăng quên.

[5] E. D. Walker, sách đă dẫn trang 65 – 66.

[6] Theo bản dịch của Annie Besant, bài Thuyết pháp ii, 18-25.

[7] Trang 63.

[8] Giáo Lư Bí Truyền, III, 168-179, ấn bản 1962.

[9] Bảy Nguyên khí của Con người, tác giả Annie Besant, trang 60.

[10] Như trên, trang 68. Mối quan hệ giữa ba Nguyên Khí Cao đă được giải thích rơ ràng trong quyển sách nhỏ này, nó đă xuất hiện thoạt đầu trong tạp chí Lucifer dưới dạng một loạt các bài báo mà ta giả sử rằng những người đọc quyển Cẩm nang hiện nay đều đă nghiên cứu tới nó.

[11] Xem phần trước.

[12] Cơi này thường được gọi là cơi thứ ba v́ bắt đầu đếm từ Atma là cơi thứ nhất th́ nó là cơi thứ ba. Nó được gọi bằng con số nào th́ không quan trọng nếu học viên hiểu cho rằng nó có quan hệ với phần c̣n lại như thế nào.

[13] Giáo Lư Bí Truyền, I, trang 333, ấn bản 1962.

[14] Thế Giới Huyền Bí, trang 88, ấn bản lần thứ năm.

[15] Lời của một Chơn sư trong quyển Thế Giới Huyền Bí, trang 90.

[16] Giáo Lư Bí Truyền, III, trang 318, ấn bản 1962.

[17] Trích dẫn theo Tuyển tập Kinh điển Thiêng liêng của Moncure D. Conway, trang 233.

[18] Tiếng Nói Vô Thinh, trang 283, 285, 289, 290, 293, 370-310.

[19] Giáo Lư Bí Truyền, I, trang 82, ấn bản 1962.

 

[20] Như trên, III, trang 183, ấn bản 1962.

[21] Giáo Lư Bí Truyền, III, trang 168, ấn bản 1962.

[22] Bài thuyết pháp số xviii, 49.

[23] Bản dịch của W.W.Rockhill, trang 10.

[24] Bản dịch của W.W.Rockhill, trang 15.

[25] Chương xxiv, trang 351-353.

[26] Chương xi trang 153-154.

[27] Tiếng Nói Vô Thinh, trang 67.

[28] Tiếng Nói Vô Thinh, trang 31.

[29] Như trên.

[30] Ch́a khóa Thông Thiên Học, trang 139-141.

[31] Ch́a khóa Thông Thiên Học, trang 156.

[32] Ch́a khóa Thông Thiên Học, trang 141-142.

[33] Ch́a Khóa Thông Thiên Học, trang 155.

[34] Ta không bao giờ được quên rằng địa vị và của cải ở thế gian v. v. . . không ăn khớp với môi trường tốt và xấu xung quanh. Trong trường hợp cực đoan đầu tiên mà bản văn có phác họa, môi trường xung quanh rơ rệt là xấu, nhưng trong trường hợp thứ nh́ môi trường xung quanh của Chơn ngă cũng có thể đầy những rắc rối tục lụy chỉ v́ y phải có quyền được cơ hội tăng trưởng.

 HOME  sách   TIỂU SỬ    BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN    BÀI VỞ   THƠ   gifts   TẾT 2006  BOOKS  MAGAZINES